Đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển nhà ở đô thị nước ta” - Pdf 16

Đề án chuyên ngành
Luận văn
Đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát
triển nhà ở đô thị nước ta”
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
MỤC LỤC
Lời nói đầu
I.Cơ sở lý luận của đề tài
1.Khái niệm về nhà ở
2.Ý nghĩa của nhà ở
3.Cung- cầu nhà ở
4.Quản lý Nhà nước về nhà ở
II. Thực trạng nhà ở đô thị và những vấn đề đặt ra
1.Thực trạng phát triển nhà ở đô thị
2.Những vấn đề đặt ra
III. Những giải pháp nhằm khuyến khích phát triển nhà ở đô thị
nước ta
1.Quan điểm phát triển nhà ở đô thị
2.Những phương hướng và mục tiêu phát triển nhà ở đô thị
3.Những giải pháp nhằm khuyến khích phát triển nhà ở đô thị
Kết luận
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
LỜI NÓI ĐẦU
Nhà ở là nhu cầu thiết yếu của mọi người dân trong xã hội, là
vấn đề quốc kế dân sinh .Việc giải quyết chỗ ở được nhân dân coi như là
điều kiện tiên quyết cho việc thành công trong đường đời, sự nghiệp của
mỗi cá nhân và là một việc lớn trong đời của một con người.Vì thế các
nước trên thế giới đều có chính sách phát triển nhà ở .Đối với nước ta
Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm đến nhà ở cho người dân .Điều 62

Nhà ở là sản phẩm của hoạt động xây dựng và không gian bên
trong có tổ chức được ngăn cách với môi trường bên ngoài dùng để ở.
*Trên góc độ quản lý kinh tế :
Nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống con người,
là bộ phận quan trọng bảo vệ con người trước các hiện tượng tự nhiên .
1.2.Đặc điểm nhà ở:
*Nhà ở là tài sản không thể di dời được, nó gắn liền vưới đất,
được xây dựng trên đất. Sự gắn liền với đất này chỉ vị trí của nó được
phân bố ở đâu. Mà hiện nay các giao dịch trên thị trường nhà đất đô thị
người ta quan tâm nhiều đến vị trí của nhà đất vì vị trí nhà đất có ảnh
hưởng rất lớn đến giá trị tài sản nhà đất.
*Nhà ở là một bất động sản có tính bền vững, thời gian sử
dụng dài, hao mòn chậm. Đặc điểm này có thuận lợi cho người sử dụng
nhất là đối với người có thu nhập thấp , vì họ có khả năng nâng cấp, xây
dựng mới nhà ở là rất kém. Họ có thể xây dựng một ngôi nhà có chất
lượng trung bình và sử dụng nó trong khoảng thời gian gần 20 năm mà
không phải sửa chữa lớn, trừ những duy tu bảo dưỡng nhỏ như sơn quét
vôi tường, cửa
*Nhà ở là tài sản có giá trị lớn. So với các hàng hoá khác khi
mua sắm thì việc xây dựng nhà ở đòi hỏi một khoản vốn đầu tư lớn và
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
nhất là hiện nay giá nhà đất, nguyên vật liệu xây dựng ở các đô thị rất
cao.
*Nhà ở rất đa dạng, phong phú cả về số lượng và chất lượng.
Đặc điểm này một mặt là do sự đa dạng của các tầng lớp dân cư đô thị,
mặt khác là thu nhập của dân cư đô thị đã tăng lên, phong tục tập quán
truyền thống từng nơi khác nhau.
2.Ý nghĩa của nhà ở :
*Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất trọng yếu để phát triển kinh

