CÂU 1: Đồng chí hãy phân tích: Nguồn gốc hình thành tư tưởng
HCM, làm rõ mối quan hệ giữa các nguồn gốc đó và khẳng định
nhân tố có vai trò quan trọng nhất.
(Truyền thống dân tộc - Tinh hoa văn hóa nhân loại - Chủ nghĩa
Mác-Lênin - Chủ quan của Hồ Chí Minh).
Bài làm
Chủ tịch HCM - vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới,
điều đó đã được dân tộc VN và cả nhân loại ngày nay thừa nhận. Với
thiên tài trí tuệ của mình, với lòng yêu nước nồng nàn và thương dân sâu
sắc, Bác - từ một con người giản dị bình thường đã trở thành nhà tư
tưởng vĩ đại, một nhà lý luận thiên tài của cách mạng VN. Người là sự kết
tinh những giá trị tinh hoa nhất của văn hóa dân tộc và của nhân loại, là
bước phát triển mới của CN Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của VN. Tư
tưởng ấy có giá trị vô cùng to lớn, định hướng cho CM VN trong hơn nữa
thế kỷ qua, góp phần thúc đẩy tiến trình văn minh, tiến bộ của nhân loại.
Hiện nay tư tưởng HCM đang tiếp tục soi đường cho CM nước ta trong
sự nghiệp đổi mới, cương lĩnh của Đảng ta năm 1991 đã xác định:” Đảng
lấy CN Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động”. Đây là kết luận rút ra từ kết quả tổng kết sâu sắc thực
tiễn lịch sử Đảng ta và CM VN từ khi có Đảng lớn Hội nghị TW 6 (lần 2)
khóa 8 khi bàn về quyết định những nhiệm vụ cơ bản và cấp bách trong
công tác xây dựng Đảng, một lần nữa khẳng định quan điểm có tính
nguyên tắc của Đảng là:” Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HCM là nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng”.
Tư tưởng HCM là sản phẩm của sự kết hợp sáng tạo CN Mác-
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là lý luận
chiến lược CM d.tộc, dân chủ nhân dân tiến lên CNXH, là khoa học
về quy luật phát triển xã hội thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế chưa
phát triển, là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân VN
trong thời đại mới. Hay có thể nói đó là một hệ thống những luận
hợp lực lượng chống lại thực dân Pháp, khởi nghĩa nổ ra khắp nơi
như Ba Đình, Bãi Sậy, phong trào Đông kinh nghĩa thục với các tên
tuổi của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan
Chu trình…khởi nghĩa. Ở Thái Nguyên, Yên Bái. Chủ nghĩa y6eu
nước, truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường đã thúc giục
những con người ưu tú, trong đó có Nguyễn Tất Thành, quyết ra đi
tìm đường cứu nước, cứu dân. Đó cũng là tư tưởng, tình cảm chi
phối mọi suy nghĩ và hành động của HCM trong suốt cuộc đời. Người
nói:” Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta
được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
Nói về Chủ nghĩa Mác LêNin, HCM khẳng định:” đó là vũ khí tư
tưởng không gì thay thế được, nó là cẩm nang, là mặt trời soi sáng
ta đi tới CNXH, CNCS” với phép biện chứng duy vật đã giúp Bác có
được tư duy và phương pháp luận đúng đắn, nhờ đó Bác đã thành
công trong trong quá trình hoạt động CM, gần mười năm bôn ba qua
nhiều châu lục, khảo sát thực tiễn qua nhiều nước Tư bản và thuộc
địa, Bác đã sớm nhận thức được xu hướng của thời đại, từ một
người yêu nước, từ nhận thức hết sức nhạy bén, sáng tạo và trí tuệ
sáng suốt Bác đã gặp CN Mác-Lênin như một cuộc hẹn hò từ trước”
Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin đã soi sáng
và tạo ra những bước ngoặt phát triển tư tưởng của HCM, từ yêu
nước chưa có định hướng chuyển sang lập trường của CN M-Lê nin
và Người đã rút ra kết luận : ”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”.
