Tổng hợp Ôn thi Đại học Ngữ văn (Rất hay - Pdf 16

THUỐC (LỖ TẤN)

1. Tác giả
+ Lỗ Tấn (1881-1936) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh
Chiết Giang, miền Đông Nam Trung Quốc. Ông là nhà văn cách mạng lỗi lạc của
Trung Quốc thế kỉ XX. “Trước Lỗ tấn chưa hề có Lỗ Tấn; sau Lỗ Tấn có vô vàn
Lỗ Tấn” (Quách Mạt Nhược)
+ Tuổi trẻ của Lỗ Tấn đã nhiều lần đổi nghề để tìm một con đường cống hiến
cho dân tộc: từ nghề khai mỏ đến hàng hải rồi nghề y, cuối cùng làm văn nghệ
để thức tỉnh quốc dân đồng bào. Con đường gian nan để chọn ngành nghề của
Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại, vừa nói lên
tâm huyết của một người con ưu tú của dân tộc.
+ Quan điểm sáng tác văn nghệ của Lỗ Tấn được thể hiện nhất quán trong toàn
bộ sáng tác của ông: phê phán những căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân
mê muội, tự thoả mãn “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa
sổ”.
+ Tác phẩm chính: AQ chính truyện (Kiệt tác của văn học hiện đại Trung Quốc
và thế giới), các tập Gào thét, Bàng hoàng, Truyện cũ viết theo lối mới, hơn chục
tập tạp văn có giá trị phê phán, tính chiến đấu cao

2. Hoàn cảnh sáng tác truyện Thuốc
Thuốc được viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ tứ bùng nổ. Đây là
thời kì đất nước Trung Hoa bị các đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Nhật xâu xé.
Xã hội Trung Hoa biến thành nửa phong kiến, nửa thuộc địa, nhưng nhân dân lại
an phận chịu nhục. “Người Trung Quốc ngủ mê trong một cái nhà hộp bằng sắt
không có cửa sổ” (Lỗ Tấn). Đó là căn bệnh đớn hèn, tự thoả mãn, cản trở
nghiêm trọng con đường giải phóng dân tộc. Chính nhà cách mạng lỗi lạc thời
này là Tôn Trung Sơn cũng nói: “Trung Quốc ấy với một thông điệp: Người
Trung Quốc là một con bệnh trầm trọng”. Thuốc đã ra đời trong bối cảnh ấy với
một thông điệp: cần suy nghĩ nghiêm khắc về một phương thuốc để cứu dân tộc.


mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực , con cái dẫn đến cái chết
của ông cụ.

Nghĩa hàm ẩn , đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần : căn bệnh gia
trưởng , căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc .
Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương
thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó . Rồi tất cả đám
người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia
đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một
thứ thuốc khác .Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc , không được “ngủ mê
trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.

-Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc , của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương
thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung
Quốc ( đám đông quần chúng không hiểu gì về Cách mạng nên mới xem HD là
giặc …) và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời
bấy giờ . Hạ Du vì xa rời quần chúng nên sự hi sinh của anh thật đáng thương
hại. Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể
hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa
thời cận đại : nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người
cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”

2- Các nhân vật:

a-Hình ảnh đám đông quần chúng:

-Buổi sáng sớm, ở pháp trường , lão Hoa đi mua bánh bao tẩm máu tử tù về
chữa bệnh cho con thì bị một đám đông xô đẩy nhau ào ào,chen bật lão suýt
ngã.Đó là những người đi xem hành hình nhà cách mạng Hạ Du .Đám đông này
khiến ta liên tưởng đến đám đông đi xem hành hình một người Trung Quốc

3-Cảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con: Các hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng: a.
Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người: “Bánh bao tẩm máu người”, nghe
như chuyện thời trung cổ nhưng vẫn xảy ra ở nước Trung Hoa trì trệ. Tầng
nghĩa thứ nhất - nghĩa đen của tên truyện là: thuốc chữa bệnh lao. Thứ mà ông
bà Hoa Thuyên xem là “tiên dược” để cứu mạng thằng con “mười đời độc đinh”
đã không cứu được nó mà ngược lại đã giết chết nó - đó là thứ thuốc mê tín.

+ Trong truyện, bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái
gở. Và cả đám người trong quán trà cũng cho rằng đó là thứ thuốc tiên. Như
vậy, tên truyện còn hàm nghĩa sâu xa hơn, mang tính khai sáng: đây là thứ
thuốc độc, mọi người cần phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh lao
được sùng bái là một thứ thuốc độc. Người Trung Quốc cần phải tỉnh giấc,
không được ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có sửa sổ.

