Giảng dạy thơ trữ tình - Pdf 16

GIẢNG DẠY THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI TRONG NHÀ TRƯỜNG
PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Văn bản văn chương là sự hư cấu. Bằng một bài thơ, tác giả trình bày một bức tranh về
thế giới bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Thế giới đó thường có thể có hoặc không có trong thực
tế, cho nên, thơ trữ tình là thế giới khách quan được chủ quan hoá và được cá thể hoá.
Hêghen từng nhận xét: Tự sự là thế giới của khách thể, còn trữ tình là thế giới của chủ thể.
Như vậy, nguồn gốc và điểm tựa của trữ tình là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất mang
nội dung.
Cái đặc biệt của một bài thơ trữ tình là luôn có một người nói bên trong về quan hệ của
họ với thế giới (thiên nhiên, xã hội, gia đình, bạn bè, có khi đề cập cả tới những vấn đề lớn
lao), về mối quan hệ của họ với con người (hi vọng, thất vọng, nỗi buồn, tình bạn, tình yêu,
sự trung thành hoặc phản bội ). Chẳng hạn các nhà thơ tìm hiểu: Con người là gì? Tôi là
ai? Tôi muốn gì và muốn như thế nào ?
Trong thơ trữ tình, tình cảm có vai trò hết sức quan trọng. Nói về vai trò của tình cảm,
Goócki cho rằng: Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm. Tình cảm trong thơ gắn trực
tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát
triển. Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do
cuộc sống tác động và tạo nên. Không có cuộc sống, không có thơ.
Vì thơ thường ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch) nên các tác giả có thể thể hiện cảm
xúc về con người, cuộc sống, thiên nhiên tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt
thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc
vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên thơ thường lời ít, ý khôn cùng . "Hãy biết
rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc bàn tay đang viết". "Nhà thơ không viết một
chữ nào nếu cả toàn thân không rung động" (Alfret de Mussé). Do đó, thơ có thể tạo điều kiện
cho người đọc phát hiện đời sống. Nó động viên người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm
ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như nét đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ.
Thơ còn giúp cho người đọc nhận thức được các phạm trù thẩm mĩ như: Cái đẹp, cái cao
thượng, cái hài hoà, cái xót thương Thơ còn giúp người đọc cảm nhận được âm điệu của
ngôn ngữ khiến người ta có thể đọc, ngâm, thậm chí hát.
Trong nhà trường, dạy học thơ rất khó, cho nên, khi phân tích thơ, cần tiến hành theo các

Chủ đề lưu giữ tư tưởng chủ đạo của bài thơ mà nhà thơ đã khái quát hoá một vấn đề xã
hội hoặc đời sống đặc biệt. Chủ đề xác định cách xây dựng và cách thể hiện bài thơ. Do vậy
hiểu được chủ đề là bước quan trọng đầu tiên để có thể phân tích được bài thơ.
Vào giai đoạn cuối của việc phân tích, học sinh có thể kiểm tra lại cách hiểu chủ đề tác
phẩm lúc ban đầu của mình và chữa lại.
Bước 4: Xác định hình tượng thơ và âm điệu chủ đạo
Một bài thơ luôn luôn là sự thống nhất giữa hình tượng, âm điệu và ý nghĩa. Ba lĩnh
vực này được đặt ở những phần khác nhau. Những phần đó có tác động qua lại chặt chẽ.
BÀI THƠ
Cấp độ hình tượng Cấp độ âm thanh
+ Chủ thể trữ tình + Vần
+ Hình tượng trữ tình + Nhịp điệu
+ Tình huống trữ tình + Tác động của âm
+ Hình tượng ngôn ngữ thanh từ việc lựa chọn
Các từ
Phương thức nói:
+ Phương thức diễn ngôn
+ Phương thức diễn ý
Các cấp độ ý nghĩa
+ Vùng ý nghĩa của từng phần, từ các cấp độ hình tượng và âm thanh + Vùng ý nghĩa của
toàn văn bản Trên đây là sơ đồ cấu trúc một bài thơ.
+ Cấp độ hình tượng bao gồm:
- Chủ thể trữ tình
- Tình huống trữ tình
2
Thông thường, mỗi bài thơ đều có ba cấp độ như sau:
+ Cấp độ hình tượng bao gồm
- Chủ thể trữ tình
- Hình tượng trữ tình
- Hình tượng ngôn ngữ