Đó là cuộc CM dân chủ tư sản kiểu mới do Đảng tiên phong của giai
cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc phong kiến và tay
sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến
lên làm CM XHCN, xây dựng CNXH và CNCS Ở VN. Đó là đường lối
giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp CN yêu nước
nhớ:” Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi”. Nhờ vào sức lực trí
tuệ, vượt mọi gian khó mà Bác đã chiến thắng tất cả, ta thử tưởng tượng
trong hoàn cảnh hiện nay, lớp trẻ phải làm gì để học tập người thanh niên
ấy. Sống trong lòng CNTB, thực dân, với khả năng, tư chất thông minh,
Bác không màng, không tưởng tới bất cứ một điều gì cho mình, một mình
đến với CN M-Lê nin, tự ghiền nghiền ngẫm, so sánh, đối chiếu với thực
tiễn để chọn đó làm lý tưởng cho bản thân, cho d.tộc, bác quả là một
người vĩ đại- một con người mà:
Giàu sang không thể quyến rũ.
Nghĩa khí không thể chuyển lay.
Uy lực không thể khuất phục.
Kể cả khi trở thành người đứng đầu Đảng và nhà nước Bác vẫn là con
người hết sức dung dị, bình thản nhưng rất vĩ đại. Nhân dân ta gọi người
là Bác, cả đời người là của nước non. Cơ sở nội tại, nhân tố chủ quan
trong con người HCM là một trong những cơ sở hình thành tư tưởng của
Bác.
Như vậy, qua phân tích tư tưởng HCM, cùng với nguồn gốc nội tại, có
3 nguồn gốc cơ bản đó là: CN Mác-Lênin, chủ nghĩa yêu nước và truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại.
Trong các nguồn gốc hình thành nên tư tưởng HCM, chủ nghĩa yêu
nước là cơ sở ban đầu và động lực thúc đẩy Người tự giác đến với chủ
nghĩa Mác-Lênin, còn CN Mác-Lê nin đã nâng CN yêu nước lên một
bước phát triển mới về chất phù hợp với thời đại mới. CN Mác-Lê nin là
nguồn gốc trực tiếp và chủ yếu của tư tưởng HCM.
Tinh hoa văn hóa nhân loại đã giúp cho HCM hiểu sâu sắc hơn CN
Mác-Lê nin, làm phong phú bản sắc tư tưởng của Người, do kết hợp
được dân tộc với thời đại, phương Đông với phương Tây và nâng tầm
văn hóa chính trị của Người ngang tầm với thời đại. Tư duy HCM hình
thành là sự tổng hợp, chắt lọc tư duy độc lập qua trí tuệ và nhân cách lớn
của Người. Trên cơ sở một bản lĩnh chính trị kiên định và cốt cách văn
:
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là hạt nhân cốt lõi, là tư
tưởng trung tâm, xuyên suốt toàn bộ học thuyết tư tưởng HCM.
Tư tưởng yêu nước “không có gì quí hơn độc lập tự do” luôn
luôn đứng ở hàng đầu trong bản giá trị tinh thần VN, nhưng
trước Nguyễn Ái Quốc, HCM nó vẫn dừng lại ở chủ nghĩa yêu
nước truyền thống. Điểm khác biệt giữa HCM và các lãnh tụ yêu
nước tiền bối là ở chỗ người đã gặp được thời đại ta đã tìm thấy
con đường giải phóng dân tộc trong quĩ đạo cuộc CM vô sản. Vì
vậy ngay từ khi bắt gặp luận cương của Lê nin hình thành đường
lối cứu nước, giải phóng dân tộc, ở HCM đã có sự gắn bó thống
nhất giữa độc lập dân tộc và CNXH.
Tư tưởng HCM về con đường giải phóng dân tộc:
Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ 20, tư tưởng về con
đường giải phóng dân tộc ở HCM khẳng định trong một luận đề
nổi tiếng: “chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng
được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng chỉ có thể sự nghiệp của
CNCS và cuộc cách mạng thế giới”
Tư tưởng HCM về con đường giải phóng dân tộc là thực
hiện sự kết hợp hài hòa giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH. Nội dung
của thực thể này được HCM xây dựng thành một hệ thống luận
điểm dưới đây.
Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi
theo con đường cách mạng vô sản: thất bại của các phong
trào yêu nước cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là do chưa có đường
lối đúng, khi chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới,
Nguyễn Ái Quốc ví chủ nghĩa đế quốc là “con đỉa 2 vòi”, một vòi
bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa. Muốn đánh bại
phong trào CM ở thuộc địa.
