DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI :Nhà hát opera Sydney (Australia) được
coi là công trình kiến trúc có ảnh hưởng lâu dài. Ảnh: AP.
Khu khảo cổ ở Samarra (Iraq) được bổ sung vào danh sách và ngay lập tức
được xếp là di tích đang gặp nguy hiểm. Ảnh: AFP.
Lope-Okanda ở Gabon nằm trong danh sách của UNESCO nhờ sự hòa trộn độc đáo giữa
văn hóa và thiên nhiên. Nơi đây rất phong phú về các loài động thực vật. Ảnh: BBC.
Khu kiến trúc Red Fort của Ấn Độ - hoàn thành năm 1648 - được tôn vinh vì nó phản ánh
giai đoạn lịch sử từ thời Mughal cho đến khi giành độc lập của nước này. Ảnh: AP.
Twyfelfontein ở Namibia, nơi tập trung nhiều bức khắc trên đá nhất ở châu Phi, là
di sản thế giới đầu tiên ở nước này. Ảnh: BBC.
Thành phố Pháp Bordeaux nằm trong danh sách nhờ có kiến trúc đô thị quy mô thuộc loại
lớn nhất ở châu Âu thế kỷ 18. Ảnh: AFP.
Làng Diaolou ở Kaiping, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc có tới 1.800 tòa tháp được xây lên
để chống nạn cướp phá cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ảnh: BBC.
Thành phố Corfu của Hy Lạp cũng ở trong danh sách này. UNESCO hy vọng sẽ phối hợp
cùng chính phủ các nước để bảo vệ các công trình có ý nghĩa văn hóa quan trọng đối với
thế giới.
Di sản văn hóa VN đuộc UNESCO công nhận
* Kinh đô Huế
Kinh đô Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam. Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở xứ
Đàng Trong, của vua Quang Trung và 13 đời vua Nguyền sau này. Là kinh đô một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với một hệ thống những
đền, chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc hết sức nguy nga tráng lệ gắn liền với cảnh quan thiên nhiên núi sông thơ mộng. Bên cạnh đó, Huế
còn là trung tâm văn hóa của cả nước bởi ở đây vẫn bảo tồn được những giá trị văn hóa truyền thống hết sức đặc trưng của đất kinh kỳ. Quần
thể di tích cố đô và lăng tẩm các vua triều Nguyễn Huế đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận
là Di sản văn hoá thế giới năm 1993
Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo vì nó chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là
cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng ngàn đảo đá
muôn hình vạn trạng với nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí. Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn
là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng
cây nhiệt đới cùng với hàng ngàn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng. Năm 1994, UNESCO đã chính thức công nhận vịnh Hạ
nhân loại” năm 2003.
* Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên
Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm
Đồng. Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau như: Ê-đê, Ba-na, Mạ, Lăc Văn hóa cồng chiêng là loại
hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn – Tây Nguyên. Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử
dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà
mới Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.
Năm 2005 “Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên” đã chính thức được UNESCO công nhận là “ Kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể
và truyền khẩu của nhân loại ”.
Theo Báo Ảnh Vietnam Online
DANH NHÂN BẾN TRE
1. Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) là một nhà thơ, nhà văn hóa cận đại của Việt Nam. Ngày 17 tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm
thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác
Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc
, được nhiều người đánh giá cao.
Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng bị chiếm đóng, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi
thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc,
đồng thời vẫn giữ mối liên hệ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến; từ chối
trước mọi cám dỗ của đối phương.
Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất.
Ngày 3 tháng 7 năm 1888, ông mất tại Ba Tri, Bến Tre. Người ta kể lại rằng ngày đưa đi an táng, cả cánh đồng An Bình Đông, nay
là An Đức, trắng xóa khăn tang của những người mến mộ ông
1. Phan Văn Trị (1830-1910)
Tiểu sử
Phan Văn Trị (1830-1910) là một nhà thơ Việt Nam một trong những cây bút đối kháng ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu kháng Pháp
của dân tộc Việt.
Ông sinh năm Canh Dần (1830) tại thôn Hưng Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng An, Trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Thạnh Phú Đông,
huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre).
2.
Nỗi lòng
Mộ Trương Vĩnh Ký trong nhà mồ.
Nhà mồ Trương Vĩnh Ký.
1. Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866)
Lãnh Binh Thăng tên thật là Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866) là một võ tướng nhà Nguyễn, thuộc thế hệ tham gia chiến đấu
chống Pháp đầu tiên của Bến Tre và của Nam Kỳ.
Tiểu sử
Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866)
Lãnh Binh Thăng, sinh quán tại ấp Giồng Keo, làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, (nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến
Tre) trong một gia đình nông dân, nhưng nhờ từ miền Trung vào lập nghiệp đã lâu nên khá giả.
Cha ông tên Nguyễn Công, mẹ là Trần Thị Kiếm. Thuở nhỏ, ngoài việc chăm học chữ Nho, ông còn hăng say luyện tập võ nghệ.
Đến khi đủ tài lực, ông đứng ra chiêu mộ dân để khai khẩn đất đai, lập đồn điền vùng Bảo Hựu (Bến Tre)
Dưới thời Thiệu Trị, ông gia nhập quân đội, được thăng cai cơ, đến năm 1848 (Tự Đức nguyên niên), ông được thăng chức lãnh
binh.
Đền thờ Lãnh Binh Thăng tại xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, Bến Tre
1. Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại
Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều
tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám
nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra
hàng ngày trước mắt.
Trần Văn Ơn (nguồn: )
Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc
Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám
bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…
1. Phan Ngọc Tòng (1818 ? - 1868)
Phan Ngọc Tòng hay Phan Tòng, Phan Công Tòng (1818 ? -1868), là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa kháng Pháp năm 1868 tại Ba
Tri, Bến Tre, Việt Nam.
1. đó mất như còn.
đóng cối xay lúa bằng tre tập trung bên bờ rạch và hình thành nên một xóm thợ làm nghề thủ công phục vụ cho việc xay giã lúa
gạo. Từ đó, rạch này mang cái tên Cái Cối (trước đây khi chưa có máy xay xát cơ giới, việc xay giã lúa gạo đều làm theo lối thủ
công).
Rạch Cái Quao
Cái: từ cổ là con rạch. Quao là loài cây mọc ven bờ sông, bờ rạch, trái ra từng chùm, dài từ 20 -30cm, hình cong và nhọn ở
đầu giống như chiếc sừng trâu. Dưới thời Minh Mạng (1820 -1840). Cái Quao là huyện lỵ của huyện Duy Minh, thuộc tỉnh Vĩnh
Long.
Cái Quao cũng là một tụ điểm dân cư được khai phá và hình thành tương đối sớm ở cù lao Minh. Cái Quao nay thuộc xã An Định,
huyện Mỏ Cày.
Cầu Cá Lóc
Cầu bê – tông cốt thép bắc qua rạch Cá Lóc (rạch này ngày xưa có rất nhiều cá lóc) trên đường tỉnh 885 từ thị xã Bến Tre đi
Ba Tri.
Trúc Giang
Quận của tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 gồm 16 xã: An Hội (quận lỵ), Phú Hưng, Hữu Định, Phú Nhuận, Phước Long,
Song Phước, Tam Phước, Thạnh Phú Đông, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Quới Sơn,
Tân Thạch.
Trúc Giang
Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 theo sắc lệnh 143/NV của Tổng thống VNCH.
Chẹt Sậy
Kênh Chẹt Sậy
Kênh nối từ xã Phong Nẫm (huyện Giồng Trôm) qua xã Phú Hưng (thị xã Bến Tre), dài 5km, đào năm 1878, sau đó được khơi
thông và mở rộng năm 1902.
Chẹt là chổ hẹp (chẹt đá). Áo chẹt là áo bó sát người, quần ống chẹt là quần có ống bó sát người. Kênh Chẹt Sậy là con đường
nước xuyên qua rừng sậy um tùm, bị che khuất.
Cầu Chẹt Sậy
Cầu bê – tông cốt thép bắc qua kinh Chẹt Sậy trên tỉnh lộ 885, từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri
Tiên Thủy
Sông nằm ở phía tả ngạn, thông ra sông Hàm Luông, quanh năm nước ngọt. Có lẽ vì vậy nên gọi tên Tiên Thuỷ (có nghĩa là
nước tiên). Sách Gia Định thành thông chí chép:” sông rộng 4 tầm, sâu 1 tầm, chợ thôn trù mật, thuyền bè tụ họp, nước chia làm 2
nhánh, nhánh nam thì lặng trong, nhánh bắc thì đục ngầu…Ngoài cửa sông Cái (Hàm Luông) có nhiều cá sấu, cua lớn bằng cái
triển thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh.
