Tài liệu ôn thi môn tư tưởng Hồ Chí Minh - Pdf 18

Câu 1: Nguồn gốc hình thành tư tưởng HCM
Bài Làm
ĐH Đảng lần IX khẳng định : “tư tưởng HCM là một hệ thống qua điểm
toàn diện và sâu sắc ề những vấn đề cơ bản của CM VN, là kết quả sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chũ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước
ta, kế thưà và phát triển các giá trị truyển thống tốt ẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa VH nhân loại” và “tư tưởng HCM soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân ta
giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”
Nghị quyết 09 Bộ Chính trị (khoá VII) viết:”Chủ tịch HCM đã sớm nắm
bắt sâu sắc bản chất CM và KH tinh thành biện chứng và nhân đạo của học
thuyết Mác-Lênin, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết ấy phù hợp với hoàn
cảnh thực tế nước ta; đồng thời Người đã kế thừa phát huy chủ nghĩa yêu nước
truyền thống thống đẹp của dân tộc và tinh hoa của nhân loại. Tư tưởng HCM
được hình thành từ những nguồn gốc đó “
Tư tưởng HCM là sự kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc VN mà đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước
Truyền thống yêu nước ý chí độc lập tự cường là chuẩn mực cao nhất,
đứng đầu bản giá trị VH tinh thần VN. Mọi học thuyết đạo đức tôn giáo du nhập
vào VN đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó.
Tại ĐH II (1951) của Đảng Chủ tịch HCM nói:”dân ta có một lòng nồn nàng yêu
nước. Đó là truyền thống quy báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm
lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to
ớn nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và
cướp nước.”
Các dân tộc đều có lòng yêu nước. Song truyền thống yêu nước VN có
những nét đặc sắc:một là tinh thần độc lập tự chủ, anh dũng bất khuất trong đấu
tranh dựng nước và giử nước hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới ở vào
hoàn cảnh lịch sử phải đấu tranh trường kỳ như thế, gay go quyết liệt như thế để
chống ngoại xâm, để bảo vệ độc lập tự do bản sắc và phẩm giá dân tộc như dân
tộc VN. Hai là giàu tính cộng đồng, tính nhân dân, tính nhân bản trong tư tưởng
tình cảm yêu nước VN ngay thời phong kiến nước chủ yếu không phải là Vua

tầm vượt trước những quan niệm cứu nước đương thời. Bởi đó là một tư tưởng
yêu nước sáng suốt có tính phê phán không bảo thủ. Nó hướng tới việc tìm con
đường thật sự CM và KH dẫn đến mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Đó là tư
tưởng yêu nước mang đậm tính nhân dân, tính nhân bản. Cứu nước trước hết là
cứu hàng triệu “đồng bào bị đoạ đày” , những “người cùng khổ”. trong quan niệm
về mục tiêu cứu nước của HCM (khi chưa là người Mác xít) nước độc lập phải đi
đôi với quyền tự do ấm no hạnh phúc. Rõ ràng mục tiêu ấy không thể tìm thấy ở
con đường cứu nước trên ập trường phong kiến và cả trân lập trường TS hay
tiểu TS. Ở tuổi 13 cũng như một số nhà yêu nước đương thời HCM đã sớm bị
hấp dẫn bởi khẩu hiệu”tự do bình đẳng bác ái”. Song khác các vị ấy HCM muốn
tìm hiểu đến tận nơi “ cái gì ẩn đằng sau” những từ đẹp đẽ ấy không chỉ trên lý
thuyết mà ngay trên thực tế. Với một hoài bảo và lòng yêu nước như thế làm
hành trang HCM ra đi tìm đường cứu nước. Như vậy là chủ nghiõa yêu nước
truyền thống đang đòi hỏi điược đổi mới là tiền để tư tưởng đưa HCM đến một
cách tự nhiên với chủ nghĩa Mác Lênin, đáp ứng yêu cầu bức xúc của lịch sử lúc
đó là phải xác định một đường lối cứu nước đúng đắn. Tư tưởng yêu nước HCM
phản ánh yêu cầu giải phóng bức xúc của dân tộc VN và các dân tộc thuộc địa
nói chung.
Tư tưởng HCM là sự tiếp thu và phát triển tinh hoa của VH nhân loại
(VH Đông tây)
Tư tưởng càng vĩ đại khi nguồn gốc của nó càng sâu xa, cơ sở của nó càng
rộng lớn. Tư tưởng HCM không chỉ kết tinh những giá trị dân tộc mà còn bắt
nguồn từ tinh hoa VH nhân loại cả phương Đông và phương Tây mà Người đã
thâu thái được. HCM xuất thân trong một gia đình khoa bản, từ nhỏ đã được hấp
thu một nền Nho học vững vàng. Vì vậy không có gì lạ khi thấy trong tác phẩm
của mình Người sử dụng khá nhiều mệnh đề của Nho giáonhưng đã đem lại cho
nó một ý nghĩa mới. HCM cũng đã chỉ ra những hạn chế lớn của Nho giáo như
phân chia đẳng cấp,c oi thường phụ nữ, khinh LĐ chân tay… HCM căn bản
không dùng học thuyết Khổng tử để cải tạo XH song Người nói :”Tuy Khổng tử là
phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng tử có nhiều điều không đúng song

thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch HCM luôn nhấn mạnh rằng : yêu nước
anh dũng chiến đấu hy sinh vì độc lập dân tộc không phải phẩm chất riêng có ở
những người công sản mà là vốn có ở hàng triệu người trong Đảng cũng như
ngoài Đảng. Song chỉ có Đảng của giai cấp CN được vũ trang bằng chủ nghĩa
Mác Lênin mới có đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc biến chủ nghĩa yêu
nước truyền thống thành chủ nghĩa yêu nước hiện đại trên cơ sở kết hợp chủ
nghĩa yêu nước với chủ nghĩa XH KH, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc
tế vô sản. Được tư tưởng KH của giai cấp CN quốc tế soi sáng phong trào gải
phòng dân tộc VN đã tìm ra đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ nghĩa Mác Lênin
là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính lý luận Mác Lênin
đã cung cấp cho HCM thế giới quan và phương pháp luận DVBC để tổng kết
kiến thức tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn tìm ra con đường cứu nước
đúng đưa Người vượt hẳn lên phía trước so với những người yêu nước đương
thời, khắc phục căn bản khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. Theo
Lênin một người “chỉ xứng đáng với danh hiệu nhà tư tưởng khi nào họ đi trước
phong trào tự phát chỉ đường cho nó, khi nào họ biết giải quyết, trước những
người khác, tất cả các vấn đề lý luận CT sách lược và các vấn đề tổ chức mà
“những yếu tố vật chất” của phong trào hút phải một cách tự phát” HCM là một
nhân vật kiệt xuất trong những con người như thế.
Chủ nghĩa yêu nước là cơ sở ban đầu và động lực thúc đẩy HCM đến với
chủ nghĩa Mác Lênin. Còn chủ nghĩa Mác Lênin đã nâng chủ nghĩa yêu nước
truyền thống ở HCM lên bươ81c phát triển về chất phù hợp với thời đại mới.
Người nói “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa công
sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ 3. Từng bước một trong cuộc
đấu tranh vửa nghiên cứu lý luận Mác Lênin vừa làm công tác thực tế, dần dần
tôi hiểu được rằng chỉ có CNXH CNCS mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và những người LĐ trên thế giới khỏi ách nô lệ” Như vậy tư tưởng HCM là
thuộc hệ tư tưởng Mác Lênin. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng HCM cùng
nằm trong các phạm trù cơ bản của lý luận Mác Lênin . Tuy nhiên tư tưởng HCM
không phải chỉ là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh và

ở hầu khắp các châu lục; là một quá trình tự rèn luyện tự học tập tích lũy kiến
thức, kinh nghiệm sống và chiến đấu của Người.
CÂU 2: Con đường cưu nước của Hồ Chí Minh.
Từ giữa thế kỷ 19, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, mặc dù các phong
trào chống Pháp liên tục nổ ra, người trước ngã người sau đứng lên nhưng
tất cả các cuộc nổi dậy ấy đều thất bại. Nguyên nhân có nhiều nhưng suy cho
cùng nguyên nhân chủ yếu là chưa có một đường lối đúng.
Bằng thiên tài trí tuệ và nghị lực phấn đấu phi thường vượt qua những hạn
chế của những người yêu nước cùng thời, người thanh niên yêu nước
Nguyễn Tất Thành không tán thành chủ trương cứu nước của cụ Phản ánh
Bội Châu, cũng như cụ Phan Chu Trinh, tuy người hết sức khâm phục tinh
thần yêu nước của hai cụ: “cụ Phan Chu Trinh thì yêu cầu người Pháp thực
hiện cải lương … chẳng khác gì xin giặc nhủ lòng thương”, “cụ Phan Bội
Châu hy vọng Nhật giup đở để đuổi Pháp, điều đó rất nguy hiểm chẳng khác
gì đưa hỗ cửa trước rướt Beo cửa sau”.
Chính vì thế, Nguyễn Tất Thành quyết định tìm đường cứu nước khác.
Tháng 6/1911 Nguyễn Tất Thành ra đi với mục đích: “tôi muốn đi ra nước
ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào
, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”
của CM tư sản Pháp đã thúc dục Nguyễn Tất Thành đi đến những nước có
cuộc CM tư sản thắng lợi.
Suốt nhiều năm xông pha, người đã có mặt ở nhiều nước, tiếp xúc với nhiều
lớp người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Khi đến các nước tư bản phát triển
ở Châu Âu và Bắc Mỹ, người nhìn thấy cảnh giai cấp công nhân bị áp bức
bóc lột thậm tệ. Khi sang các nước Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh người
tận mắt thấy nhiều dân tộc , bị thực dân thống trị hết sức hà khắc, giã man.
Nhận ra kẽ thù chung, người đi đến kết luận quan trọng: dù màu đã có khác
nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người
bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô
sản” (Hồ Chí Minh toàn tập NXB chính trị QG Hà Nội 1995, tập 1, trang 266).