Do nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống
của chủ nghĩa đế quốc do đánh giá đúng đắn sức mạnh của chủ
nghĩa y.nước và tinh thần D.tộc, ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái
Quốc đã khẳng định rằng CM thuộc địa không những không phụ
thuộc và CM vô sản ở chính quốc mà có thể và cần phải tiến
hành trước và bằng thắng lợi của mình, nó có thể giup đở những
người anh em mình ở Phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng
hoàn toàn.
Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn rất
to lớn, một cống hiến rất quan trọng vào khủng hoảng tàng lý
luận Mác - Lê nin.
Cách mạng giải phóng dân tộc phải được th.hiện bằng con
đường bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng và
lực lượng vũ trang của nhân dân. Hội nghị Ban chấp hành TW
Đảng lần thứ 8 tháng 5-1941dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc
đã đưa ra quyết định: cuộc CM Đông Dương kết liễu bằng mọi
cuộc khở nghĩa vũ trang mở đầu có thể là khở nghĩa từng phần
trong từng địa phương … mà mở đường cho cuộc tổng khở
nghĩa to lớn. Để chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang người đã
về nước chỉ đạo xây dựng căn cứ địa, đào tạo, huấn luyện cán
bộ, xây dựng các tổ chức chính trị của quần chúng, lập ra các đội
du kích vũ trang chủ động đón thời cơ, chóp thời cơ, phát động
tổng khởi nghĩa tháng 8 giành thắng lợi trong cả nước.
Thấu hiểu sâu sắc chính sách tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc là
chủ nghĩa đế quốc Pháp và từ những kết luận rút ra qua khảo
sát, nghiên cứu phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở một
số nước thuộc địa như: Aán Độ, HCM chỉ rõ: muốn giải phóng
dân tộc phải thực hiện con đường CM bạo lực. Năm 1947, nhân
dịp kỷ niệm ngày thành lập G.phóng quân VN. Người khẳng định:
thuộc địa.
Thắng lợi CM tháng 8 và cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp đã chứng minh hùng hồn tính khoa học đ.đắn, tính CM
s.tạo của tư tưởng HCM
Tư tưởng về D.tộc và CM G.phóng D.tộc là một nội dung lớn nổi
bật trong hệ thống tư tưởng HCM. Với tư tưởng này HCM chẳng
những đã đưa nước VN đến độc lập tự do, thống nhất trọn vẹn,
mà còn góp phần to lớn vào sự nghiệp G.phóng các D.tộc thuộc
địa và phụ thuộc trên thế giới. Với những đóng góp đó HCM đã
được nhân loại tôn vinh là anh hùng G.phóng D.tộc và nhà văn
hóa lớn.
CÂU 3
: Phân tích cơ sở để Hồ Chí Minh lựa chọn con
đường đi lên chủ nghĩa XH.
a)-
Cơ sở lý luận.
Vận dụng và quán triệt quan điểm duy vật về lịch sử của học
thuyết Mácxít. Hồ Chí Minh quan niệm lịch sử XH loài người là
một quá trình tự nhiên của sự thay thế lần lượt các phương thức
SX, Hồ Chí Minh nghiên cứu lý luận hình thái KT XH của chủ
nghĩa Mác - Lê nin , học thuyết này cho rằng sự phát triển của XH
loài người là sự thay thế nhau của các học thuyết KT XH. Chính vì
thế, XH TBCN nhất định sẽ được thay thế bằng XH CSCN ma giai
đoạn đầu của nó là chủ nghĩa XH. Sự thay thế này được thực
hiện nhờ hai tiền đề quan trọng là sự phát triển của lực lượng SX
và sự trưởng thành của giai cấp vô sản. Sự thay thế này là một
quá trình lịch sử tự nhiên.