Tỉnh Bến Tre
Ngày 1-1-1900, Toàn quyền Paul Doumer cho áp dụng trong toàn cõi Nam Kỳ nghị định ký ngày 20-12-1899 đổi các sở tham biện
(inspection) thành tỉnh (province). Bến Tre được gọi là tỉnh bắt đầu từ đó, gồm có cù lao Bảo và cù lao Minh, với 21 tổng và 182
làng.
Năm 1930, tỉnh Bến Tre có 4 quận (Châu Thành, Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú), 20 tổng, 94 làng.
Tháng 8-1945, tỉnh Bến Tre có 4 quận (Châu Thành, Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú), 18 tổng, 94 làng.
Năm 1995, tỉnh Bến Tre có 8 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm thị xã Bến Tre và các huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày,
Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú), 7 thị trấn, 8 phường, 136 xã.
Sông Bến Tre
Sông chảy từ xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm (trung tâm cù lao Bảo) qua thị xã Bến Tre, đổ ra sông Hàm Luông, dài 30km. Đây là
một trong những con đường thủy quan trọng của tỉnh Bến Tre, nối liền sông Hàm Luông với sông Mỹ Tho qua đoạn kênh Chẹt Sậy
– An Hóa.
Bến Tre
Sở tham biện (inspection) lập ngày 4-12-1867 theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ De La Grandiere gồm vùng đất nằm trên cù
lao Bảo lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long
Chợ Lách
Huyện nằm phía trên cùng của cù Lao Minh, bằng nửa diện tích huyện Mỏ Cày (18.897ha), thuộc hàng nhỏ nhất trong 7 huyện
của tỉnh Bến Tre, chiều dài 22,5km, chiều ngang giới hạn bởi hai bờ sông Cổ Chiên và Hàm Luông, nơi hẹp nhất chỉ có
2km.Trước tháng 8-1945, Chợ Lách là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Long. Trong KCCP, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ
(1948), huyện Chợ Lách tách khỏi tỉnh Vĩnh Long nhập về tỉnh Bến Tre.
Sau ngày 30-4-1975 theo chủ trương điều chỉnh lại địa giới các huyện, thị, Chợ Lách gồm 10 xã và 1 thị trấn.
Thị trấn Chợ Lách
Thị trấn thành lập theo Quyết định số 41/HĐBT, ngày 14-3-1984 của Hội đồng Bộ trưởng, bao gồm ấp Sơn Quy, 2/3 ấp Bình
An,1/6 ấp Phụng Châu của xã Sơn Định. Chợ Lách có nguồn gốc từ tên một cái chợ hình thành ở vùng có nhiều cây lau lách mọc,
trở thành địa danh của một đơn vị hành chính cấp huyện, rồi tên của một thị trấn.
Chợ Thom
Địa danh có gốc từ tiếng Khmer (Thom có nghĩa là lớn). Trước năm 1945, chợ Thom là một trung tâm kinh tế sầm uất của cù
lao Minh do nằm trên trục giao thông thủy thuận lợi. Xưa, Thom là một trong những bến tàu khách chạy tuyến đường sông Trà
Vinh – Vĩnh Long – Bến Tre lên Sài Gòn.
lưu dân người Việt trên đất Bến Tre.
Sau ngày 30-4-1975, theo chủ trương chung về việc điều chỉnh lại một số địa giới hành chính, huyện Ba Tri gồm có 22 xã và 1 thị
trấn.
Ba Tri
Thị trấn của huyện Ba Tri, một trung tâm kinh tế, văn hóa được hình thành tương đối sớm trên cù lao Bảo, thuận tiện cả giao
thông thủy bộ, có tỉnh lộ 885 nối thị xã Bến Tre về phía tây và ra tận xã An Thủy về phía đông sát biển. Nhà thơ Nguyễn Đình
Chiểu đã từng sống tại đây hơn một phần tư thế kỷ, hiện còn nền nhà cũ của cụ ở trước kia. Cách hơn 1km là nơi yên nghỉ của
nhà thơ, nay được xây dựng thành khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu.
