Tiểu luận "Chính sách giá cả trong các công việc Marketing" - Pdf 16


Tiểu luận
Đề tài: "Chính sách giá cả trong các
công việc Marketing"
Mục lục
Đề tài: "Chính sách giá cả trong các công việc Marketing" 1
Mục lục 2
Lời mở đầu 4
Nội Dung 6
1 . Vai trò và yêu cầu của việc định giá trong cơ chế thị trường 6
1.1 . Khái niệm và vai trò của định giá 6
1.2 . Yêu cầu của việc định giá 7
2 . Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định về giá sản phẩm 7
2.1 . Nhân tố bên trong doanh nghiệp 7
2.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 9
3 . Tiến trình xác định mức giá 13
3.1 . Xác định mục tiêu định định giá 13
3.2 . Xác định cầu ở thị trường mục tiêu 14
3.3 . Xác định chi phí phục vụ cho việc định giá 16
3.4 . Phân tích sản phẩm và giá cả của đối thủ cạnh tranh 18
3.5 . Lựa chọn phương pháp định giá 18
3.6 . Lựa chọn mức giá cụ thể 23
4.Các kiểu chiến lược giá 24
4.1. Xác định giá cho hàng hóa mới 24
4.2 . Hình thành giá cả trong khuôn khổ danh mục hàng hóa 25
4.3 . Định giá phân biệt 27
4.4 . Định giá về khuyến khích tiêu thụ 27
4.5 . Định giá theo nguyên tắc địa lý 27
4.6 . Định giá có chiết khấu bù trừ 28
4.7 . Chiến lược định giá cho phối thức sản phẩm:
a. Định giá cho dòng sản phẩm.

Để trả lời cho câu hỏi này tôi cho rằng không còn một giải pháp nào tốt hơn
là khi doanh nghiệp đó áp dụng Maketing vào hoạt động của doanh nghiệp.
Xét trong phạm vi của khái niệm ta thấy rằng, đối với Maketing, các doanh
nghiệp chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu và mong muốn chọn được một thị
trường mục tiêu phù hợp. Tuy nhiên để doanh nghiệp có thể chọn được một
vị trí trên thị trường thì thật là khó bởi lẽ không chỉ có một mình họ chiếm
lĩnh trên thị trường mà trước mắt họ còn có rất nhiều các đối thủ cạnh tranh
có cùng cách thức lôi kéo khách hàng rất tinh vi và khôn khéo. Vì vậy
Maketing ra đời nhằm tạo ra cho doanh nghiệp một hình ảnh riêng mạnh mẽ
và nhất quán để khẳng định khả năng vốn có của doanh nghiệp một cách
hiệu quả nhất. Nhận thức được tầm quan trọng của nó, và hiểu được rằng
Maketing hiện đại chính là “hãy bán những thứ mà thị trường cần’’vì thị
trường là cầu nối giữa doanh nghiệp và người mua và công việc của
Maketing chính là biến các nhu cầu xã hội thành những cơ hội sinh lời.
Trong thập niên qua nền kinh tế thế giới đã thay đổi một cách
nhanh chóng và mạnh mẽ dưới sức ép toàn cầu hóa, sự phát triển như vũ bão
của công nghệ và sự mở cửa các thị trường mới. Sự phát triển của công nghệ
nhất là công nghệ thông tin đã xóa đi mọi rào cản về không gian địa lý.
Khách hàng giờ đây có nhiều quyền lợi hơn trước. Nhờ vào công nghệ mà
họ có thể tiếp cận thông tin về sản phẩm tốt hơn, từ đó có nhiều sự lựa chọn.
Toàn cầu hóa đã làm thay đổi bản chất của hoạt động kinh doanh từ chỗ tập
trung sản xuất ra sản phẩm tốt nhất rẻ nhất có thể được doanh nghiệp đã
chuyển sự chú tâm của mình ra thị trường. Đơn giản vì muốn khách hàng tin
dùng và mua sản phẩm của họ hơn là của đối thủ cạnh tranh. Để đảm bảo
được điều đó thì doanh nghiệp cần phải hiểu nhu cầu của khách hàng, phải
có sự truyền thông tốt hơn về sản phẩm của họ và cần xây dựng quan hệ gắn
bó lâu dài giữa thương hiệu và nhóm đội tượng khách hàng mục tiêu, ngoài
ra quan trọng hơn cả là phải xây dựng và quản lý cho doanh nghiệp mình
một chiến lược giá cả đúng đắn vì đây là điều kiện đảm bảo cho doanh
nghiệp có thể chiếm lĩnh và xâm nhập được thị trường và hoạt động kinh