XH loài người phát triển theo hướng đi lên với những hình thái
dân tộc Việt Nam có lòng vị tha nhân ái. Trong XH PK Việt Nam
cũng xuất hiện nhiều mầm mống tư tưởng XHCN: đề cao dân chủ,
lấy dân làm gốc (Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi …)
Việc đoàn kết xây dựng làng xóm, lối sống cộng đồng cũng nói
lên được nhân tố XHCN sớm hình thành trong con người Việt
Nam. Đồng thời như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh đã kế thừa có
chọn lọc những mặt tích cực của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo
như trọng hiền tài, đạo đức , văn hóa , mong muốn XH tốt `. Đây
cũng là những cơ sở hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đi
lên chủ nghĩa XH ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh là con người sống hòa nhập vào thực tiễn tệ luôn
luôn gắn bó lý luận với thực tiễn. Người sinh ra và lớn lên trong
XH PK nên có điều kiện, cơ hội nhìn thấy những bất công, áp bức
của giai cấp thống trị, bọn cường hào ác bá đối với quần chúng
nhân dân.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, giai cấp thống trị đã cấu
kết với thực dân Pháp áp bức nhân dân ta nặng nề hơn. Tại các
nước thuộc địa trong đó có VN, bọn thực dân áp dụng bóc lột , cai
trị dã man, tàn bạo để vơ vét tài nguyên, của cải quí giá đem về
chính quốc.
Chính từ đó đòi hỏi bức xúc cần phải giải phóng dân tộc thoát
khỏi xiềng xích thực dân, nảy sinh ý thức giác ngộ dân tộc, giác
ngộ giai cấp , chủ nghĩa XH, chủ nghĩa cộng sản với tư cách là
một chế độ XH có khả năng phá bỏ hoàn toàn mọi xiềng xích , nô
dịch.
Đánh giá về vị trí lịch sử và chức năng XH của các cuộc CM dân
chủ tư sản , Hồ Chí Minh cho rằng những cuộc CM ấy không triệt
để.
Trong quan niệm của HCM cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt
để của một cuộc CM không phải là những lý tưởng , khâu khẩu
tư tưởng về giải phóng dân tộc , giải phóng giai cấp , giải phóng
con người về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa XH. Tư
tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân
ta để giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân
tộc ta. Để giữ vững được mục tiêu chủ nghĩa XH cần phải xây
dựng , chỉnh đốn Đảng , nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng , đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà
nước , phát huy dân chủ , tăng cường Pháp chế.
Khắc phục những biểu hiện : chủ quan, nóng vội , duy ý chí. Tiếp
tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy
Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị nhằm tạo niềm tin trong
quần chúng nhân dân, bảo vệ vững chắc chế độ XHCN. Cần phải
kết hợp hài hòa giữa phát triển KT với thực hiện tiến bộ công
bằng XH , đảm bảo được định hướng XHCN. Cần kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại , nội lực với ngoại lực, phải
biết dựa vào nhân dân , vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực
tiễn, luôn luôn sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời
c
CÂU 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền.
(“Đảng ta là đạo đức, là văn minh, là độc lập dân tộc, là hòa bình và ấm
no”; Đảng ta là tiêu biểu cho trí tuệ dân tộc và thời đại; là lương tâm, đạo
đức của dân tộc; là ý chí của dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nh.dân
gắn bó với nhân dân.)
TRẢ LỜI:
Là người sáng lập, tổ chức và rèn luyện Đảng ta Hồ Chí Minh
đã quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng đảng. Trong những
di sản tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại, những luận
điểm của Người về xây dựng đảng là bộ phận cực kỳ quan trọng.
Những tư tưởng về đảng của Hồ Chí Minh hết sức phong phú,
quốc gia trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, quân
sự, ngoại giao, những vấn đề của cuộc kháng chiến kiến quốc,
của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, của cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Miền Bắc và sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống
nhất nước nhà. Trong đó vấn đề đảng cầm quyền bao giờ cũng
là trung tâm then chốt nhất được Người quan tâm chú ý. Hồ Chí
Minh quan niệm đảng cầm quyền là đảng tiếp tục lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng trong điều kiện đảng đã lãnh đạo quần chúng
nhân dân giành được quyền lực nhà nước và đảng trực tiếp lãnh
đạo bộ máy nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Chức năng quan trọng nhất, cốt lõi nhất của một đảng cầm
quyền là đảng phải lãnh đạo được chính quyền nhà nước. Bảo
đảm cho nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Nhà
nước này thực sự mang bản chất giai cấp công nhân. Bộ máy
công chức nhà nước thực sự là công bộc của dân. Đảng lãnh
đạo chính quyền bằng chính sách và đường lối, chủ trương,
bằng việc bố trí cán bộ, bằng việc kiểm tra giám sát quá trình
thực hiện đường lối đó của nhà nước. Bên cạnh đó đảng phải
lãnh đạo được các tổ chức chính trị xã hội, đồng thời đảng cầm
quyền phải giữ được mối quan hệ chặt chẽ với nhân dân, đảng
phải thật sự gắn bó máu thịt với nhân dân vì cơ sở xã hội của
đảng là liên minh công nhân-nông dân và tầng lớp trí thức.