Chợ Ba Tri nằm trong thị trấn là một chợ đầu mối. Ngoài sản phẩm nông nghiệp còn có sản phẩm của biển khá dồi dào: tôm, cá,
nghêu, sò, muối…Một thời, Ba Tri còn có nghề nuôi tằm, dệt lụa, trồng bông, dệt vải. “Lụa Ba Tri có tiếng đồn” được nhắc đến
trong Nam Kỳ phong tục, nhân vật diễn ca.
Cũng tại nơi đây, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác và đã đọc bài Văn tế nghĩa sĩ Lục tỉnh trước đông đảo quần chúng nhân
dân.
Mỹ Lồng Còn gọi Mỹ Luông
Chợ lâu đời nhất của tỉnh Bến Tre với đặc sản nổi tiếng về cau và bánh tráng, đã đi vào tục ngữ địa phương (Bánh tráng Mỹ Lồng,
bánh phồng Sơn Đốc), nằm trên tỉnh lộ 885 và ở cạnh sông Bến Tre. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Nơi bờ phía bắc (sông
Bến Tre) là chợ Mỹ Luông (tên cũ của chợ Mỹ Lồng) phố xá liền lạc, người buôn bán tụ hội đông đảo”.
Nơi đây từng chứng kiến trận đánh giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn. Đã có một thời huyện lỵ Bảo Hựu đặt tại đây.
Bến Tre nhiều gái chưa chồng
Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà xem
Mỏ Cày Sông Mỏ Cày
Sông chảy qua thị trấn Mỏ Cày ra xã Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo đổ ra sông Hàm Luông tạo nên một doi đất giống hình mỏ
cày. Ở đầu kia, nối với rạch Thom (đào năm 1905) đổ ra sông Cổ Chiên.
Kênh Mỏ Cày – Thom (cù lao Minh) cùng với kênh Chẹt Sậy - An Hóa (cù lao Bảo và An Hóa) tạo thành con đường thuỷ quan
trọng, nối liền các thành phố, thị xã, thị trấn Mỹ Tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh.
Cầu Mỏ Cày
Cầu bê – tông cốt thép bắc qua sông Mỏ Cày, dài hơn 100m, trên đường liên tỉnh từ thị xã Bến Tre qua phà Hàm Luông đến bến
phà Cổ Chiên sang Trà Vinh.
Huyện Mỏ Cày
Huyện lớn nhất và đông dân nhất của tỉnh Bến Tre, trong lịch sử tồn tại đã có nhiều lần chia, tách, nhập rất phức tạp.
MỎ CÀY là vì huyện nay ngày xưa khi mà bay khảo sát thì người ta thấy cả tỉnh nhìn từ trên không trung xuống có hình giống cái
MỎ CÀY, một công cụ nông nghiệp phổ biến của nhà nông. từ đó đặt là MỎ CÀY, hiện nay theo quy hoạch thì HUYỆN MỎ CÀY
được UBND tỉnh chia làm hai HUYỆN MỎ CÀY NAM VÀ HUYỆN MỎ CÀY BẮC. việc thành lập hai huyện mới này với lý do huyện mỏ
cày cũ có diện tích lớn hơn TP BẾN TRE=> khó khăn trong việc quản lỷ, qui hoạch.
mỗi huyện sẽ có một mũi nhọn kinh tế riêng : cảng đường sông, khu công nghiệp, du lịch sinh thái
Xin đóng góp một ít tài liệu. có gì không đúng mong các bạn đừng cười .pm. thank
1. Ai đặt tên “Đồng khởi” cho cuộc nổi dậy ở Bến Tre?
Sự kiện lừng danh một thời “Đồng khởi Bến Tre” đã tròn nửa thế kỷ. Trong chừng ấy thời gian, đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu, hồi ký, tác phẩm văn học, nghệ thuật nói về diễn biến và tác động sâu xa của cuộc “nổi dậy”. Dù
còn nhiều ý kiến khác nhau trong cách đánh giá, nhìn nhận nhưng có một điều không thể chối cãi: đó là một sự
kiện hào hùng được làm nên từ những người dân bình thường
Cô Ba Định (thứ hai từ trái sang) - Ảnh: tư liệu
Tác giả tên gọi “Đồng khởi”
Từ trước đến nay, mọi người thường nhắc đến “Đồng khởi” để nói về phong trào đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam trong những
năm đầu của thập niên 1960 mà không biết ai là tác giả, là người đầu tiên nói lên nó. Các công trình nghiên cứu lịch sử cũng
không đề cập đến vấn đề này. Ông Nguyễn Minh Đường (Sáu Đường), nguyên Bí thư Khu uỷ Trung Nam Bộ tại Hội nghị Tổng kết
chiến tranh (tổ chức vào tháng 7.1982, ở Bến Tre, với sự chủ trì của Đại tướng Hoàng Văn Thái) đã xác nhận: “Trong các văn bản
của T.Ư Đảng (NQ 15) cũng như Nghị quyết của Hội nghị Khu uỷ tháng 12.1959 (triển khai NQ 15) chỉ đạo Bến Tre, không có đề
ra danh từ “Đồng khởi”. Trên thực tế, sau cuộc nổi dậy ở Bến Tre giành được thắng lợi mới xuất hiện danh từ này”. (Huyền thoại
quê hương Đồng khởi, NXB QĐND, Hà Nội - 2008, trang 157).