từ việc cung cấp sản phẩm.
Xu hướng có tính quy luật trong trao đổi, mua bán hàng hóa là người mua
thích rẻ, còn người bán lại muốn bán đắt.
♦ Xét từ góc độ kinh doanh nói chung và người làm marketing nói riêng: Giá
cả là một biến số duy nhất mang lại doanh thu cho doanh nghiệp. Các biến
số marketing khác khi thực thi đều phải chịu chi phí bỏ ra.
Quyết định về giá cả có tác động nhanh chóng đễn thị trường, tác động đến
doanh thu, chi phí lợi nhuận, thị phần và tính cạnh tranh sản phẩm. Do vậy,
quyêt định về giá là một quyết định về giá có tầm quan trọng nhất trong các
quyết định kinh doanh.
1.1.2 . Vai trò của việc định giá.
Giá cả ảnh hưởng to lớn đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh số
bán hàng hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp.
Giá cả là cơ sở giúp doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng, xác định
chủng loại, cơ cấu mặt hàng trong trình độ thâm nhập thị trường.
Giá cả là tiêu chuẩn quan trọng để giúp khách hàng đánh giá và lựa
chọn sản phẩm
VD: Hàng đắt là hàng tốt.
Giá cả là biểu hiện quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người bán và
người mua, về vị trí và vai trò của doanh nghiệp trên thị trường, cũng như sự
tác động hướng dẫn và kích thích tiêu dùng trong hoạt động kinh tế-văn hóa-
xã hội của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
1.2 . Yêu cầu của việc định giá.
1.2.1 . Yêu cầu từ phía doanh nghiệp.
- Giá cả phải bù đắp chi phí kinh doanh.
- Giá cả phải đảm bảo thực hiện các mục tiêu chiến lược marketing trong
từng thời kỳ.
- Giá cả phải phù hợp và hỗ trợ các chính sách marketing khác.
1.2.2 . Yêu cầu từ phía thị trường và môi trường kinh doanh.
- Phù hợp với sức mua của khách hàng.

Marketing hợp lý nhằm đối phó với những thay đổi của thị trường. Hơn thế
nữa, các quyết định về giá sẽ giúp họ đảm bảo sự ổn định tránh những biến
động lớn và đảm bảo kinh doanh hiệu quả hơn.
2.1.2 . Uy tín và chất lượng sản phẩm.
Chất lượng và uy tín sản phẩm là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ, cần
phải tính toán đến khi xác định giá bán của sản phẩm. trong kinh doanh,
những sản phẩm có chất lượng cao, co uy tín đối với người tiêu dùng sẽ cho
phép các doanh nghiệp có thể khai thác triệt để được các lợi thế, định ra các
mức giá bán sản phẩm cao mà không gây ra những phản ứng của người tiêu
dùng.
Ngoài ra, khi định giá sản phẩm cần xét đến đặc tính của sản phẩm.
Chu kỳ sống của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến các chiến lược về giá.
Mỗi giai đoạn khác nhau của chu kỳ sống sản phẩm kèm theo những thay
đổi về cầu của sản phẩm sẽ gây ra những hậu quả về chính sách giá khác
nhau.
2.1.3 Chiến lược phối thức marketing.
Giá cả là một trong các công cụ thuộc phối thức marketing mà
doanh nghiệp sử dụng để đạt được mục tiêu marketing của mình. Các quyết
định về giá phải được phối hợp với những quyết định về mẫu mã, phân phối,
cổ động cho sản phẩm để hình thành một chương trình marketing nhất quán
và có hiệu quả. Các quyết đưa ra cho những khâu khác thuộc phối thức
marketing đều có ảnh hưởng đến những quyết định về giá. Chẳng han, các
nhà sản xuất đang sử dụng nhiều nhà bán lại và mong rằng những người này
sẽ ủng hộ và cổ động cho sản phẩm của mình thì có thể đưa vào giá mức lời
hơn cho các nhà buôn. Quyết định trên khai một vị trí có chất lượng cao sẽ
có nghĩa rằng người bán phải để giá cao hơn để trang trải các chi phí cao.
Doanh nghiệp thường phải định giá sản phẩm trước, từ đó mới đưa
ra những quyết định khác thuộc phối thức marketing trên cơ sở mức giá
mình muốn cho snả phẩm. Như vậy giá là yếu tố định vị chính cho sản
phẩm, xác định thị trường của sản phẩm, đối thủ cạnh tranh và mãu mã….