+ Chiếc bánh bao - liều thuốc độc lại được pha chế bằng máu của người cách
mạng - một người xả thân vì nghĩa, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng nông
dân Những người dân ấy (bố mẹ thằng Thuyên, ông Ba, cả Khang ) lại dửng
dưng, mua máu người cách mạng để chữa bệnh Với hiện tượng chiếc bánh
bao tẩm máu Hạ Du, Lỗ Tấn đã đặt ra một vấn đề hết sức hệ trọng là ý nghĩa
3
của hi sinh. Tên truyện vì thế mang tầng nghĩa thứ ba: Phải tìm một phương
thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó
với quần chúng. Chiếc bánh bao thấm máu Hạ Du khi nướng lên lại tỏa mùi
hương ngào ngạt cả quán lão Thuyên. Mùi thơm ở dây là mùi thơm của tinh thần
và khí phách Hạ Du . Bằng chi tiết này ,tác giả đã gián tiếp ca ngợi Hạ Du một
cách kín đáo. Ca ngợi tinh thần , khí phách và phê phán sự xa rời quần chúng
của Hạ Du.

b. Hình ảnh con đường: Tác giả còn phác họa hình ảnh con đường dẫn đến khu
nghĩa địa này : có một con đường mòn ở giữa chia làm hai: Ở giữa có con

hiện trọn vẹn, nhờ đó mà không khí của truyện vốn rất u buồn tăm tối song điều
mà tác giả đưa đến cho người đọc không phải là tư tưởng bi quan. d. Hình ảnh
những nấm mộ như những chiếc bánh bao của người giàu trong ngày mừng thọ.
Nghĩa địa này là nghĩa địa Cổ Hiên Ðình Khẩu - nơi chôn xác những người
nghèo như cu Thuyên và những người hoạt động Cách mạng như Hạ Du . Tác
4
giả đã so sánh ngôi mộ ở nghĩa địa Cổ Thiên Ðình Khẩu : như những chiếc bánh
bao của người giàu trong ngày mừng thọ.

Nghĩa thứ nhất đầy thương cảm: người chết nhiều ( chết vì lạc hậu u mê, tăm
tối) Nghĩa thứ hai: Ðây là lối so sánh rất sâu rất đau , hàm chứa một ý nghĩa tố
cáo rất gay gắt . Lối so sánh này cũng tạo nên một sự đối lập để làm nổi bật sự
tham lam tàn ác của giai cấp thống trị . Những người nằm dưới những ngôi mộ
này như cu Thuyên và Hạ Du đều là những người chết trẻ , chết non ,chết yểu .
Vậy mà mộ của họ lại được so sánh như như những chiếc bánh bao của những
kẻ giàu có , sống lâu trong ngày mừng thọ . Một đằng là chết non , chết yểu ,
một đằng là mừng thọ sống cao tuổi .Ðó là sự đối lập hoàn toàn . Từ đó tác giả
tố cáo tội ác của giai cấp thống trị : sống phè phỡn , sống sung sướng trên
xương xương máu của những người nghèo và chiến sĩ cách mạng . Nghĩa thứ
ba: Phê phán người dân TQ u mê về chính trị, không biết phân biệt đâu chính
đâu tà. Họ đã để mộ Hạ Du chung với những kẻ chết chém vì ăn cướp. e. Thời
gian nghệ thuật của truyện Tiến triển từ mùa thu Hạ Du bị hành hình đến mùa
xuân trong tiết thanh minh năm sau lúc hai bà mẹ đi thăm mộ con.Cái chết của
hai người con cũng như chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi
vọng . dự báo về một tương lai sáng sủa cho cách mạng Trung Hoa. Thời gian
nghệ thuật trong truyện “Thuốc” vận động từ mùa thu đến mùa xuân, từ lúc tử tù
bị chém, thằng Thuyên ho lao rồi chết đến tiết thanh minh, trên ngôi mộ Hạ Du
có vòng hoa, một thằng Thuyên và những nấm mộ khác “lác đác vài nụ hoa bé
tý, trăng trắng, xanh xanh”, trên cành dương liễu đã đâm ra “những mầm non
bằng nửa hạt gạo”. Đó là mầm xanh của mùa xuân hy vọng, hứa hẹn một ngày

không nằm ngoài quy luật ấy. Bởi vì nội dung phản ánh (và tiếp nhận) - yêu
thương, trân trọng hay căm ghét, khinh bỉ? Tách riêng ra hai giá trị là làm phá vỡ
sự gắn liền hữu cơ của một chỉnh thể nghệ thuật vốn dĩ thống nhất.

Đọc xong tác phẩm Chí Phèo ta thấy gì? Mở đầu tác phẩm là cảnh Chí Phèo
ngật ngưởng trên đường đi vừa chửi, từ trời đến người, tiếng chửi hằn học, cay
độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là
máu tươi. Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế
tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng
quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn
vạ, gây gổ… trong đó Chí Phèo hiện lên như một biếm họa tiêu biểu. Hãy nghe
nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám
hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ
cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn
mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?. Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một
con quỉ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng
bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập
đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi
say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để
nhớ hắn có ở đời. Có lẽ hắn cũng biết rằng hắn là quỉ dữ của làng Vũ Đại để tác
quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập
nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu nước
mắt của bao nhiêu người lương thiện… Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt
hắn mỗi lần hắn qua…”

Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn
được cuộc sống của một con người. Những năng lực vốn có của một con người
- năng lực cảm xúc, nhận thức - hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm
chém, phá phách. Chí Phèo bị phá hủy nhân tính lẫn nhân hình như thế bởi
đâu? Nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa ấy. Ông thiên

tuy chỉ được nhắc qua tác phẩm, nhưng cũng góp phần chỉ ra tính hệ thống và
phổ biến của phương cách tha hóa người dân trong sự thống trị của chúng.
Đằng sau những Bá Kiến, Lý Cường, Chánh Tổng… như một sự hỗ trợ gián tiếp
nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu - cả một điều kiện môi
trường bất hảo. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết
rằng khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khỏi tù, hắn trở về
với cái vẻ hung đồ, cái thói du côn ương ngạnh học được từ đấy. Nhà văn chỉ
nói có thế. Nhưng như thế với bạn đọc thông minh cũng đã quá đủ! Bằng bút
pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một
kết cấu tâm lý và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài
tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn, nhưng chất chứa bên
trong biết bao nỗi niềm quằn quại, đau đớn trước thân phận đau đớn của kiếp
người. Lồng vào bức tranh hiện thực trên kia là thái độ yêu ghét, là cách phân
tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa
chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và
gởi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân
đạo. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn
nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng. Nam Cao vẫn phát
hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình
thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của
nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến
7
“ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn
tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo,
thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hất hủi. Sau
cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh
sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe ra một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền
chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm
thanh ấy bao giờ chả có. Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn,
trong cái phút tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau

mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm
hồn người đọc mọi thời đại.
8
PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN BÀ LÀNG CHÀI
TRONG TRUYỆN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

Mở bài:
Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân
vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài -
người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà
khiến khi gấp trang sách lại ta không thể nào quên.

Thân bài:
Để tạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyện độc
đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận: Truyện được
kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc
chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa
để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh
đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “Trước mặt tôi là một
bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe
nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh
mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như
tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Cảnh đẹp đến nỗi
Phùng có cảm giác bối rối, trái tim như bị bóp thắt vào. Nhưng đằng sau chiếc
thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ
phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà
nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt.
Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ. Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như
người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC
đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ,

+ Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu. Lão chồng của chị từ một anh con
trai “hiền lành nhưng cục tính” đã trở thành một kẻ vũ phu lỗ mãng. Hắn đã lấy
phương pháp đánh vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống. Bị chồng thường
xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ
khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh 1
con thú, với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho
ông nhờ". “Mày” ở đây là vợ ông ta. “Chúng mày” là vợ con của ông ta. Họ là
những đồng loại rất gần gũi với ông ta. Cay đắng thay cho số phận của chị.

+ Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy
trốn mà coi đó là một lẽ đương nhiên. Thậm chí chị còn yêu cầu hắn “ Muốn
đánh chị thì đưa chị lên bờ để đánh vì chị không muốn để những đứa con nhìn
thấy cảnh bố hành hạ mẹ”. - Vì đâu chị lại chịu đựng và cam chịu như vậy ?

+ Chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình,
chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Vì chị rất thấu hiểu lẽ đời. Chị
hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông. trong
cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe
mạnh, biết nghề “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng
chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để
cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa.
Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn
cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ
không thể sống cho mình như ở trên đất được!”.

+ Chị cũng hiểu và thông cảm cho chồng: chị thừa nhận chồng chị trước kia là
anh con trai hiền lành nhưng cục tính, chẳng qua vì đói nghèo, thất học, túng
quẫn lão chồng mới sinh ra vậy. Đây chính là sự hiểu đời, sự thông cảm và vị
tha của chị. Chị không hề oán trách chồng mà ngược lại chị rất cảm thông và vị
tha. Chị là người có đức hi sinh cao thượng.

khám phá “….ẩn dấu” trong “bể sâu tâm hồn” người đàn bà hàng chài.
Đề: Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn
“Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành để từ đó giải thích
tại sao tác giả đặt cho truyện của mình cái tên như vậy?

Mở bài:
Đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành viết vào năm 1965, rút từ tập “Trên
quê hương anh hùng Điện Ngọc”, điều đó để lại ấn tượng sâu đậm cho độc giả
chúng ta không chỉ là những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai, những con
người Tây Nguyên bất khuất kiên trung thủy chung với Cách mạng, mà còn là
11
hình tượng Cây xà nu - một hình tượng độc đáo bao trùm toàn bộ tác phẩm.
Chính hình tượng cây xà nu đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi, lãng mạn
cho câu chuyện về làng Xôman bất khuất kiên cường. Đọc tác phẩm này điều
mà người đọc nhận ra trước tiên là hình tượng cây xà nu đã trở thành một hình
tượng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm gắn bó với cuộc sống và mọi sinh hoạt của
dân Xôman.

Thân bài: Trong bài viết “Về truyện ngắn Rừng xà nu”, tác giả Nguyên Ngọc (bút
danh là Nguyễn Trung Thành” đã tâm sự: “Ngay từ năm 1962, trên đường vào
miền Nam công tác, đến tỉnh Thừa Thiên, giáp Lào, tôi được chứng kiến những
rừng xà nu bát ngát xanh tít tận chân trời. Đấy là những cây họ thông, hùng vĩ và
cao thượng, Mai dại và trong sạch. Mỗi cây cao vút vạm vớ nhựa ưá ra, tán lá
vừa thanh nhã vừa rắn rỏi”. Những cây xà nu có phẩm chất đặc biệt ấy đã gây
ấn tượng mạnh mẽ và khơi nguồn cảm hứng cho tác giả ba năm sau (1965) tạo
dựng lên hình tượng cây xà nu đặc sắc này.