Tại lần họp chuẩn bị cuối cùng (từ ngày 1 đến 3.1.1960 tại nhà bà Bảy Tốt ở xã Minh Đức, H.Mỏ Cày, hai tuần trước khi cuộc
Đồng Khởi nổ ra), có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí tranh cãi quyết liệt của những người lãnh đạo tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ
nhằm thống nhất biện pháp tiến hành thắng lợi cuộc nổi dậy. Bà Nguyễn Thị Định (lúc đó là Phó bí thư Tỉnh uỷ) viết trong quyển
hồi ký Không còn con đường nào khác rằng: “Trong hội nghị này, thảo luận hết, ai cũng nói cả, tới khi tôi gom lại ý kiến kết luận
phát động một tuần lễ toàn dân Đồng khởi thì các đồng chí đều nhất trí. Thế là thành tên gọi chính thức.” (Nữ tướng Nguyễn Thị
Định, NXB Phụ nữ, trang 129). Hồi ký của Bà Định cũng không xác định rõ ai là người đầu tiên nói ra từ Đồng khởi. Những người
tham dự cuộc họp đến nay đều không còn nữa.
Mới đây, trong dịp tham gia thực hiện bộ phim tài liệu Nhớ cô Ba Định (Hãng phim Mê Kông), chúng tôi được tiếp cận những trang
hồi ký đã hoen màu của ông Trần Văn Giàu (Ba Cầu), một trong số 8 người dự cuộc họp lịch sử đó. Lúc bấy giờ ông là Bí thư Ban
cán sự Đảng thị xã Bến Tre. Hồi ký có tựa đề Tôi ghi lại đời tôi để các con tôi biết, trong đó có đoạn: “… Chị Ba Định nhắc đi nhắc
quần chúng làm hậu thuẫn) và binh vận (số nội tuyến có sẵn) kết hợp một cách nhuần nhuyễn và đạt kết quả. Cái mới của Bến
Tre là đã nâng đấu tranh chính trị lên một vị trí rất cao, trở thành một phương thức đấu tranh chiến lược trong chiến tranh.
Hữu Vinh
(Theo Thanh Niên )
1. Các khu di tích lịch sử của Bến Tre
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
Nhà lưu niệm Đồng Khởi Bến Tre
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15
của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn
kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm
đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.
Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền.
Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn
những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và
để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà
truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện
tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của
ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu
đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…
Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.
Từ thị xã đi qua phà Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc
có thể từ thị xã, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.
Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia
ngày 7-1-1993.
LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM
Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở
Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình
kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là
"quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).
CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:
Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp
kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu
và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.
Nguồn:bentre.gov.vn
Last edited by tuankietlu; 20-12-2009 at 12:44 PM. Lý do: Sửa tiêu đề
Không có tình iu vĩnh cữu
Mà chỉ có những giây phút vĩnh cữu của tình iu
*(`'·.¸(`'·.¸*¤*¸.·'´)¸.·'´)*
»~:¤.·º`·.DiễmTrinh .·´º·.¤:~«
*(¸.·'´(¸.·'´*¤*`'·.¸)`'·.¸)*
Trả lời kèm Trích dẫn
2. The Following 2 Users Say Thank You to DiễmTrinh89 For This Useful Post:
darkknight1988 (20-12-2009), tuankietlu (20-12-2009)
3. 20-12-2009 11:18 AM #2
DiễmTrinh89
o Xem Hồ sơ
o Xem bài viết diễn đàn
o Tin nhắn riêng
_____princess_____
Ngày tham gia
Dec 2009
Đang ở
Châu Thành-Bến Tre
Bài viết
Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ
Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.