những tư liệu sinh hoạt khác. Như Ph-Ăngghen nói: “Con người trước
hết phải ăn uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới đến làm chính trị, khoa học,
nghệ thuật, tôn giáo ”
(1)
Nhà ở là phương tiện quan trọng để bảo vệ con người trước
các hiện tượng tự nhiên như nắng, mưa, gió, bão, giá rét mà còn là nơi
nuôi dưỡng , giáo dục đào tạo con người từ khi sinh ra và lớn lên, tạo
điều kiện tái sản xuất sức lao động của con người.
*Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất ảnh hưởng tới sinh hoạt xã
hội và điều chỉnh quan hệ xã hội.
Nhà ở không những là tài sản có giá trị, có tầm quan trọng đặc
biệt đối với mỗi gia đình, mà còn là một trong những tiêu chuẩn làm
thước đo phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, mức
sống dân cư của một dân tộc. Một thực tế là khi nhìn vào một ngôi nhà ta
có thể biết được phong tục tập quán, đời sống vật chất tinh thần của
những người đang sống trong ngôi nhà đó.Đối tượng xã hội ngày càng
phát triển, tỷ lệ người già, người độc thân, các cặp vợ chồng mới ngày
càng tăng dẫn tới phải xây dựng những mẫu nhà, mẫu căn hộ thích hợp.
Xã hội phát triển, căn hộ đông người sẽ giảm, lối sống, tập quán của
C.Mác- Ăngghen: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, trang500.
người dân đô thị thay đổi. Sự hình thành và phát triển các khu dân cư và
quá trình phát triển đô thị luôn gắn liền với phát triển nhà ở. Đi kèm là
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
sự đa dạng về kiến trúc nhà ở , thể hiện ở phong cách xây dựng, vật liệu
xây dựng , thiết kế bộc lộ quan điểm tôn giáo , nhân sinh , thẩm mỹ.
3. Cung- Cầu nhà ở:
*Cung nhà ở:
Theo các nhà kinh tế học thì lĩnh vực sản xuất nhà ở được
phân chia thành ba khu vực: khu vực Nhà nước, khu vực tư nhân và khu

-Khu vực nhà ở không chính thức: Đây là khu vực xây dựng
nhà ở của tư nhân không theo quy tắc, hoặc nhà ở được xây dựng trên
các giá trị của cộng đồng và tự giúp đỡ lẫn nhau. Nhà ở trong khu vực
không chính thức có vô số hình thức, tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế – xã
hội và thiết chế đăc thù của dân cư đô thị. Khu vực này, trên thực tế
đóng góp vào sự gia tăng quỹ nhà ở , đặc biệt đối với những tầng lớp dân
cư có thu nhập thấp.
*Cầu về nhà ở đô thị :
Tại các đô thị các đối tượng có nhu cầu nhà ở bao gồm :
-Nhà ở cho số dân tăng tự nhiên và tăng cơ học.
-Nhà ở cho những hộ chưa có nhà, đang phải ở chung, ở nhờ,
hoặc phải sống tạm bợ tại các khu ổ chuột.
-Nhà ở cho công chức và lực lượng vũ trang.
-Nhà ở nới thêm diện tích ở cho những hộ hiện đang ở quá
chật.
-Nhà ở phục vụ các đối tượng tái định cư để chỉnh trang và
xây dựng các công trình hạ tầng đô thị .
-Nhà ở cho viên chức và người lao động tại các khu công
nghiệp tập trung.
-Nhà ở cho học sinh, sinh viên.
-Nhà ở cho người nước ngoài đến làm việc hoặc kinh doanh.
-Nhà ở phục vụ các nhu cầu khác.
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
Nhu cầu nhà ở tại các đô thị rất đa dạng vì dân cư đô thị làm
nhiều nghề khác nhau và thu nhập giữa các tầng lớp dân cư đô thị có sự
chênh lệch lớn.
4.Quản lý Nhà nước về nhà ở:
Trong pháp lệnh ngày 26-3-1991 đã quy định rõ nội dung quản
lý Nhà nước về nhà ở. Nội dung quản lý Nhà nước về nhà ở bao gồm:

bọ mặt mới cho sự phát triển văn minh của đất nước.
*Cho phép hoặc đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà ở .
Để bảo đảm nhà ở được xây dựng theo đúng quy hoạch đã được
duyệt, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của quy hoạch tổng thể của
từng địa phương khi xây dựng nhà ở cần có sự chỉ đạo, cho phép của cấp
có thẩm quyền.
*Đăng ký, điều tra, thống kê nhà ở.
Đây là một nôi dung cơ bản trong công tác quản lý Nhà nước
về nhà ở. Nó bảo đảm quyền lợi của người chủ sở hữu nhà ở trước pháp
luật và bảo đảm cho cơ quan quản lý nắm được tình hình nhà ở của địa
phương mình và lập kế hoạch phát triển nhà ở.
*Thanh tra Nhà nước, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm
pháp luật nhà ở.
Công tác thanh tra và kiểm tra là chức năng của bất cứ cấp quản
lý nào. Nó có nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định
của pháp luật về quản lý sử dụng nhà ở.
Với các nội dung trên, Nhà nước thông qua các công cụ quản lý,
các quy định mang tính pháp lý để hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính
sách phát triển nhà ở phù hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất
nước.
II.Thực trạng phát triển nhà ở đô thị và những vấn đề đặt ra:
1.Thực trạng phát triển nhà ở đô thị :
1.1.Trước thời kỳ đổi mới:
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
Trong giai đoạn này tuy thiết kế xây dựng còn một số nhược
điểm nhưng bằng nguồn vốn tập trung của Nhà nước, nên đã giải quyết
cơ bản chỗ ở cho đông đảo CBCNVtrên một số đô thị lớn. Tính bao cấp
tuyệt đối trong lĩnh vực nhà ở đô thị được thể hiện trong việc cấp nhà
cho thuê với khoản tiền thuê rất thấp (1% tiền lương).Do đó đã dẫn đến