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn của một đảng
cầm quyền trước hết là đảng phải có lý luận tiên tiến, cách mạng
và khoa học. Người cho rằng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ
nghĩa nòng cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo
chủ nghĩa ấy”. Người khẳng định “Đảng mà không có chủ nghĩa
cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”,
“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa
Đồng thời với quan điểm về cán bộ, Hồ Chí Minh còn quan tâm
đến công tác cán bộ của đảng, quan tâm xây dựng đội ngũ cán
bộ làm công tác tổ chức cán bộ. Người yêu cầu “Phải hiểu và
đánh giá đúng cán bộ” the những chuẩn mực phù hợp với từng
thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh vực, hoàn toàn công minh,
khách quan. Cán bộ phải được đào tạo từ gốc, đào tạo từ
chuyên môn lẫn lý luận. Việc sử dụng cán bộ theo Hồ Chí Minh
phải “Khéo dùng cán bộ”. Tức là đặt đúng người đúng việc và có
kiểm tra, giúp đỡ thường xuyên để cán bộ đó hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
Hồ Chí Minh luôn luôn lưu ý vấn đề tăng cường mối quan hệ
giữa đảng với nhân dân. Người cho rằng phải luôn luôn học hỏi
nhân dân, vận động nhân dân tham gia xây dựng đảng. Phải có
trách nhiệm nâng cao dân trí, phải là người lãnh đạo và là người
đầy tớ trung thành của nhân dân, đồng thời cũng không được
theo đuôi quần chúng.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta
hiện nay, những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng đảng
cầm quyền được đảng ta vận dụng và xem là vấn đề then chốt
trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Trước mắt là thực hiện tốt
nghị quyết VI hội nghị BCH trung ương đảng lần 2 khóa VIII về
một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng đảng
hiện nay trên cả ba lĩnh vực: nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo
đức lối sống của cán bộ đảng viên và một số vấn đề tổ chức. Về
nhận thức, tư tưởng chính trị phải kiên định mục tiêu xã hội chủ
nghĩa, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng, không ngừng củng
cố niềm tin, lý tưởng cho cán bộ đảng viên và nhân dân. Đảng
phải đề ra đường lối đúng đắn, sáng suốt, sát hợp với tình hình
đất nước và xu thế của thế giới. Về tổ chức: Đảng củng cố sắp
thống P.luật hoàn chỉnh, tiến bộ; có đội ngũ cán bộ, công chức )
1/ Cơ sở hình thành.
Thuở thiếu thời HCM đã tận mắt chứng kiến thực trạng của bộ
máy nhà nước thực dân phong kiến Ở nước ta, đó là một kiểu nhà
nước không thể chấp nhận được. Người nhận thức nhà nước PK
tuy có thời đã có pháp luật, nhưng quyền hành lại tập trung vào tay
nhà vừa, do vậy, thời PK nhà nước là sự thống trị của chế độ độc
tài chuyên chế. Trong xã hội thực dân PK, sự cai trị của NN theo
kiểu chuyên chế, không có luật pháp dân chủ mà theo kiểu toàn
quyền do Pháp đặt ra cho chế độ thuộc địa Ở Đông Dương, cai trị
bằng lệnh, mang dấu ấn cá nhân chứ không thực hiện chế độ ra
các đạo luật thể hiện nhân quyền, bảo đảm về mặt pháp luật.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, HCM đã bắt gặp ánh sáng
chân lý của CN Mác-Lênin. Từ những lý luận của CN Mác-Lênin về
vấn đề nhà nước của GCCN, của đại đa số quần chúng nhân dân
lao động. HCM đã rút ra những quan điểm cơ bản để hình thành tư
tưởng của mình và sau này trở thành đường lối của ĐCSVN là bộ
máy N.nước và pháp luật của CM phải xuất phát từ lợi ích của
dân, do dân và vì dân. Khi giành được chính quyền phải chăm lo
giữ chính quyền, có được chính quyền phải xây dựng nhà nước
của dân, do dân, vì dân, tức là nhà nước phải thuộc về số đông
mới tồn tại được.