Hình tượng cây xà nu được tác giả miêu tả từ nhiều góc độ và đưa lại hiệu quả
thẩm mỹ đặc biệt. Trong truyện ngắn này, nhà văn không chỉ mở đầu và kết thúc
truyện bằng hình ảnh rừng xà nu bát ngát đến chân trời, mà đã gần 20 lần nói

lại đen và đặc lại quện thành cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên nỗi đau thương
mất mát, lòng căm thù, kết tụ ý chí phản kháng.

Hình tượng Cây xà nu còn là hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống và phẩm chất
người dân Xôman nói riêng, Tây Nguyên nói chung: như giàu khát vọng tự do,
giải phóng, phẩm chất anh hùng, sức sống mãnh liệt của các thế hệ nối tiếp
nhau Chính vì hình ảnh Cây xà nu mang ý nghĩa tượng trưng, nên sự miêu tả
loài cây này, luôn luôn được tác giả đặt trong sự đối chiếu với con người, gợi ra
những liên tưởng về đời sống và số phận cùng phẩm chất của họ. Cây xà nu rất
ham ánh sáng và khí trời: “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Cũng
như Tnú, như dân làng Xôman yêu tự do, khát khao ánh sáng. Bất chấp sự hủy
diệt tàn khốc của bom đạn kẻ thù, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống
mãnh liệt không gì tiêu diệt, tàn phá nổi “Bên cạnh một cây Xà nu mới ngã gục,
đã có 4, 5 cây con mọc lên ngọn xanh rờn hình nhọn như mũi tên lao thẳng lên
bầu trời”, cũng như các thế hệ làng Xôman, lớp này kế tiếp lớp khác đứng lên,
tiếp tục cuộc chiến đấu: “Tuốt gươm không chịu xuống quỳ Tuổi xanh chẳng tiếc
sá chi bạc đầu Lớp cha trước, lớp con sau Đã thành đồng chí chung câu quân
hành” (Tố Hữu) Anh Quyết hy sinh thì có Tnú, Mai. Mai ngã xuống giữa tuổi
thanh xuân tràn đầy nhựa sống như Cây xà nu bị chặt đứt ngay giữa thân mình,
thì Dít đã lớn lên, và nhanh chóng đến không ngờ trở thành Bí thư chi bộ, chính
trị viên xã đội. Rồi những bé Heng, thế hệ tiếp theo của Dít cũng đang lớn lên
tiếp bước đàn anh. Chính cụ Mết cũng đã khẳng định được cái sức sống bất tử
ấy như một chân lí giản dị: “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ
ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”.

Nhưng ở rừng xà nu còn xuất hiện những cây khác vững chãi, không chịu khuất
phục trước giông bão, đạn bom của kẻ thù “ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở
cho xóm làng”. Phải chăng đó là hình ảnh cụ Mết - hiện thân của tinh thần quật
khởi, người đã nuôi ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Cách mạng? “Có
những Cây xà nu cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, long vũ,

cớ mà Nguyên Ngọc coi ông là "người mở đường tinh anh và tài năng" thời kỳ
đổi mới. Chỉ cần viện dẫn truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cũng đủ thấy
Nguyên Ngọc không quá lời.
Khi được đưa vào chương trình ngữ văn 12 mới, thay thế cho Mảnh trăng cuối
rừng, nhiều giáo viên văn tỏ ra nuối tiếc thiên diễm tình lãng mạn giữa bom đạn
Trường Sơn. Cùng với tâm lí ấy là sự cảm thấy khó khăn khi thâm nhập vào thế
giới nghệ thuật của Chiếc thuyền ngoài xa. Tác phẩm này quả thực không dễ
dàng tiếp nhận vì nó là tiếng nói đa thanh, đa nghĩa; nó đặt ra rất những vấn đề
bức xúc, phức tạp của thế sự nhưng lại giải quyết trong vỏn vẹn khuôn khổ một
truyện ngắn. Để hiểu tác phẩm này, có thể bắt đầu từ tình huống truyện. Đó là
tình huống của những nghịch lí.
Nghịch lí thứ nhất là sự kiện nhân vật Phùng - nghệ sĩ nhiếp ảnh được trưởng
phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh về cảnh biển buổi sáng có sương mù để
bổ sung xuất bản bộ lịch. Phùng đến vùng biển từng là bãi chiến trường cũ thời
chống Mĩ. Sau một tuần lễ kiên nhẫn chờ đợi, người nghệ sĩ đã gặp "một cảnh
"đắt" trời cho". Đó là tuyệt tác của tạo hóa đẹp như "một bức tranh mực tàu của
một danh họa thời cổ". Bằng con mắt nhạy cảm nhà nghề, Phùng phát hiện ra
một sự hài hòa, thơ mộng đến tuyệt diệu của cảnh biển buổi sáng. Trên cái
phông nền mờ nhòe của sương sớm có pha chút màu hồng dịu của bình minh,
có những bóng người trên thuyền im phắc được nhìn qua những mắt lưới. Phát
hiện ra vẻ đẹp "thực đơn giản và toàn bích" đó, tâm tư của Phùng không chỉ tràn
đầy những rung cảm thẩm mĩ mà còn như được thanh lọc để trở nên trong sáng
hơn. Trong lúc tâm hồn thăng hoa bởi cái đẹp, anh nghiệm thấy đúng như ai đó
đã phát hiện ra "bản thân cái đẹp chính là đạo đức". Vì đứng trước thế giới ấy -
thế giới mà Phùng gọi là chân lí của sự toàn thiện, toàn mĩ, anh đã cảm nhận rất
rõ "cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn". Như để làm dịu đi cơn khát, người
nghệ sĩ đã dùng chiếc máy ảnh bấm liên thanh hết một phần tư cuốn phim.
14
Nhưng cũng trớ trêu thay, chính trong lúc ấy, Phùng lại bàng hoàng chứng kiến
cảnh tượng không có một chút "thơ" nào. Từ trong cảnh biển đẹp như mơ ấy lại