những điều kiện nhà ở chật hẹp, thiếu không gian.
1.2.Từ 1986 đến nay:
Từ năm 1986 đến nay, chế độ bao cấp nhà ở không còn nữa.
Nhà ở đô thị do dân tự lo, hoặc Nhà nước và nhân dân cùng làm, bộ mặt
các khu nhà thay đổi rõ rệt.Theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
lĩnh vực nhà ở cũng bắt đầu chuyển biến. Đến cuối 1990 diện tích nhà cả
nước ta có khoảng 500 triệu m
2
, trong đó tại các đô thị là 81 triệu m
2
, nhà
ở thuộc sở hữu Nhà nước có khoảng 26 triệu m
2
(chủ yếu là các đô thi).
Diện tích bình quân đầu người cả nước khoảng 7m
2
, trong đó ở đô thị là
5,8m
2
/ người. Trong những năm từ 1991-1995, các đô thị cả nước xây
dựng được 26 triệum
2
nhà ở. Đến cuối 1995 diện tích nhà ở đô thị nước ta
có khoảng 107 triệu m
2
, bình quân là 7,2 m
2
/người. Ước tính từ 1996-
2000, các đô thị cả nước xây dựng được 40 triệu m
2

hướng tăng dần. Điều này làm cho quỹ nhà ở tăng lên đáng kể cả về số
lượng và chất lượng, giải quyết được một bước nhu cầu nhà ở của dân
cư.
Tại các đô thị lớn, nhiều khu nhà ở mới đã và đang được xây
dựng theo quy hoạch với quy mô hiện đại, đồng bộ, bao gồm cả các dịch
vụ thương mại, thể thao, vui chơi giải trí và các công trình hạ tầng kỹ
thuật đúng tiêu chuẩn.Đó là khu đô thị mới Định Công, Linh Đàm, khu
làng Quốc tế Thăng Long, khu đô thị mới Trung Hoà - Nhân Chính( tại
Hà Nội ), khu đô thị mới Nam Sài Gòn, An Phú, An Khánh(tại Thành
phố Hồ Chí Minh), khu đô thị mới Cát Bi(tại Hải Phòng) Nhiều khu tái
định cư, khu nhà ở cho người có thu nhập thấp đã và đang được xây
dựng tại một số đô thị .Tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giải toả được
hàng ngàn căn nhà ổ chuột , cải thiện môi trường cho thàng phố và giải
quyết nhà ở mới cho dân là một thành công lớn trong thời gian qua.
Hiện tại, hầu hết nhà ở đô thị đều xây dựng bằng vật liệu bền,
nhưng cũng còn nhiều nhà xây dựng tạm bợ. Quá nửa nhà ở đô thị có
tuổi thọ trên 50 năm cần được sửa chữa và nâng cấp. Nhiều nhà nguy
hiểm –“tháp nghiêng” đầy hiểm hoạ phải phá đi làm lại. Tại Thành phố
Hà Nội có hơn 300.000 m
2
nhà hư hỏng nặng, trong đó có 44 chung cư
cao tầng bị lún lứt nguy hiểm.Tại Thành phố Hồ Chí Minh có hơn
1.000.000 m
2
hư hỏng nặng, trong đó có 105 chung cư cần tháo dỡ xây
dựng mới. Nhiều hộ sống chen chúc trong một nhà thiếu tiện nghi phục
vụ tối thiểu. Cơ sở hạ tầng kém chất lượng làm cho đời sống dân cư đô
thị gặp khó khăn, môi trường bị ô nhiễm.
2.Những vấn đề đặt ra:
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc xây dựng, phát triển