đại , Hồ Chí Minh sớm chỉ ra CM giải phóng dân tộc phải đi theo con đường
của CM vô sản và CM Việt Nam là một bộ phận khắng khít của CM thế giới.
Từ luận điểm coi chủ nghĩa đế quốc là con đĩa 2 vòi, CM ở chính quốc và CM
giải phóng dân tộc ở thuộc địa là hai cánh của một con chim, là hai dòng thác
của trào lưu CM thế giới. phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều
kiện cụ thể một nước thuộc địa , Hồ Chí Minh đã di đến một luận điểm mới:
CM thuộc địa không phụ thuộc vào CM ở chính quốc , mà cần được tiến hành
với tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực đứng lên đem sức ta mà tự giải phóng
cho ta. Hơn nữa lại còn có thể giúp đỡ được người anh em mình ở phương
Tây trong nhiệm vụ giải phóng hòan tòan. Do vậy ở những nước thuộc địa
phải đặt lên hàng đầu CM giải phóng dân tộc để đi tới chủ nghĩa XH. Đây là
bài học lịch sử lớn, có ý nghĩa nguyên tắc nói lên nguyên lý: thực tiễn là tính
chất của chân lý , CM là sáng tạo giáo điều , rập khuôn sẽ dẫn tới thất bại.
Luận điểm các dân tộc đứng lên tự giải phóng , được Hồ Chí Minh quán triệt
trong suốt quá trình lãnh đạo CM Việt Nam. Trong CM tháng 8, Hồ Chí Minh
đòi hỏi phải “đem sức ta ra mà tự giải phóng cho ta” trong kháng chiến chống
mỹ là tinh thần “tự lực cánh sinh”, “dựa vào sức mình là chính” … với tinh
thần đó Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao sức mạnh động lực dân tộc , xây dựng
lực lượng CM trong nước là yếu tố quyết định thắng lợi cuộc CM. Mặt khác
người vẫn hết sức tranh thủ sự đồng tình , giúp đỡ của các lực lượng CM ,
lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Người xác định CM giải phóng dân tộc là của tòan dân , nghĩa là Sĩ, Nông ,
Công, Thương đều chống lại cường quyền , không phân biệt giai cấp Đảng
phái, địa vị XH , giàu nghèo. Tuy vậy trong tòan dân , Hồ Chí Minh và Đảng ta
khẳng định: CM Việt Nam do giai cấp công nhân lãnh đạo dựa trên nền tảng
liên minh Công-Nông và Trí thức.
Hồ Chí Minh đánh giá cao tinh thần yêu nước của bộ phận tư sản dân tộc
Việt Nam. Theo người , công nhân, nông dân, tiểu tư sản , tư sản dân tộc
cùng với các thân sĩ yêu nước hợp thành lực lượng CM trong CM giải phóng
dân tộc. Sắp xếp lực lượng CM của Hồ Chí Minh vừa đúng với quan điểm của