quyết liệt thiện chí giúp đỡ của Phùng và Đẩu. Theo lời chị ta thì "quý tòa bắt tội
con cũng được, phạt tù con cũng được" nhưng "đừng bắt con bỏ nó"!
Điều gì làm nên cách ứng xử ("lấy cam chịu làm đầu") của người đàn bà qua
những nghịch lí ấy?
Người đàn bà cam chịu anh chồng vũ phu thô bạo bởi chị ta hiểu chồng và ít
nhiều có sự biết ơn. Biết ơn bởi lúc nhỏ chị ta đã là một "đứa con gái xấu, lại rỗ
mặt", "trong phố không ai lấy" và vì thế việc gã đàn ông làng chài trở thành
chồng đối với chị cũng là một sự hàm ơn. Trong những lời kể về cuộc đời dằng
dặc những nhọc nhằn của mình, người đàn bà không hề tỏ ra oán chồng. Chị ta
hiểu chồng mình bản chất không phải là kẻ độc ác. Trước kia anh ta "hiền lành
lắm" và không bao giờ đánh đập vợ. Chỉ khi đối mặt với sự nghèo túng, phải
gánh cả một gia đình đông con lão ta mới tha hóa. Nói về chồng mình, người
đàn bà tỏ ra rất vị tha. Chị ta cho rằng, việc người đàn ông đánh vợ không phải
lỗi ở hắn mà là ở mình. Nghĩa là do "đẻ nhiều quá" mà cuộc sống chật vật, căng
15
thẳng khiến "cứ lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh".
Lí do thứ hai khiến người đàn bà cam chịu là tình thương với con cái. Vì thương
con mà chị ta tìm mọi cách nhằm vẫn chấp nhận để cho chồng giải tỏa bằng
đánh đập mà vẫn không làm tổn thương đến con. Bản tính người mẹ đã tạo cho
người đàn bà một sự chịu đựng khủng khiếp. Đọc chiếc thuyền ngoài xa, lắm lúc
tôi cứ băn khoăn một lẽ, chẳng biết cái đức hi sinh, nhẫn nhịn truyền thống của
người phụ nữ Việt Nam - Cái phẩm chất mà từ ca dao, đến ông Tú rồi biết bao
áng thơ văn hiện đại hết lời ca ngợi ấy là ưu hay nhược điểm? Là đáng tự hào
hay không nên quá tự hào? Vì không muốn để con biết là mình bị đánh nên chị
ta chỉ dám cầu xin một "ân huệ" - xin chồng đưa mình lên bờ để đánh. Trong
những đứa con đông đúc của mình, chị ta thương nhất thằng Phác nên đã gửi
nó lên theo ông ngoại trên đất liền. Gửi thằng bé lên đó không chỉ vì tránh cho
tâm hồn non nớt của nó bị tổn thương mà quan trọng hơn là để nó khỏi làm điều
gì dại dột với bố. Thế nên, khi để thằng Phác chứng kiến mình bị đánh đập, khi
thằng Phác bất chấp tình cha con để bênh vực mẹ, người đàn bà đã không thể