1. Trong trường hợp này, doanh số của người bán vẫn y nguyên, không đổi.
nếu nhu cầu giảm đi 1% khi giá cả tăng lên 2% độ co giãn là –1/2. Sức cầu
co giãn ít , người bán dễ tăng giá. Nêu nhu cầu co giãn nhiều, người bán sẽ
nghĩ đến chuyện hạ giá. Một mức giá thấp hơn sẽ dẫn đến tổng doanh thu
cao hơn
Các điều kiện để cầu ít co giãn thường:
- Người mua không để ý đến chuyện giá cao
- Có ít hoặc không có sản phẩm thay thế và đối thủ cạnh tranh
- Người mua chậm thay đổi thói quen mua sắm lẫn việc đi tìm kiếm giá
thấp hơn
- Người mua nghĩ rằng giá cao hơn là do có cải tiến về chất lượng sản
phẩm.
2.2.2 . Đối thủ cạnh tranh
Q
P
O
Q
Sơ đồ1: Cầu co giãn và cầu ít co giãn
O
P
Khi xác định các mức giá bán sản phẩm của mình, các doanh
nghiệp cần phải tính toán đến các yếu tố cạnh tranh thị trường. Họ cần phải
nghiên cứu về chi phí, giá thành và giá bán của đối thủ cạnh tranh. Cần thiết
phải xem chiến lược giá mà đối thủ cạnh tranh đang áp dụng. Người tiêu
dùng luôn lấy giá của đối thủ cạnh tranh làm thước đo cơ sở để quyết định
mua sản phẩm. Vì vậy, không thể không cân nhắc và tính toán cho kỹ lưỡng
khi quyết định giá bán.
Trước hết, doanh nghiệp cần phân tích chi phí và giá thành của đối
thủ cạnh tranh. Khi giá thành của doanh nghiệp cao hơn đối thủ cạnh tranh,
doanh nghiệp khó có thể thực hiện sự cạnh tranh về giá. Ngược lại, giá thành

trần, giá sàn… cho từng loại sản phẩm, dịch vụ với mục đích:
- Nhà nước muốn kiểm soát sự tiến triển của giá cả ( kiềm chế chỉ số
giá, tránh lạm phát )
- Khuyến khích tự do cạnh tranh, xóa bỏ độc quyền
2.2.5 . Các yếu tố bên ngoài khác.
Khi định giá, công ty cũng phải xét đến những yếu tố khác thuộc
môi trường bên ngoài của mình chẳng hạn, tình hình kinh tế có thể có một
tác động mạnh đến hiệu năng của các chiến lược định giá khác nhau. Các
yếu tố kinh tế như lạm phát, tăng trưởng hay suy thoái và lãi suất, đều ảnh
hưởng đến các quyết định lập giá, bởi vì chúng ảnh hưởng đến phí tổn sản
xuất của một sản phẩm lẫn những cảm nhận của người tiêu thụ về giá cả và
giá trị của sản phẩm đó.
Doanh nghiệp cũng phải xem xét giá cả của mình có ảnh hưởng thế
nào đến những thành viên khác thuộc môi trường của mình. Những người
bán lại sẽ phản ứng ra sao trước các mức giá? công ty nên định giá sao cho
những người bán lại đó có được một lợi nhuận thỏa đáng, khích lệ họ ủng
hộ, và giúp họ bán được sản phẩm một cách hiệu quả. Chính quyền là một
ảnh hưởng quan trọng khác lên quyết định giá. Các nhà Marketing cần phải
biết các luật lệ đang ảnh hưởng đến giá cả và đảm bảo rằng các chính sách
định giá của công ty là đúng đắn.
3 . Tiến trình xác định mức giá.
Các doanh nghiệp đều phải tiến hành định giá bán sản phẩm của
mình. Điều này xảy ra khi doanh nghiệp tung vào thị trường một loại sản
phẩm mới; hoặc đưa một loại sản phẩm hiện có vào một kênh phân phối mới
hay đem bán chúng ở một thị trường mới và khi họ tham gia đấu thầu.
Để xác định được mức giá cho các tình huống nêu trên, cần thực
hiện những bước cơ bản được trình bày trong sơ đồ:
Sơ đồ 2: Các bước cơ bản xác định mức giá
3.1 . Xác định mục tiêu định định giá.
- Sự tồn tại: Khi cạnh tranh khốc liệt, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn họ