tranh của nhân dân ta giành thắng lợi , là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và
dân tộc ta” (VKĐH 9 trang 20, 21).
Đảng ta xác định mục tiêu CM: dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân
chủ, văn minh.
Xây dựng Nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân mục đích để phát huy
sức mạnh toàn dân tộc để xây dựng đất nước.
Các dân tộc Việt Nam đều có quyền bình đẳng tạo điều kiện giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ.
Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế.
Kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Câu 3 : Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà Nước quản lý xã hội bằng pháp
luật
Bài Làm
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân
tộc. Tư tưởng đó là sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa nhân loại và của dân
tộc, là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện
Việt Nam. Trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người thì tư tưởng về nhà nước
chính là sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh về các kiểu nhà nước trong
lịch sử, là sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước vào điều
kiện nước ta.
Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất
quán trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ lòng
yêu nước thương dân, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm thấy con
đường cách mạng vô sản, đồng thời Hồ Chí Minh cũng lựa chọn xây dựng một
nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, một nhà nước của dân do dân, vì dân khác về
bản chất so với nhà nước thực dân phong kiến. Người đã nhận thức được tất cả
các nhà nước trước cách mạng vô sản đều chỉ là nhà nước của một số ít người,
nhà nước của giai cấp bóc lột. Vì thế Hồ Chí Minh đã chỉ rõ : “Chúng ta đã hy
sinh làm cách mạng thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm xong cách mạng rồi

động. Pháp luật là phải lấy chữ nhân làm trọng và phải thấy mối quan hệ giữa
đức trị và pháp trị. Đây là điểm rất đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một tư
tưởng thắm đượm chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn, luôn chú trong đến
con người, vì sự nghiệp giải phóng con người, luôn tìm cách hướng con người
đến cái chân thiện mỹ. Người đã bao giờ cũng nhấn mạnh đến cả hai yếu tố “có
lý có tình”. Người đã kết hợp nhuần nhuyễn cả “đức trị” và “pháp trị”. Người dùng
sức cảm hóa để ngăn ngừa tiêu cực có thể xảy ra với phương châm phòng bệnh
hơn chữa bệnh. Hồ Chí Minh có tấm lòng độ lượng bao dung, nhân hậu nhưng
Người cũng rất nghiêm khắc không bỏ qua sai lầm, khuyết điểm, không bao che,
luôn đòi hỏi sự bình đẳng trước pháp luật.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Người đã có ý trước
hết tính hợp hiến, hợp pháp của quyền lực nhà nước. Khi nhà nước Việt Nam
mới ra đời năm 1945, Người muốn làm nhanh “càng sớm càng tốt” cuộc tổng
tuyển cử để bầu ra quốc hội và sau đó lập ủy ban soạn thảo hiến pháp đầutiên
của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong 24 năm làm chủ tịch nước (1945
– 1969) Hồ Chí Minh đã chủ trì soạn thảo hai hiến pháp năm 1946 và 1959. Đó
là cơ sở pháp lý của quyền lực nhà nước. Trong thời kỳ chống Pháp 1945 –
1954, do không có điều kiện họp đoàn thể quốc hội, Hồ Chí Minh với tư cách là
chủ tịch nước, buộc phải ra những sắc lệnh nhưng Người luôn tôn trọng tính
hợp hiến của các sắc lệnh bằng cách xin ý kiến ban thường trực quốc hội. Người
cũng thường xuyên nhắc nhỡ hoạt động của bộ máy hành pháp, tư pháp phải
dựa trên cơ sở vững chắc của hiến pháp và pháp luật.
Hồ Chí Minh không theo thuyết “tam quyền dân lập”, đây là lý luận xây dựng
nhà nước tư sản được nhiều nước áp dụng từ trước đến nay. Quan điểm của
Hồ Chí Minh là không có sự chia sẻ quyền lực mà quyền lập pháp (quốc hội)
hành pháp (chính phủ), tư pháp (viện kiểm sát tòa án) phải thống nhất chặt chẽ
với nhau để tất cả quyền lực đều thống nhất là quyền lực của nhân dân. Nhưng
giữa các quyền đó có sự phân công, phối hợp nhau, tránh chòng chéo và phản
quyền.
Nhà nước quản lý xã hội bằng hiến pháp và pháp luật là tư tưởng nhất quán