vốn Ngân sách đáng kể cho đầu tư phát triển nhà ở. Tuy nhiên trong
những năm gần đây nguồn vốn này chủ yếu dựa vào vốn huy động của
người dân, vốn tự có của doanh nghiệp và vốn vay Ngân hàng. Từ đó đã
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
hình thành nhiều tổ chức tư vấn, đơn vị thi công ngoài quốc doanh, làm
cho quy hoạch bị phá vỡ, bộc lộ tính chất tự phát, manh mún.
Hiện nay chưa có cơ chế tài chính thích hợp cho khuyến
khích đầu tư phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho các dối tượng ưu đãi
và có thu nhập thấp .
*Về thị trường nhà đất:
Trên thực tế đã hình thành thị trường nhà ở và đất đai đô thị.
Tuy nhiên, Nhà nước chưa có chính sách thích hợp để quản lý thị trường
này, tạo điều kiện để thị trường này hoạt động lành mạnh. Từ những năm
1990- 1995, thị trường nhà đất hoạt động rất sôi động, nhất là ở các
thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao như: Thành phố Hồ Chí
Minh, Hà Nội, Biên Hoà, Vũng Tàu.Việc đất đai và nhà ở đô thị được thị
trường hoá cùng với việc đầu cơ đã kéo theo giá đất tăng nhanh, nhất là
ở những nơi sinh lợi lớn. Trong nền kinh tế thị trường, việc thị trường
nhà đất hoạt động không lành mạnh, mất cân đối giữa cung và cầu nhà ở,
sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết nhà ở cho các tầng lớp dân cư.
III.Những giải pháp nhằm phát triển nhà ở đô thị nước ta:
1.Quan điểm phát triển nhà ở đô thị :
-Quyền có chỗ ở là một quyền cơ bản của con người được
Nhà nước công nhận và chăm lo, thông qua các chính sách tạo điều kiện
để nhân dân tạo lập nhà ở phù hợp với nhu cầu và khả năng kinh tế của
mình. Nhà nước tạo điều kiện để những người có thu nhập thấp có thể
cải thiện nhà ở thông qua cơ chế chính sách tạo điều kiện của Nhà nước.
Phải lấy phát triển nhà ở để vừa giải quyết nhu cầu về chỗ ở kết hợp với
giải quyết các vấn đề tồn tại do lịch sử để lại trong lĩnh vực nhà đất .

Phấn đấu đến 2010 mỗi hộ gia đình có chỗ ở thích hợp thông
qua việc tạo lập (xây dựng, mua )hoặc thuê nhà ở.Diện tích nhà ở đạt
bình quân từ 9- 12 m
2
/người. Phấn đấu để mỗi hộ dân tại đô thị được ở
trong một căn hộ độc lập. Trong đó phải tập trung chỉ đạo thực hiện đầu
tư phát triển nhà ở theo dự án. Triển khai thực hiện tốt các chính sách ưu
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
đãi trong xây dựng nhà ở phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức viên
chức và người thu nhập thấp .Trong đó đặc biệt chú trọng nhà ở cho
thuê, bán trả góp .
Hai là: Để tạo điều kiện chăm lo nhà ở cho nhân dân, các
ngành có liên quan phải tập trung xây dựng trình Chính phủ ban hành
đồng bộ các văn bản pháp quy, các cơ chế chính sách vừa bảo đảm phát
triển nhanh qũy nhà, vừa đưa công tác quản lý hoật động kinh doanh bất
động sản nhà ở vào nề nếp và đạt hiệu quả cao, bảo đảm các nguyên tắc
công khai, công bằng.
Ba là: Nhà nước và xã hội tiếp tục thực hiện chính sách nhà ở
đối với người có công, quan tâm xây dựng nhà tình thương, giúp đỡ
những đối tượng không thể tự lực tạo lập nhà ở .
2.2.Phương hướng :
Chiến lược phát triển kinh tế –xã hội đề ra “ Phương hướng
phát triển đô thị là hình thành nhiều trung tâm vừa và nhỏ , phân bố hợp
lý; không tập trung dân cư quá đông vào các thành phố lớn. Một số địa
bàn có vị trí quan trọng đối với từng vùng ( ở phía Bắc là khu vực Hà Nội
– Hải Phòng-Quảng Ninh ; phía Nam là khu vực TP Hồ Chí Minh –Biên
Hoà -Bà Rịa –Vũng Tàu ; miền Trung là Đà Nẵng –Dung Quất và một số
thành phố cảng khác)cần thu hút đầu tư của cả nước và của nước
ngoài ”