Qua theo dõi phát triển cách mạng thế giới, HCM đã rút ra tư
tưởng của mình về vấn đề nhà nước.
Công xã Pari ( 1871 ) thất bại là do tổ chức nhà nước không có
người dân và ít trí thức tham gia, không tạo được sức mạnh toàn
dân.
Các cuộc CMTS Pháp (1789), Mỹ (1776), Anh (1664), Trung
Quốc (1911)… có tiến bộ ( tự do, bình đẳng, bác ái ) nhưng thực
sự là mang tiếng mị dân, chính quyền không thuộc về nhân dân mà
nhiều lần khẳng định: Đảng ta là một đảng cầm quyền, nguyên tắc
Đảng lãnh đạo nhà nước không bao giờ coi nhẹ. Nhà nước ta đại
diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt đảng phái,
tôn giáo, giàu nghèo, gái trai… Người xác định cái cột lõi: Liên
minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân với tầng lớp trí thức do
GCCN lãnh đạo. Người cũng rất chú ý đến nguyên tắc tập trung
dân chủ. Trong tổ chức và quản lý nhà nước phải thể hiện sự
thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công, phân cấp rõ ràng.
Xây dựng một nhà nước của dân, do nhân dân lao động làm chủ
là điểm cơ bản nhất trong tư tưởng HCM về xây dựng NN. Thực tế
cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 và sau đó quốc hội chính th71c
tổ chức ra bộ máy NN đã thể hiện rõ TT HCM về NN, huy động
toàn thể nhân dân tham gia công việc quản lý NN, nhân dân đóng
vai trò làm chủ NN. Thiết lập quyền bính của nhân dân trong xây
dựng NN, mối liên hệ về trách nhiệm giữa đại biểu quốc hội đối với
cử tri.
Nhà nước là cơ quan quyền lực của nhân dân lao động, nhà
nước phải vì dân, vì lợi ích chính đáng của nhân dân, mọi hoạt
động của NN đều phải hướng tới phục vụ nhân dân. Người chỉ rõ:
Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải
hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta,
kính ta”. NN phải lo cho dân có ăn, có mặc, có chỗ Ở, được học
hành.
NN chú ý vai trò chuyên chính, vì muốn có dân chủ thực sự phải
chuyên chính thực sự, muốn chuyên chính thực sự phải thực sự
dân chủ với nhân dân.
Không ngừng củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo đội
ngũ công chức theo yêu cầu chuẩn hóa. Người cán bộ công chức
phải vừa có đức vừa có tài, phải liên hệ mật thiết với dân, dám
quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, trung thực và luôn có chí tiến
NN kiểu mới Ở Việt Nam phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
Điều này đã trở thành một nguyên tắc trong xây dựng NN mà HCM
luôn nhấn mạnh. Vì Đảng và NN đều có một mục tiêu chung là bảo
đảm nền độc lập và đi lên CNXH.
Đảng lãnh đạo NN phải thông qua một hệ thống giải pháp, đề ra
cương lĩnh đường lối để NN thực hiện. Bố trí nhân sự cán bộ phải
đúng. Nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên thông
qua việc kiểm tra giám sát. Đồng thời phải luôn rà soát, khắc phục
những hiện tượng cồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ về
tổ chức bộ máy NN, về chính sách pháp luật, kịp thời tìm giải pháp
khắc phục.