phải tuyệt đối trung thànhvới sự nghiệp cách mạng (là yêu cầu đầu tiên phải có),
thành thạo công việc, phải có mối liên hệ mật thiết với dân, phải dám phụ trách,
dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm nhất là trong những tình huống khó khăn,
thất bại không hoang mang, thắng lợi không kiêu ngạo, phải trung thực, luôn có
chí tiến thủ, luôn luôn tự phê bình và phê bình, biết người, biết việc, không thành
kiến, không bao che.
Trong việc lựa chọn người vào đội ngũ cán bộ – công chức nhà nước, Hồ
Chí Minh coi trọng biện pháp thi tuyển đội ngũ cán bộ – công chức. Điều này thể
hiện rõ trong hai sắc lệnh do Người ký 1948, 1950 hoặc sắc lệnh năm 1946 qui
định tiêu chuẩn chuyên môn hóa cán bộ tư pháp. Những qui định về thi tuyển, về
tiêu chuẩn hoá đội ngũ viên chức nhà nước của Người vẫn có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình cải cách hành chính hiện nay.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nhà nước và pháp luật trong
giai đoạn hiện nay, chúng ta phải xây dựng một nhà nước và đảm bảo cho nhà
nước thật sự là của dân do dân, vì dân, phát huy hơn nữa vai trò và quyền lực
của nhân dân trong xây dựng nhà nước của mình. Bộ máy nhà nước phải hoạt
động có hiệu lực từ quốc hội đến chính phủ và cơ quan tư pháp. Xây dựnghệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, khắc phục tình trạng pháp luật thiếu, sơ hở, bất cập
đồng thời đưa pháp luật vào thực thi có kết quả, tuyên truyền giáo dục phápluật
cho nhân dân. Tiếp tục đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước,
nâng cao trình độ mọi mặt để không bị “đuối tần”, trước yêu cầu phát triển của
đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa. Tổ chức thi tuyển công
chức, phòng ngừa và khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ công chức tham
ô, nhũng nhiễm, thoái hóa, biến chất.

Câu 4 : Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững
mạnh
Bài Làm
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác
– Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta và đã trở thành một tài sản tinh thấn

tàu không có bàn chỉ nam”. Vào những năm đầu thể kỷ 20, khi Nguyễn Tất
Thành (Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước, trên thế giới có rất
nhiều hệ thống lý luận, nhưng sau bao năm bôn ba hải ngoại, lăn lộn với phong
trào công nhân, tìm hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng T.10 Nga, Hồ Chí
Minh đã khẳng định : “Bây giờ học thuyết nhiều và chủ nghĩa nhiều nhưng chủ
nghĩa chân chính nhứt , chắc chắn nhứt, cách mạng nhứt là chủ nghĩa Lênin” và
Đảng ở Việt Nam phải là một Đảng “theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.
Sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học
thuyết cách mạng và khoa học chỉ ra thế giới quan và phương pháp luận đúng
đắn để giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa đứng lên làm cách
mạng cải tạo thế giới giải phóng cho giai cấp, cho dân tộc khỏi mọi sự áp bức
bóc lột. Sự đúng đắn của đường lối cách mạng do Đảng ta vạcg ra ngay từ buổi
đầu mới thành lập bắt nguồn từ việc Hồ Chí Minh đã quán triệt sâu sắc chủ
nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Đảng ta vượt qua những trận
thử thách … Nhờ vậy, Đảng ta không những đã giành được quyền lãnh đạo CM
trong cả nước mà còn giữ vững được quyền lãnh đạo đó trên mọi lãnh vực và
đập tan mọi âm mưu của giai cấp tư sản hòng tranh quyền lãnh đạo cáchmạng
với Đảng ta.
Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta đã vạch ra được đường lối
chủ trương đúng đắn, sát hợp đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác mà thực tiễn cách mạng Việt Nam là chứng minh hùng hồn nhứt
để đảm bảo sứ mệnh dẫn lối soi đường đó thì việc xây dựng Đảng trong sạch
vững mạnh là nhiệm vụ xuyên suốt của Đảng ta và là một nội dung quan trọng
trong tư tưởng Hồ Chí Minh : “Là một Đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phải mạnh
mẽ, trong sạch, kiểu mẫu”. Đảng ta phải thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc về
tổ chức và xây dựng Đảng mà trong đó tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá
nhân phụ trách, phê bình và tự phê bình là nguyên tắc bất di bất dịch của Đảng.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng cơ bản và quan trọng
nhứt trong học thuyết về Đảng kiểu mới của Lênin và được Hồ Chí Minh rất coi
trọng và vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể để xây dựng Đảng CSVN. Tập trung

Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng viên của Đảng. Chỉnh đốn Đảng để lúc khó
khăn không bị bi quan dao động, để Đảng có đủ năng lực lãnh đạo khi cách
mạng chuyển sang giai đoạn mới. Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiệm vụ phải “chấn
chỉnh” bộ máy chính quyền “chỉnh đốn”. Các đoàn thể quần chúng và “muốn làm
được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”. Chỉnh đốn là để
tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, để tăng cườngsức chiến đấu của
Đảng. Người đã chỉ ra rằng “Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng càng thêm vững
chắc bảo đảm cho Đảng ta càng trong sạch, càng mạnh mẽ, đảm bảo cho sự
nghiệp cách mạng vĩ đại của chúng ta càng giành được thắng lợi to lớn hơn
nữa”.
Về xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng viên, Người rất quan tâm đến giáo dục,
rèn luyện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đảng viên về tất cả các mặt trong đó có 03
vấn đề chủ yếu nhứt là : Suốt đời phấn đấu hy sinh cho Đảng, cho tổ quốc ; Đặt
quyền lợi của Đảng, của tổ chức lên trên hết ; có một đời tư trong sáng”. Theo
Hồ Chí Minh “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muốn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Người đã so sánh “cán bộ là dây chuyền
của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạythì động cơ dù tốt, dù chạy
toàn bộ máy cũng tê liệt”. Trong sử dụng cán bộ, Người yêu cầu phải “hiểu, đánh
giá đúng cán bộ”, phải “khéo dùng cán bộ” ; “dùng người như dùng gỗ. Người
thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được” ; phải “chiêu
hiền đãi sĩ”, “cần người hiền tài” “có gan cất nhắc cán bộ” ; phải chống bệnh địa
phương, cục bộ, phe phái , họ hàng.
Quan hệ giữa Đảng cầm quyền với nhân dân là một nội dung đặc sắc trong
tư tưởng Hồ Chí Minh. Quan niệm của Người là “Nước lấy dân làm gốc, bao
nhiêu lợi ích vì dân, bao nhiêu quyền hạn đềucủa dân”. Đảng, cán bộ Đảng viên
“Vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân”, Hồ Chí Minh
nhấn mạnh : “Đảng phải gắn bó máu thịt với dân. Dân là lực lượng vô tận của
cách mạng, thắng lợi của cách mạng là do Đảng đã tổ chức và giải phóng được
lực lượng đó”.
Người đã chỉ rõ giữ chặt chẽ mối quan hệ với dân chúng và luôn luôn lắng

tấm gương tiêu biểu và sinh động. Tư tưởng đó là sự kết hợp giữa truyền thống
đạo đức tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa đạo đức nhân loại giữa truyền thống
với hiện đại. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta sẽ thấy được có sự hoà
quyện, thống nhất giữa chính trị, đạo đức, văn hoá, nhân văn. Ở Hồ Chí Minh
một nền chính trị rất đạo đức, rất văn hoá và đạo đức, văn hoá lại rất chính trị.
Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức là cái nền tảng, là cái gốc của mỗi con
người. Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn quanniệm đạo đức
cách mạng là cái gốc của con người cách mạng : “Nười cán bộ cách mạng phải
có đạo đức cách mạng, phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ
cách mạng chân chính”. Và “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có
thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không ? Làm cách mạng là để giải phóng
dân tộc, để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đó là một sự nghiệp rất vẻ
vang và cũng rất nặng nề, là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ cho nên
“Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành
được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Ở mỗi con người, đức và tài là hai mặt
không thể thiếu được mặt nào, không thể coi nhẹ mặt nào, nó gắn bó hoàn thiện
cho nhau nhưng trong quan hệ giữa hai mặt đó thì đạo đức vẫn là cái cần phải
có trước. Hồ Chí Minh cho rằng : “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,
không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh
đạo được nhân dân”. Theo Người “Tuy năng lực và công việc mỗi người khác
nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ nhưng ai giữ được đạo đức cách
mạng đều là người cao thượng” (Đạo đức có những ảnh hưởng lớn đến sự
nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong. Có đạo
đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè,
lùi bước … Khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian
khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Không kèn cựa
về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không
hũ hoá …). Trước lúc đi xa, trong di chúc, Người đã căn dặn : Đảng ta là
Đảngcầm quyền, mỗi Đang viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức

cũng là những khái niệm của đạo đức) đưa vào những yêu cầu và nội dung mới.
Người nói “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần kiệm liêm chính nhưng không
bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho
chúng. Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm
gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, lợicho dân”. Người giải thích : “Cần
tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẽo dai ; kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ,
không hoan phí ; liêm là trong sạch, không tham lam … ; chính là không tà, là
thẳng thắn, đứng đắn …”. Hồ Chí Minh đã chỉ ra quan hệ giữa 04 điều đó : “Cần,
kiệm, liêm là gốc rể của chính. Nhưng một cây cần có gốc, rể lại cần có ngành,
lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải
chính mới là người hoàn toàn” “thiếu một đức thành không thành người”. Cần,
kiệm, liêm, chính còn là thước đo văn minh, tiến bộ củamột dân tộc : “Một dân
tộc biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một
dân tộc văn minh tiến bộ”.Chí công vô tư là không nghĩa đến mình trước, hưởng
thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì tổ quốc, vì đồng bào”. Đạo đức cách
mạng đòi hỏi phải giải quyết hài hoà, đúng đắn các mối quan hệ : với công việc,
với mọi người và vớichính mình, mà muốn thực hiện điều đó thì phảinêu cao đạo
đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, mình vì mọi người, mọi người vì mình.
Gian khổ đi trước, hưởng thụ nhận sau, điều mà mình không muốn thì đừng bắt
người khác phải chịu.
Đạo dức cách mạng theo Hồ Chí Minh còn là giàu sang không thể quyến
rũ, nghèo khó không thể chuyển lay uy vũ không thể khuất phục. Đấy là phẩm
chất đạo đức không thể thiếu của người cách mạng nhất là người cộng sản,
những con người “quang minh chính đại” gần như đủ cả 05 đức : nhân, nghĩa,
trí, dũng, liêm. Dưới thời phong kiến đó là khí phách của các bậc trượng phu,
các chân nho. Với người cách mạng thì phải trên nền tảng lợi ích của nhân dân,
và chỉ nhắm tới nhân dân mà định chế sự giàu sang không thể làm cho mình
thèm muốn ham mê, sự nghèo khó không thể làm cho mình nao núng, các uy
quyền vũ lực không thể làm cho mình khuất phục đầu hàng. Vấn đề là ở chỗ
“không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng. Trái lại, chúng ta phấn

mực thước cho người ta bắt chước”. Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm
trước đã. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạođức cách mạng trong đó đặc
biệt là đạo làm gương.
Ngày nay, Đảng viên đang trong giai đoạn đổi mới với nền kinh tế thị
trường, giao lưu mở cửa thì mặt trái của nó đang đặt ra những vấn đề Đảng cần
phải giải quyết. Do vậy, giươngcao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự
nghiệp đổimới mà cụ thể ở đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, chúng ta
phải phấn đấu xây dựng một nền đạo đức mới theo tư tưởng HCM phải xây
dựng cho đội ngũ cán bộ Đảng viên một động cơ và thái độ đúng trong sự
nghiệp phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, chống lại mọi biểu hiện sai trái,
đặc biệt là chủ nghĩa cá nhân, tăngcường giáo dục đạo đức cách mạng cho các
thế hệ công dân Việt Nam ở cả ba môi trường : gia đình, nhà trường và xã hội.
Coi trọng nêu gương người tốt việc tốt, những điển hình tiến tiến, đó cũng là
cách gián tiếp phê phán những mặt trái, điều xấu và đó là một cách lấy quần
chúng giáo dục quần chúng. Phải xây dựng thóiquen tự phê bình và phê bình,
gắn mìnhvới tổ chức, với tập thể để rèn luyện, chống mọi sự chia rẻ, cục bộ, mất
đoàn kết.
Câu 6 : Phân tích phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong phương pháp
cách mạng Hồ Chí Minh.
Bài Làm
Phương pháp cach mạng là một bộ phận đặc biệtquan trọng tronghệ
thốngtư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tiến trình cách mạngViệt Nam, đường lối
cách mạng và tư tưởng chính trị đúngđắn của Hồ Chí Minh có vị trí vô cùng quan
trọng. Sonh chỉ có sự đúng đắn của tư tưởng chính trị, của lý luận cách mạng
cũng chưa đủ để đưa cách mạng tiến đến thành công. Tư tưởng CT, chiến lược
cách mạng có được hiện thực hoá hay không, có trở thành phong trào cách
mạng của quần chúng, có được quần chúng tiếp nhân như một nhu cầu thiết yếu
hàng ngày, địnhhướng hành động, biến thành sức mạnh VC trong đấu tranh của
họ hay không là còn phụ thuộc vào phương pháp cách mạng. Hồ Chí Minh nhận
thức rất sâu sắc về điều đó. Người thường nhắc nhỡ những người cách mạng