- Viết ba câu: Em hình dung tình huống thơ trong tác phẩm?
- Bằng tưởng tượng, em hãy giới thiệu tình huống thơ đó
* Phân tích hình tượng trữ tình: Như người hoạ sĩ, nhà thơ cũng xây dựng hình tượng
trữ tình thông qua những phần (hoặc những đoạn) khác nhau. Người ta gọi đó là hình tượng
3
thơ. Nhà thơ đã dùng ngôn ngữ nghệ thuật để thể hiện hình tượng đó. Người ta có thể vẽ hoặc
dựng thành phim những hình tượng trữ tình. Để nâng cao sức tưởng tượng cho người đọc, các
nhà thơ đã sử dụng phương tiện quan trọng là ngôn ngữ nghệ thuật.
Ví dụ : Phân tích hình tượng trữ tình trong bài thơ Vội vàng
Để phân tích được, người học sẽ phải đọc cả bài thơ và đọc kĩ khổ thơ 1, suy nghĩ và
phân tích để nêu được: nhà thơ nhìn thế giới bên ngoài và khát vọng được níu giữ lại tất cả cái
đẹp trong thiên nhiên để con người luôn luôn được tận hưởng và chiêm ngưỡng.
Sau đó phải nghiên cứu xem: để xây dựng hình tượng trữ tình, tác giả đã sử dụng
những loại hình ngôn ngữ nào.
Trong bài thơ, tác giả đã dùng hàng loạt các động từ mạnh để biểu đạt khát vọng cháy
bỏng đó, cho dù khát vọng đó là phi lí: Muốn tắt nắng, muốn buộc gió, muốn ôm, thâu,
riết và dùng hàng loạt điệp từ và điệp ngữ: này đây, tôi muốn, khiến người đọc có cảm
giác: nhà thơ đang cuống quýt, đang bối rối vô cùng về sự bất lực của mình trước vẻ đẹp
của tự nhiên.
Tiếp đó, người học có thể hình dung ra vị thế của nhà thơ và khát vọng cháy bỏng của tác
giả. Đó là khát vọng được thể hiện tình yêu cuộc sống mạnh mẽ, tình yêu cái đẹp và khát
vọng được hoà nhập vào thế giới của cái đẹp. Nhà thơ đã vẽ bằng ngôn từ bức tranh phong
cảnh thiên nhiên và cuộc sống rất sống động với đủ các gam màu, với ánh sáng, đường nét,
với các cung bậc cảm xúc ở độ tuyệt đích của chúng, cùng với nhịp thơ, hơi thơ và giòng thơ
thật đắm say, thật hồ hởi, thật cuồng nhiệt, khiến người đọc như cũng bị cuốn theo cái rạo
rực, mê say đó.
Trên cơ sở xác định các loại hình ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm, người học có
thể tiếp tục hình dung ra các cấp độ ý nghĩa của bài thơ: Phải chăng, ngay từ khổ thơ đầu, nhà
thơ đã muốn nói với bạn đọc rằng: Cuộc sống ơi, ngươi đẹp lắm. Hãy ban tặng cho ta, cho
muôn loài cái vẻ đẹp đó và hãy làm sao vĩnh cửu hoá cái đẹp ấy cho người đời được tận