tốt" nhưng "các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó
16
nhọc". Trái với vẻ nông nổi thiếu thực tế của Phùng và Đẩu, chị hiểu được vai trò
của người đàn ông trên thuyền để chống chọi với sóng gió, "dù hắn man rợ, tàn
bạo".
Đúng là cái đức hi sinh từ ngàn đời của người phụ nữ Việt đã di truyền cho
người đàn bà này sức chịu đựng khủng khiếp và cùng với sự chịu đựng ấy là
một nỗi khổ ải kỳ cục. Người chồng cũng khổ nhưng còn được giải tỏa bằng việc
đánh vợ. Thằng Phác cũng khổ nhưng còn có chỗ che chở là ông ngoại.
Người đàn bà dân chài này khổ còn vì không biết giải tỏa bằng cách nào, không
thể và không muốn chia sẻ cùng ai. Khổ đến mức, chỉ được chồng chiếu cố cho
một ân huệ là được lên bờ chịu đòn mà cũng như một cái ơn. Tất nhiên, không
phải chị ta không hạnh phúc nhưng đó là hạnh phúc tội nghiệp - hạnh phúc khi
đôi lúc nhìn lũ con được ăn no. Như vậy, người đàn bà vùng biển này cũng như
cô Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng, đều là kiểu "hạt ngọc ẩn" mà Nguyễn
Minh Châu cả đời tìm kiếm. Có điều, cô Nguyệt trong Mảnh Trăng cuối rừng là
mẫu hình lí tưởng chỉ để mơ ước, để ngắm nhìn chứ không có thực còn người
đàn bà vùng biển trong tác phẩm này thì hiện lên từ những lấm lem bụi đời. Chị
ta là "hạt ngọc ẩn" bởi lẽ đằng sau cái vẻ ngỡ như thô vụng, thậm chí u tối,
người đàn bà này không phải không có những suy nghĩ sắc sảo, sâu xa. Và "hạt
ngọc ẩn" ấy chỉ thực sự hiển lộ khi buộc phải bộc lộ mình.
Hé mở dần bản chất của người đàn bà vùng biến, thiên truyện đã đặt ra những
vấn đề có ý nghĩa xã hội bức thiết. Ý nghĩa ấy trước hết được gửi vào Đầu. Anh
là chánh án tòa án thông hiểu luật pháp lại sẵn có lòng hào hiệp cứu người
nhưng lại thiếu hiểu biết thực tế. Trong suy nghĩ đơn giản của Đẩu chỉ cần giúp
người đàn bà li hôn, trừng phạt lão đàn ông vũ phu kia là sẽ đem lại lẽ công
bằng. Nhưng nếu giả sử buộc phải li hôn, người đàn bà sẽ sống như thế nào với
sóng gió biển cả và nhất là phải nhìn cảnh lũ con bị chia sẻ "có bố thì không có
mẹ, có mẹ thì không có bố". Bài học đặt ra từ mâu thuẫn này là: muốn cải tạo
cuộc sống phải căn cứ vào thực tế cuộc sống làm cho cuộc sống "dễ thở" hơn

ngợi, có mặt trong nhiều gia đình "sành nghệ thuật" nhưng chính tác giả của nó
lại không bằng lòng vì đó là hình ảnh chỉ để ngắm nhìn, đó còn là sản phẩm của
cái nhìn dễ dãi về cuộc sống, chưa vươn tới được bản chất cuộc đời, chưa cất
lên được tiếng nói của những con người lam lũ nhọc nhằn. Sự phiến diện ấy bắt
nguồn từ chính Phùng. Anh thiết tha với cái đẹp, với nghệ thuật và cũng sẵn
lòng hào hiệp của người lính Trường Sơn nhưng cũng như Đẩu, Phùng còn
thiếu hiểu biết thực tế thành ra vẫn hời hợt trong cách nhìn đời, lúng túng không
giải thích được những nghịch lí phức tạp của cuộc sống. Sự phiến diện ấy còn
bởi Phùng chỉ sáng tạo theo đơn đặt hàng. Nghĩa là theo sự giao việc của
trưởng phòng - mà như thế không thể gọi là sáng tạo. Bản thân từ sáng tạo đã
bao hàm một cái gì của riêng mình, từ chính mình, là chống lại công thức
Trong hoàn cảnh thời đại, khi cái nhìn giản đơn về con người và cuộc sống còn
ngự trị trong sáng tác văn học thì tác phẩm này đặt ra một vấn đề liên quan đến
sự sống còn của nghệ thuật Việt Nam sau chiến tranh. Đó là cách nhìn con
người và cuộc đời. Người nghệ sĩ - theo nhà văn - phải nhìn cuộc đời bằng đôi
mắt toàn diện, phải thấy được những phức tạp của cuộc sống chứ không thể
nhìn cuộc sống một cách dễ dãi, xuôi chiều. Đó không chỉ là tâm nguyện của
riêng Nguyễn Minh Châu mà là của cả một lớp văn nghệ sĩ thời kỳ Đổi mới.
Còn nhớ hồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao viết truyện ngắn Đôi mắt
phê phán lối sống ích kỉ, suy nghĩ lạc lõng của văn sĩ Hoàng, ca ngợi Độ, tức là
ca ngợi mẫu hình văn nghệ sĩ từ bỏ cái cao siêu, cá nhân trong nghệ thuật, tự
nguyện dùng nghệ thuật để tuyên truyền, vận động Cách mạng góp phần giải
phóng dân tộc. Khi dùng nghệ thuật để tuyên truyền thì tất yếu nghệ thuật phải
tìm đến lối thể hiện đơn giản (vì lực lượng cách mạng chính là quần chúng nhân
dân trong những năm 40 -50 của thế kỷ trước). Tư tưởng ấy ngỡ mâu thuẫn mà
lại thống nhất với Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Thống nhất ở
chỗ Nam Cao đặt ra vấn đề "đôi mắt" của người nghệ sĩ trong thời chiến còn
Nguyễn Minh Châu thì trăn trở về cách nhìn con người và cuộc đời trong thời
bình. Thời chiến, mọi vấn đề thuộc về cá nhân phải tạm gạt bỏ, mọi nỗi đau phải
nén lại để lấy tinh thần đánh giặc nhưng thời bình văn chương không thể không

thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà. Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba
và một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú nhờ vào người khác. Do phải sống
tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi bản chất trong sạch,
ngay thẳng của mình. Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt, đau khổ và
quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt. Qua các cuộc đối thoại của
Trương Ba, tác giả dần tạo nên một mạch truyện dẫn dắt người xem hiểu sâu
hơn về Trương Ba

1. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt: Có thể nói Trương Ba đã
chết một cách vô lí, ai cũng biết cái chết của Trương Ba là do sự vô tâm và tắc
trách của Nam Tào. Nhưng sự sửa sai của Nam Tào và Bắc Đẩu theo lời khuyên
của Đế Thích nhằm trả lại công bằng cho Trương Ba lại đẩy Trương Ba vào một
nghịch cảnh vô lí hơn là linh hồn mình phải trú nhờ trong thể xác của kẻ khác.
Do phải sống nhờ thể xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo
19
một số nhu cầu hiển nhiên của xác thịt. Linh hồn nhân hậu, trong sạch, bản tính
ngay thẳng của Trương Ba xưa kia, nay vì phải sống mượn, vá lắp, tạm bợ và lệ
thuộc nên chẳng những đã không sai khiến được xác thịt thô phàm của anh
hàng thịt mà trái lại còn bị cái xác thịt ấy điều khiển. Đáng sợ hơn, linh hồn
Trương Ba dần dần bị nhiễm độc bởi cái tầm thường của xác thịt anh đồ tể. Hồn
Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ (Những câu cảm
thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải). Hồn bức bối bởi không
thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không
còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn
Trương Ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng.Ý thức
được điều đó linh hồn Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng
cách tách ra khỏi xác thịt để tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào thể xác. Xác
hàng thịt biết rõ những cố gắng đó là vô ích, đã cười nhạo hồn Trương Ba, tuyên
bố về sức mạnh âm u, đui mù ghê gớm của mình, ranh mãnh dồn hồn Trương
Ba vào thế đuối lí và hơn nữa, ve vãn hồn Trương Ba thoà hiệp vì, theo lí lẽ của

"Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy
20
ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy mỗi ngày thầy một đổi khác
dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nối có lúc chính
con cũng không nhận ra thầy nữa ".
• Trái lại, cái Gái, cháu Trương Ba thì phản ứng quyết liệt và dữ dội. Tâm hồn
tuổi thơ vốn trong sạch, không chấp nhận sự tầm thường, dung tục nên không
chấp nhận người ông trong thể xác anh hàng thịt thô lỗ. Cái Gái, cháu ông giờ
đây đã không cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân (tôi không phải là
cháu ông Ông nội tôi chết rồi). Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây
nó không thể chấp nhận cái con người có "bàn tay giết lợn", bàn chân "to bè như
cái xẻng" đã làm "gãy tiệt cái chồi non", "giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm"
trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà
làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với
nó, "Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy". Nỗi giận dữ của cái Gái đã
biến thành sự xua đuổi quyết liệt: "Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút
đi!". Tuy nhiên, họ chỉ là những người dân thường, họ không giúp gì được cho
tình trạng hiện tại của Trương Ba. Tình huống kịch thúc đẩy Trương Ba phải lựa
chọn và sau màn độc thoại nội tâm (hồn Trương Ba thách thức xác anh hàng
thịt: "có thật là không còn cách nào khác?" và phản kháng quyết liệt: "Không cần
đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!"). !". Đây là lời độc thoại có tính
chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt
khoát.

3. Màn đối thoại giữa. Trương Ba với Đế Thích: Gặp lại Đế Thích, Trương Ba thể
hiện thái độ kiên quyết chối từ, không chấp nhận cái cảnh phải sống bên trong
một đằng, bên ngoài một nẻo nữa và muốn được là mình một cách toàn vẹn
"Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi
toàn vẹn". Qua lời thoại này của nhân vật Trương Ba. Lưu Quang Vũ muốn gửi
gắm vào đó thông điệp: Con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài

mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác,
đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc
Đế Thích xuất hiện. Qua màn đối thoại, có thể thấy tác giả gửi gắm nhiều thông
điệp vừa trực tiếp vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ, quyết liệt vừa kín đáo và sâu sắc
về thời chúng ta đang sống. Tuy vậy, chỉ cần nhấn mạnh ở đây vẻ đẹp tâm hồn
của những người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo
để bảo vệ quyền được sống toàn vẹn, hợp với lẽ tự nhiên cùng sự hoàn thiện
nhân cách. Chất thơ của kịch Lưu Quang Vũ cũng được bộc lộ ở đây.

4. Màn kết: Trương Ba trả lại xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết để linh
hôn được trong sạch và hoá thân vào các sự vật thân thương, tồn tại vĩnh viễn
bên cạnh những người thân yêu của mình. Cuộc sống lại tuần hoàn theo quy
luật của muôn đời. Màn kết với chất thơ sâu lắng đã đem lại âm hưởng thanh
thoát cho một bi kịch lạc quan đồng thời truyền đi thông điệp về sự chiến thăng
của cái Thiện, cái Đẹp và của sự sống đích thực.