Mác – Lênin.
Phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh là bí quyết, là linh hồn sống của tư
tưởng HỒ CHí Minh trong cuộc đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, Hồ Chí
Minh cũng như những nhà cách mạng yêu nước Việt Nam cùng thời đều xác
định cùng mục tiêu độc lập dân tộc, đều xác định được phải đánh đuổi để giải
phóng dân tộc và lạikhác nhau ở chỗ xác định ai đánh và đánh như thế nào.
Chính sự khác nhau này, khác nhau về phương pháp cách mạng mà pHan bội
Châu đã “Một trăm thất bại không một thành công”, các nhà yêu nước khác cũng
không mang về độc lập cho dân tộc trong khi Hồ CHí Minh bằng phương pháp
cách mạng phù hợp với thực tiễn Việt Nam đã mang vinh quang về cho đất
nước, đã đem ánh sáng độc lập xua tan đêm trường nô lệ trên dãi đất Việt Nam.
Phương pháp cách mạng đúng đắn, đã giúp đưa tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào
thực tiễn, vận dụng vào cuộc sống.
Trong phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh đã nổilên phương pháp xử lý
tình huống, đó là phương châm : “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, phương châm này
xuyên suốt trong quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh (Tháng 5/
1946. Hồ chủ tịch đi thăm Pháp trong hoàn cảnh đất nước “ngàn cân treo sợi
tóc”. Người giao cho cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền chủ tịch nước với lời dặn
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến”). “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là lấy cái không thay đổi
để đối phó với vạn cái thay đổi. Nó là bí quyết đảm bảo thắng lợi của cách mạng,
trong xử lý tình huống cách mạng. Phương châm này của Hồ Chí Minh hàm ý là
trên thế giới cái gì cũng thay đổi nhưng những cái là chân lý thì không bao giờ
thay đổi. Người cách mạng phải đứng vững trên chân lý cách mạng để đối phó
với những tình huống phức tạp xảy ra. Đó là những chân lý như : Nước Việt
Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Độc lập thống nhứt đất nước là không thay
đổi, định lý dân tộc gắn liền CNXH là chân lý của cách mạng Việt Nam, chủ
nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng là kim chỉ nam là mặt trời chân lý của
CM vô sản. Từ những chân lý, đòi hỏi người làm cách mạng phải sáng tạo ra
các hình thức, biện pháp để xử trí các tình huống cách mạng, để đưa cách mạng
đến thành công. Vận dụng trong đấu tranh cách mạng, phương châm này đòi hỏi

miền Bắc, cách mạng Việt Nam với tinh thần “tự lực cánh sinh là chính, song sự
giúp đỡ của bè bạn quốc tế là vô cùng quan trọng nhất, là sự giúp đỡ của Liên
Xô và Trung Quốc. Hồ Chí Minh cũng đã vận dụng phương châm “Dĩ bất biến,
ứng vạn biến” trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nước ta với liên Xô và
Trung Quốc để tranh thủ sự giúp đỡ của hai nước này cho cách mạng Việt Nam
khi mà Liên Xô và Trung Quốc có những bất đồng lớn(Đúng là “Hồ Chí Minh đã
khéo lái con thuyền Việt Nam đi giữa hai ngọn sóng Xô – Trung trong thập kỷ
60”) Vì chân lý “Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một, sông có thể
cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”, vì mục tiêu độc lập
dân tộc và CNXH trên cả nước, cách mạngViệt Nam đã sẵn sàng đối phó với cái
“vạn biến” của kẻ thù. Từ chiến tranh đặc biệt đến chiến tranh cục bộ rồi Việt
Nam hoá chiến tranh thì phương pháp cách mạng Việt Nam cũng đã có chiến
lược hai chân ba mũi đánh địch bằng ba thứ quân, trên ba chiến lược diệt địch
để làm chủ, làm chủ để diệt địch, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến
tranh cách mạng …
Như vậy, có thể nói cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác là nhờ có phương pháp cách mạng đúngđắn, trong đó có sự vận dụng linh
hoạt phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh. Trong công
cuộc xây dựng đất nước ngày nay, vận dụng phương châm này vào công tác
hàng ngày đó là việc nắm vững đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của
Đảng và Nhà Nước, trên cơ sở đósáng tạo ra các hình thức biện pháp đề hoàn
thành tốt nhiệm vụ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp cách mạng là rất phong phú, toàn
diện và sâu sắc. Hơn bao giờ hết trong thời kỳ đổi mới hiện nay, chúng ta cần
học tập vận dụng phát triển tư tưởng đó vào công cuộc đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hóa đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp cách mạng
nói riêng và toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh (là nền tảng tư tưởng là kim
chỉ nam cho hành của Đảng ta và cách mạng Việt Nam) sẽ mãi sáng soi cho con
đường cách mạng Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status