Phương thức diễn đạt của chủ thể trữ tình được xác định bởi tình huống thơ, trong đó chủ
thể trữ tình phát ngôn, suy nghĩ và cảm nhận theo quan điểm của họ, thể hiện qua các hình
thức ngôn ngữ. Chủ thể trữ tình có thể nói về mình, nói về người khác hoặc nói về một cái gì
đó. Phương thức nói hoặc phương thức diễn ngôn được xác định bởi các hàng, các dòng thơ
và ngữ điệu. Phương thức diễn đạt đó có khi là một hình tượng nhỏ, có lúc là hình tượng bộ
phận giữa các cấp độ hình tượng và các cung bậc của giọng điệu thơ.
+ Xác định vần điệu: để xác định vần điệu, cần chú ý đến các hình thức vần điệu mà các
nhà thơ hay sử dụng nhất
- Vần cặp đôi (aabb)
VD: hai câu thơ
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
(Vội vàng - Xuân Diệu)
Tác dụng: Vần cặp đôi xuất hiện khi các câu thơ kế tục nhau, giải thích, bổ sung cho
nhau.
- Vần chéo (abab):
VD: Hai câu thơ
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
(Từ ấy - Tố Hữu )
Tác dụng: Tạo ra sự thống nhất bên trong cho các câu thơ. Thông qua sự chuyển đổi các
giòng thơ, nó được vận động và tạo nên nhạc điệu.
- Vần gián cách (abcd): Chẳng hạn các câu thơ sau
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp…
Củi một cành khô lạc mấy giòng
(Tràng giang - Huy Cận )
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
5
(Tây Tiến - Quang Dũng )

nhấn mạnh một cái gì đó. Âm điệu có thể được tạo nên bằng điệp từ, từ láy hay từ các câu thơ
cắt dòng, từ các hình ảnh
- Chức năng của âm điệu: Các câu thơ cần được tác giả nhấn mạnh phải vang lên một
cách mạnh mẽ, quả quyết và có ảnh hưởng lớn nhất tới người nghe, đôi khi có trường hợp nó
còn tạo cho người nghe cảm giác nặng nề, khó chịu. Ví dụ như câu thơ:
Mày ngài tràng giang buồn muôn đời
Nhài đàn giót nguyệt vú đôi thơm
6
Cũng có khi âm điệu góp phần làm tăng tốc độ cũng như nhịp điệu cảm xúc trong bài thơ.
Chẳng hạn trong bài thơ Vội vàng, Xuân Diệu viết 2 câu thơ:
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Tác giả muốn nhấn mạnh sự tuần hoàn nhanh chóng của thời gian, cũng có nghĩa là
của tuổi trẻ. Trong sự nhấn mạnh này, người đọc cảm thấy có sự nuối tiếc, khiến cho câu
thơ vừa có sức ngân vang vừa có âm điệu buồn.
+ Xác định trọng âm: (nhấn mạnh, không nhấn mạnh), nhằm gây ấn tượng trực tiếp đến
người đọc, người nghe, tạo cảm xúc bất ngờ hoặc căng thẳng. Ví dụ: trong bài Vội vàng có
câu thơ sau:
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
Trong câu thơ, tác giả đã sử dụng một từ rất lạ và độc đáo: "Cắn". Cắn là một động từ,
miêu tả một hành động mạnh: Dùng răng cắn vào một vật nào đó để ăn hoặc để làm cho đau.
Ở đây, động từ này đã được tác giả chuyển nghĩa thành sự chiếm lĩnh, sự tận hưởng, nhằm
biểu đạt một ham muốn, một mong muốn, một niềm đam mê cháy bỏng của mình đối với
thiên nhiên, cuộc sống và con người.
Đặt từ "cắn" vào câu thơ và đặt câu thơ trong mối tương quan với cả bài thơ, chúng ta
hiểu: Đến đây, cảm xúc của tác giả dâng trào, mãnh liệt đến cuồng nhiệt, nhà thơ muốn được
tận hưởng đến tận độ cái đẹp, muốn được biến cái đẹp thành của riêng mình để được sở hữu,
chiếm lĩnh. Trọng âm của câu thơ dồn vào chữ "cắn", nó có tác dụng như kéo căng dòng ý
thức, đẩy cường độ của câu thơ lên cao, mạnh và tạo nên điểm nhấn cho cả câu thơ với sự
ngắt nhịp: 3/2/1/2. Câu thơ cũng là trung tâm thẩm mĩ của cả bài thơ và thể hiện chủ đề của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status