e.Đi đôi với phát triển nhà ở mới, Nhà nước có chính sách để
các thành phố có thể huy động được các nguồn lực cho việc cải tạo, xây
dựng lại quỹ nhà ở hiện đã hết niên hạn sử dụng hoặc đã xuống cấp
nghiêm trọng có nguy cơ xụp đổ hoặc không an toàn. Đặc biệt là nhà
chung cư cao tầng xây dựng thời kỳ bao cấp tại Hà Nội, TP Hồ Chí
Minh, Vinh, Hải Phòng
3. Những giải pháp nhằm khuyến khích phát triển nhà ở đô thị:
3.1.Các giải pháp lớn:
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra trong giai đoạn hiện
nay cần thiết phải có các giải pháp, chính sách đồng bộ, trên nguyên tắc
huy động khả năng đóng góp của người có nhu cầu nhà ở. Nhà nước tạo
điều kiện và tham gia tích cực của cộng đồng. Trong đó cần tập trung
vào các lĩnh vực :
(1)Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần nhận thức
đầy đủ ý nghĩa kinh tế xã hội của phát triển thị trường bất động sản nhà
ở để tập trung chỉ đạo trong giai đoạn hiện nay. Căn cứ vào nội dung yêu
cầu của định hướng phát triển nhà ở quốc gia, chỉ đạo việc xây dựng
chương trình phát triển nhà ở của đô thị. Chương trình này được thông
qua Hội đồng nhân dân có nghị quyết trước khi Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh phê duyệt, làm cơ sở trong chương trình phát triển xã hội-kinh tế để
triển khai thực hiện và đánh giá kết quả trong từng kỳ kế hoạch.
(2) Chỉ đạo sát sao việc triển khai công tác qui hoạch các khu
dân cư; chuẩn bị dự án phát triển nhà ở, thực hiện công tác giải phóng
mặt bằng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và nhà ở. Phấn đấu để việc phát
triển nhà ở đô thị được thực hiện theo dự án, từng bước khắc phục tình
trạng xây dựng nhà ở tự phát.
(3) Phát triển vật liệu xây dựng đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà
ở. Trong đó cần chú trọng các giải pháp về công nghệ, ứng dụng vật liệu

hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Từ đặc điểm lịc sử, trình độ phát triển
kinh tế của đô thị nước ta, nhà ở đô thị có thể được xây dựng theo phố
hoặc xây dựng các tiểu khu hay nhóm nhà ở đồng bộ với các công trình
phúc lợi xã hội. Thực hiện nghiêm ngặt việc quản lý xây dựng mới, cải
tạo nhà ở tại các khu phố cũ. Có chương trình và kế hoạch cải tạo lại các
loại nhà ở đã xuống cấp hoặc các khu nhà ở mà môi trường tối thiểu
không dảm bảo .
b. Giải pháp về kiến trúc:
Các giải pháp thiết kế nhà ở cho đô thị bao gồm: Giải pháp cải
tạo nâng cấp nhà ở cũ và giải pháp thiết kế mới cho các loại hình nhà ở.
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
* Cải tạo nâng cấp nhà ở cũ trong đô thị:
Các khu nhà ở nhiều tầng cũ được xây dựng từ những năm 60-
70 đến nay đã xuống cấp và biến dạng nhiều do không được tu bổ
thường xuyên, do cơi nới, lấn chiếm các khu nhà này cần được quyết
định cải tạo lại hay phá đi xây mới. Các khu nhà được xem xét giữ lại để
cải tạo cần chú ý:
- Cải tạo từng nhà trên nguyên tắc bảo đảm căn hộ độc lập,
khép kín, đủ diện tích theo chỉ tiêu qui định cho mỗi hộ.
- Cải tạo toàn khu chung cư giải phóng các phần cơi nới, lấn
chiếm của từng hộ, giải phóng đất dành cho khuôn viên, sân vườn, bãi
tập thể dục thể thao
- Đối với nhà ở chia lô, nhà ở được xây dựng ở các khu phố từ
trước 1954 nằm trong phạm vi bảo tồn sẽ có qui định riêng, cần được
thực hiện trên nguyên tắc kết hợp bảo tồn, cải tạo và phát triển.
* Giải pháp thiết kế mới:
- Các loại hình nhà ở cho thập niên đầu thế kỷ 21 phải thiết kế
sao cho thoả mãn hàng loạt yêu cầu khách quan đặt ra trong giai đoạn
nước ta đang phát triển kinh tế xã hội với tốc độ nhanh. Trước tiên, các