Tư tưởng HCM về xây dựng NN trên cơ sở hiến pháp và pháp
luật là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống yêu nước của dân tộc
với lý luận về NN của CN Mác-Lênin bằng nhân sinh quan của
HCM. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, Người đã nêu lên
quan điểm về NN của CMVN là NN của dân, do dân, vì dân. NN
thật sự dân chủ, do nhân dân LĐ làm chủ trên cơ sở hiến pháp và
pháp luật, đồng thời NN phải thể hiện được bản chất của GCCN,
do ĐCS lãnh đạo, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, mọi
hoạt động của NN đều vì lợi ích chính đáng của nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay tư tưởng HCM được Đảng và NN ta
vận dụng trong việc xây dựng NN pháp quyền XHCN dưới sự lãnh
đạo của Đảng được thể hiện bằng những vấn đề sau:
1/ Tiếp tục kiện toàn củng cố tăng cường hệ thống bộ máy và
chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức. Kiện toàn tổ chức, đổi mới
phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của quốc hội, tăng
cường công tác lập hiến, hoàn thiện hệ thống pháp luật, sửa đổi,
bổ sung hiến pháp 1992 phù hợp với tình hình mới. Trong công tác
hành pháp, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, định
rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức NN,
đất nước, như ĐH IX của Đảng đã khẳng định:” NN ta là công cụ
chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của dân,do dân, vì dân.
Quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa
các cơ quan NN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. NN quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan,
tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành
hiến pháp và pháp luật./.
CÂU 6: Tư tưởng HCM về đại đoàn kết (cơ sở của việc xác định
khối đại đoàn kết; nguyên tắc, phương pháp xây dựng khối đại đoàn
kết).
Bài làm
Tư tưởng ĐĐK HCM là một hệ thống những luận điểm, những
nguyên tắc, những phương pháp giáo dục và tập hợp tổ chức lực
lượng cách mạng, nhằm phát huy với mức cao nhất sức mạnh của
dân tộc và sức mạnh của thời đại vào sự nghiệp đấu tranh vì độc
lập dân tộc và CNXH.
Đoàn kết là truyền thống quí báu, là sức mạnh vô địch của dân
tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, tư tưởng ĐĐK
HCM là nội dung xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ hệ thống
tư tưởng HCM nói chung và là cơ sở cho chiến lược của Đảng ta,
nhờ đó mà đã dẫn tới những thành công của cách mạng Việt Nam
trong cách mạng dân tộc dân chủ và XHCN.
Tư tưởng ĐĐK HCM được hình thành trên cơ sở truyền thống
đoàn kết, nhân ái, tình cảm trong lối sống tự nhiên và triết lý nhân
sinh của người Việt Nam. Đoàn kết dựa vào dân là tư duy chính trị
và là kế sách giữ nước của ông cha ta (biểu hiện trong thơ các văn
học), và HCM đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng văn hóa của
phương đông có giá trị hợp lý như: tư tưởng nhân ái, tư tưởng đại
đồng, tinh thần từ bi bác ái và những trào lưu dân chủ tư sản
phương tây về tư tưởng tự do bình đẳng, bác ái. Mặt khác HCM
Trinh, Phan Bội Châu…), có tinh thần phấn đấu vươn lên không
ngừng trong học tập. Trong nắm bắt tri thức của Người, HCM có
bản chất nhân văn, đạo đức trong sáng, lòng rộng lượng bao dung,
lo cho dân, lo cho nước, yêu thương con người và có sức thu hút
rất lớn với mọi người, thu hút được sức mạnh ĐĐK.
Tư tưởng ĐĐK HCM định hướng cho việc xây dựng củng cố, mở
rộng, tăng cường lực lượng cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh
nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng XH, giải phóng con người.
Đoàn kết là truyền thống quí báu của dân tộc ta, đã được HCM
nâng lên tầm cao mới “Đoàn kết, ĐĐK, thành công đại thành công”,
ở đây muốn nói lên phạm vi và đối tượng ĐĐK rất rộng, nhiều tầng,
nhiều lớp.
Đối với Đảng, thì việc đoàn kết trong Đảng là nhân tố hạt nhân
của mọi sự đoàn kết, vì Đảng là người lãnh đạo toàn diện, chỉ có
đoàn kết nhất trí cao trong Đảng thì mới có thể tập hợp đoàn kết
các tầng lớp khác. Đây là một quan điểm luôn được HCM quan
tâm và đã khắc ghi trong di chúc thiêng liêng của Người “Đoàn kết
là cực kỳ quí báu của Đảng ta. Các đồng chí từ TW đến cơ sở phải
giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của
mắt mình”.