C. KẾT BÀI

Không chí có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, rong vở kịch
nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số
biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ: Thứ nhất , con người đang có nguy
cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến
nỗi trở nên phàm phu, thô thiển. Thứ hai , lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh
thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không
phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn. Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực
đoan, đáng phê phán. Ngoài ra , vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không
kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng
không được sống là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị
tha hóa do danh và lợi. Với tất cả những ý nghĩa đó, đoạn trích rất tiêu biểu cho
phong cách viết kịch của Lưu Quang Vũ.

ghẹo. Vốn tính hay đùa, Tràng lại tầm phơ tầm phào “Nói đùa chứ có về với tớ
thì ra khuân đồ lên xe rồi về”. Nói đùa thế thôi, ai ngờ thị về thật. Lúc đầu Tràng
phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết“mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo
này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Đó là
nỗi sợ hãi có thật nhất lại là thời đói kém như thế này. Nhưng có lẽ tình thương
người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi “
Chậc kệ!” . Chỉ một từ “kệ” thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ
hãi, mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình.

Bình luận: Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm
vào nhau để nhen lên ngọn lửa. Tội nghiệp thay, người này thì cần hạnh phúc
còn người kia thì lại cần chỗ dựa. Một người vì tình yêu, người kia vì miếng ăn.
Nói tóm lại là họ LIỀU, nhưng cái Liều kia của họ làm người ta bật khóc. Bây giờ
thì họ là người dũng cảm, dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua
ranh giới của sự sống và cái chết. Họ làm ta khâm phục và kính trọng, phải
chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin của Kim Lân về một giống nòi sẽ
23
tiếp nối sẽ sinh sôi khi mà cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn
đói ?

4. Tình huống này đã gây ngạc nhiên cho cả xóm ngụ cư, cho mẹ Tràng, và cả
bản thân của Tràng nữa, vì hai lí do: - Một là, Tràng - một người nghèo túng, xấu
xí, dân ngụ cư (bị người làng khinh bỉ) xưa nay đàn bà con gái chẳng ai thèm để
ý. Vả lại không có tiền cưới vợ, vậy mà bỗng dưng lấy được vợ, lại là vợ theo
hẳn hoi. - Hai là, giữa lúc đói kém này, người như Tràng, chỉ làm nghề đẩy xe bò
thuê kiếm sống qua ngày, đến nuôi thân còn không nổi lại còn đèo bòng vợ với
con. Bời vậy mới dẫn đến SỰ NGẠC NHIÊN VÀ THƯƠNG CẢM: Trước hết là
sự ngạc nhiên của cả xóm ngụ cư: Nhìn theo bóng Tràng và người đàn bà, mỗi
người một suy nghĩ khác nhau, ai cũng ngạc nhiên, phân vân “ai đấy nhỉ ? Hay
là người nhà bà cụ Tứ dưới quê lên”, có người cười “ hay là vợ anh cu Tràng ?”,

Vào một đêm ngoài rừng mưa rì rào như gió nhẹ, dưới ánh lửa xà
nu bập bùng, tất cả dân làng Xôman già trẻ gái trai nghe cụ Mết, một già
làng có thân hình vạm vỡ quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu rài
ngang ngực kể về cuộc đời đầy bi hùng của Tnú.
Lúc còn bé đến khi trở thành chiến sĩ.
Tnú là người con của dân làng Xôman, cha mẹ mất sớm và được
dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng "có cái bụng
thương núi, thương nước", Tnú đã sớm có lòng yêu thương nhân dân,
làng xóm. Từ tấm lòng này, Tnú đã mở rộng thành tình yêu gắn bó trung
thành thủy chung sâu nặng với Cách mạng, cán bộ Cách mạng. Bởi ngay
từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết, người gìn giữ và truyền ngọn
lửa Cách mạng từ thế hệ này sang thế hệ khác cho hay: "Cán bộ là Đảng.
Đảng còn nước non này còn". Vì vậy ngay từ chặng đầu của cuộc đời,
Tnú đã xuất hiện với tư cách của người anh hùng Tây Nguyên thời chống
Mỹ. Dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc táo bạo, đầy quả cảm như
Kim Đồng, Lê Văn Tám, Vừ A Dính Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã
man của kẻ thù, chặt đầu những người đi nuôi cán bộ - đầu anh Xút, bà
Nhan đang bị chúng treo lủng lẳng đầu bản xóm, Tnú đã cùng với Mai
xung phong vào rừng bảo vệ anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng.
Đây là một công việc vô cùng khó khăn và đầy nguy hiểm nhưng Mai à
Tnú đã làm rất tốt để dân làng Xô man mãi tự hào " Năm năm chưa hề có
cán bộ bị giặc bắt hoặc bị giết ở trong rừng".
Tnú còn là một người có phẩm chất chính trực, trong sáng, trung
thực, thẳng thắn như cây xà nu. Tnú quyết tâm học cho được cái chữ Cụ
Hồ để trở thành cán bộ giỏi thay anh Quyết, nếu không may anh Quyết bị
hy sinh. Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa
thư cho anh Quyết. Nhưng Tnú học chữ hay quên. Bởi vậy, khi học chữ
thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình bằng cách "cầm
hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng". Hành động này có cái
gì đó hơi nóng nảy, nông nổi nhưng nó biểu lộ ý chí, quyết tâm sắt đá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status