, tối đa 14-18m
2
.
+ Bếp có kết hợp với phòng ăn.
+Khu vệ sinh, phơi quần áo.
+Tiền sảnh có cây xanh.
Chú ý tổ chức không gian trong và ngòi nhà sinh động, giữ gìn
bản sắc dân tộc .
- Điều kiện tiện nghi và các khả năng tổ hợp không gian:
Không gian nhà ở phải được chiếu sáng, thông thoáng tự nhiên. Bếp,
phòng ăn thuận tiện. Phòng khách có khả năng thay đổi theo nhu cầu của
từng hộ.
- Hoàn thiện và nâng cao thẩm mỹ khu nhà ở:
+ Các tổ chức đầu tư phát triển nhà ở cần chú ý các mẫu thiết
kế, các căn hộ mới và bố trí sắp xếp các khu ở đồng bộ với các tiện nghị
công cộng, đáp ứng nhu cầu ở phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã
hội, tập quán truyền thống dân cư.
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
+ Thẩm mỹ khu nhà ở: Việc xây dựng các khu ở đẹp có giá trị
thẩm mỹ là cần thiết, góp phần tích cực vào việc hình thành cuộc sống
lành mạnh, tạo nên tình cản gắn bó với nơi ở của mỗi con người. Nội
dung này gồm: Bố cục không gian tương quan hình khối giữa các công
trình, phong cách kiến trúc, sử dụng vật liệu và màu sắc cho công trình
- Chú ý đến tiện nghi môi trường: Tổng hoà giữa các yếu tố
nhà ở , hệ thống công trình phục vụ (nhà trẻ, trường học, y tế, dịch vụ ),
giao thông, vệ sinh môi trường, chỗ nghỉ ngơi, bãi tập thể dục thể thao,
công trình phục vụ hội họp sinh hoạt tạo lối sống mới- lối sống đô thị
Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21, vừa văn minh hiện đại, vừa kế thừa
thuần phong mỹ tục trong cuộc sống gia đình và cộng đồng.

cư tăng lên.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần điều chỉnh thuế chuyển
quyền sử dụng đất đô thị để đảm bảo chế độ công bằng về đất đai, mọi
người dân khi thực hiện mua, bán, cho, tặng, chuyển nhượng đều phải
nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Tất cả các đối tượng được sử dụng
đất đề phải đóng thuế . Như vậy đất đai mới luôn thật sự là sở hữu toàn
dân.Thực tế hiện nay, Nhà nước chưa thể quản lý được việc chuyển
nhượng, sử dụng đất đai do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân
người dân chưa có khả năng chi trả và nguyên nhân cố tình chây ỳ, chờ
chính sách mới của Nhà nước hợp thức hoá. Do đó cần ủng hộ quan
điểm ghi nợ ngân sách Nhà nước đến khi phát sinh thu nhập từ sử dụng
hoặc chuyển nhượng đất.
-Về tiền thuê đất: Chính sách về tiền thuê hợp lý không những
khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các dự án xây dựng nhà ở mà
còn góp phần vào việc lựa chọn hình thức nhà ở phù hợp với khả năng
chi trả và điều kiện sinh hoạt của mình. Nhà nước cần có chính sách
miễn giảm tiền thuê đất, giao đất đối với những hộ sống ở nhà cao tầng
trong khu chung cư; cho phép nộp chậm tiền đất cho đến khi bán được
diện tích nhà ở đối với những chủ đầu tư xây dựng nhà ở thì không được
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
mua bán, cho tặng hoặc chuyển nhượng diện tích đó. Những người được
hưởng lợi nhiều hơn từ đất phải đóng góp cho xã hội để thực hiện phân
phối lại nhiều hơn.
- Chính sách nguồn vốn đầu tư : trên thực tế nguồn vốn để
thực hiện việc xây dựng nhà ở chủ yếu là nguồn tích luỹ từ dân. Nhà
nước cần khuyến khích các nguồn vốn khác nhaudt xây dựng khu dân cư
thông qua việc khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh nhà ở, cho
thuê diện tích. Đối với người có thu nhập thấp, không đủ khả năg mua
nhà ở được, Nhà nước nên giao cho doanh nghiệp tự hạch toán kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status