Đoàn kết trong nước (toàn dân) là nhân tố quyết định thắng lợi
của cách mạng, đoàn kết toàn dân là đoàn kết tất cả những người
Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, đảng phái,
lứa tuổi… thể hiện trong đường lối tập hợp lực lượng, xác định lực
lượng cách mạng rất rộng rãi, bao gồm không chỉ nhân dân, công
nhân, nông dân mà còn cả tiểu tư sản, trí thức, trung nông, phú
nông, trung địa chủ, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc được biểu hiện
thông qua lời kêu gọi toàn dân (đặc biệt là lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến).
Tư tưởng đoàn kết quốc tế được HCM rất coi trọng, mặc dù yếu
hướng chính trị rõ rệt và có tổ chức chặt chẽ, tổ chức cao nhất là
mặt trận dân tộc thống nhất có sự lãnh đạo của Đảng CS Việt
Nam, nó vừa là vấn đề lâu dài và chiến lược, nhưng cũng không
được tuyệt đối hóa vai trò liên minh và mặt trận.
Tư tưởng ĐĐK HCM được xây dựng trên các ph.pháp cụ thể
sau:
Phương pháp tuyên truyền giáo dục và vận động quần chúng:
yêu cầu phương pháp này là nội dung, cách thức tuyên truyền,
giáo dục và vận động quần chúng phải thật sự khoa học nhằm mục
đích làm cho mọi người tự nhận thức được sự cần thiết phải tập
hợp lại, đoàn kết lại để tự giác tham gia gánh vác công việc của
cách mạng. Vì muốn cho dân làm cách mạng phải cho dân hiểu,
dân tin và vận động quần chúng thì phải nói đi, nói lại nhiều lần.
Nội dung tuyên truyền phải cụ thể hóa đường lối chính sách của
Đảng và của Nhà nước thành những mục tiêu chính trị cụ thể để
đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, nội dung phải sát hợp đối
tượng nhằm đánh vào tâm lý thói quen, công việc tuyên truyền
phải thích hợp, cách nói và cách viết phải cụ thể làm cho nhân dân
dễ hiểu.
Phương pháp XD và kiện toàn hệ thống chính trị tức là xây dựng
mặt trận dân tộc thống nhất từ thấp đến cao phù hợp với trình độ
của quần chúng nhân dân. Mặt trận là tổ chức rộng rãi liên quan
đến việc tập hợp, đoàn kết dân tộc. Do vậy mặt trận dân tộc càng
rộng rãi, chặt chẽ, thống nhất bao nhiêu thì khối ĐĐK mạnh mẽ và
bền chặt bấy nhiêu, mặt trận và các đoàn thể phải có cương lĩnh,
có ch.trình hành động rõ ràng đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng
của nh.dân, cán bộ đoàn thể phải gương mẫu, phải yêu dân, tin
dân, học hỏi nhân dân và kính trọng nhân dân.
Phương pháp kế hoạch đồng bộ các giải pháp ứng xử nhằm mở
rộng tối đa lực lượng cách mạng và thu hẹp tối đa lực lượng đối
mục tiêu giữ vững độc lập , thống nhất , vì dân giàu, nước mạnh,
XH công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng
những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc ,
xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, hướng tới
tương lai. Khối ĐĐK toàn dân trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam
luôn luôn được củng cố và phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh
vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức.
Xây dựng khối ĐĐK toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ
trong đời sống XH dưới sự lãnh đạo của d. Thực hiện dân chủ trên
các lĩnh vực chính trị, KT, văn hóa, XH ở tất cả các cấp các
ngành.”(VK NQĐH IX – trang 123,124).
Hiện nay, chúng ta đang đứng trước những vận hội mới đồng
thời cũng có những thách thức mới. Những vận hội và thách thức
đó tác động hàng ngày hàng giờ đến khối ĐĐK dân tộc. Để tiến lên
chúng ta chỉ có con đường là phải kiên trì, vững vàng, quán triệt và
thực hiện tư tưởng ĐĐK HCM , đồng thời chúng ta cũng phải đổi
mới, phát triển những nội dung , phương pháp ĐĐK HCM cho phù
hợp với sự vận động , biến đổi của đời sống KT XH trong nước và
thế giới. Kế thừa, phát triển tư tưởng ĐĐK HCM trong sự nghiệp
đổi mới đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc toàn diện tất cả các