Thời KCCP, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc
nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương - Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh , vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan
Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những
ngày khó khăn nhất của cách mạng.
Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-QĐ/BTcông nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-
1994.
Nguồn:bentre.gov.vn
Last edited by DiễmTrinh89; 20-12-2009 at 11:35 AM.
Không có tình iu vĩnh cữu
Mà chỉ có những giây phút vĩnh cữu của tình iu
*(`'·.¸(`'·.¸*¤*¸.·'´)¸.·'´)*
»~:¤.·º`·.DiễmTrinh .·´º·.¤:~«
*(¸.·'´(¸.·'´*¤*`'·.¸)`'·.¸)*
Trả lời kèm Trích dẫn
4. The Following User Says Thank You to DiễmTrinh89 For This Useful Post:
tuankietlu (20-12-2009)
5. 20-12-2009 11:28 AM #3
DiễmTrinh89
o Xem Hồ sơ
o Xem bài viết diễn đàn
o Tin nhắn riêng
_____princess_____
Ngày tham gia
Dec 2009
Đang ở
Châu Thành-Bến Tre
Bài viết
DiễmTrinh89
o Xem Hồ sơ
o Xem bài viết diễn đàn
o Tin nhắn riêng
_____princess_____
Ngày tham gia
Dec 2009
Đang ở
Châu Thành-Bến Tre
Bài viết
1,539
Thanks
966
Thanked 695 Times in 344 Posts
Di tích đầu cầu tiếp cận chi viện Bắc Nam
Di tích đầu cầu tiếp cận chi viện Bắc - Nam
Lịch sử hai cuộc KCCP và KCCM đã ghi lại hai lần vượt biển từ xã Thạnh Phong huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre ra thủ đô Hà Nội
để gặp Trung ương báo cáo tình hình và xin chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Lần thứ nhất là vào đầu tháng 4-1946, đã đến
đích an toàn. Tháng 11-1946, chuyến chi viện vũ khí đầu tiên từ bờ biển tỉnh Phú Yên vào Bến Tre do đồng chí Nguyễn Thị Định,
thành viên của đoàn phụ trách, đã cập bến an toàn. Lần thứ hai diễn ra vào ngày 1-6-1961, sau cuộc Đồng khởi 8 tháng, cũng đã
thành công tốt đẹp, mặc dù màng lưới phong tỏa, kiểm soát của địch hiện đại hơn, ngặt nghèo hơn. Từ hai sự kiện trên đã đưa
đến một quyết định của Trung ương là mở đường Hồ Chí Minh trên biển, để chi viện cho cách mạng miền Nam (xem thêm mục Sự
kiện đáng nhớ).
Trong những năm chống Mỹ, hàng ngàn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh khác của Trung ương chi viện cho cách mạng miền
Nam qua đường Hồ Chí Minh trên biển đã đến nhiều địa phương dọc theo duyên hải miền Trung đến tận mũi Cà Mau để tiếp sức
cho cuộc kháng chiến, mà đầu cầu tiếp nhận vũ khí ở xã Thạnh Phong (gồm vàm Khâu Băng, cồn Bửng, cồn Lợi, cồn Lớn) là một
trọng điểm. Tại đây, Bộ Tư lệnh miền đã thành lập Đoàn 962 có nhiệm vụ bảo vệ đầu cầu, tiếp nhận hàng chi viện, rồi từ đây lan
tỏa ra các chiến trường Nam Bộ như Sài Gòn, các tỉnh miền Đông và miền Trung Nam Bộ và cho các đơn vị chủ lực của miền.
Địch đã dùng đủ mọi thủ đoạn đánh phá, ngăn chặn, nhưng chỉ có thể gây cho ta một số tổn thất nhất định, chúng không thể nào
cắt đứt được mạch máu giao thông liên lạc Bắc Nam của cách mạng.
đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.
Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da
đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.
Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa - Thông tin đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.
Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.
nguồn:bentre.gov.vn
Không có tình iu vĩnh cữu
Mà chỉ có những giây phút vĩnh cữu của tình iu
*(`'·.¸(`'·.¸*¤*¸.·'´)¸.·'´)*
»~:¤.·º`·.DiễmTrinh .·´º·.¤:~«
*(¸.·'´(¸.·'´*¤*`'·.¸)`'·.¸)*