thể
lựa
chọn
phương
pháp
định
giá
-Tối đa hóa lợi nhuận: Trong trường hợp các doanh nghiệp có những lợi thế
đặc biệt như: Có độc quyền sản phẩm do công nghệ và kỹ thuật mới, vị thế
uy tín trong kinh doanh cao…, doanh nghiệp muốn đề ra một mức giá nhằm
tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và ước lượng mức cầu và phí tổn đi liền với
những mức giá khác nhau, từ đó chọn ra mức giá có được lợi nhuận tối đa
hoặc tỉ lệ doanh thu trên vốn đầu tư tối đa.
- Dẫn đầu thị phần: Nhiều doanh nghiệp muốn dẫn đầu về các chỉ tiêu thị
phần. Họ tin rằng công ty nào có thị phần lớn nhất sẽ có phí tổn thấp nhất và
lợi nhuận về lâu dài là cao nhất. Doanh nghiệp sẽ đeo đuổi thị phần bằng
cách định giá thấp và một chương trình phối hợp hoạt động marketing đồng
bộ để đạt được mục tiêu này.
- Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm: Một doanh nghiệp có thể lấy mục tiêu
dẫn đầu về chất lượng sản phẩm trên thị trường, tức sản phẩm của họ có chất
lượng cao nhất trong tất cả các sản phẩm cùng loại bán ra trên thị trường.
Thường thì điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đề ra mức giá cao và chi phí
đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế, công nghệ kỹ thuật cao. Kể cả chi phí cho
Marketing cũng rất tốn kém để xây dựng thương hiệu cho sản phẩm.
- Các mục tiêu khác: Doanh nghiệp có thể sử dụng giá để đạt các mục tiêu
khác nhau. Họ có thể định giá thấp để ngăn chặn không cho các đối thủ tham
gia vaò thị trường hoặc định giá ngang đối thủ để ổn định thị trường. Giá có
thể đưa ra để duy trì sự trung thành và ủng hộ của giới bán lại hoặc để tránh
sự can thiệp của chính phủ. Giá có thể tạm thời giảm để tạo sự đáp ứng nồng
nhiệt của khách hàng đói với một sản phẩm hoặc để lôi kéo thêm nhiều

d
= ( ΔQ/Q) / ( ΔP/P)
Trên thực tế, rất khó định lượng được hệ số E
d
, vì sự biến đổi của cầu
thị trường phhụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau. Các nhà nghiên cứu
đưa ra hai phương pháp để dự đoán E
d
.
+ Dựa vào kinh nghiệm và các số liệu lịch sử về mối quan hệ giữa giá
và cầu đã thu thập được ở các thị trường khác nhau, qua các thời gian khác
nhau.
+ Qua điều tra chọn mẫu, tiến hành phỏng vấn các khách hàng ở thị
trường mục tiêu.
3.3 . Xác định chi phí phục vụ cho việc định giá.
a. Xác định các chỉ tiêu chi phí.
Chi phí có thể được phân loại và xác định theo nhiều cơ sở khác nhau
chứa đựng những ý nghĩa khác nhau đối với việc quản lý hoạt động kinh
doanh. Ở góc độ xác định giá, các chỉ tiêu chi phí có ý nghĩa quan trọng nhất
là:
* Tổng chi phí cố định:
Tổng chi phí cố định là toàn bộ chi phí chi cho các đầu vào cố định. Nó
không thay đổi theo mức độ sản xuất hay doanh số bán hàng.Ví dụ: chi phí
cho nhà xưởng, chi phí máy móc thiết bị, tiền trả lãi đi vay, tiền lương cho
cán bộ quản lý…
* Tổng chi phí biến đổi:
Là toàn bộ các loại chi phí chi cho các đầu vào biến đổi. Nó thay đổi
cùng với sản lượng sản xuất. Ví dụ: chi phí về nguyên, vật liệu, tiền lương
cho công nhân sản xuất… Nhưng nếu tính cho một đơn vị sản phẩm chi phí
biến đổi lại là một hằng số.

nghiệp xuất hiện sau. Họ có thể chủ động bán giá thấp so với sản phẩm cạnh
tranh, giành thị phần lớn ngay trong giai đoạn đầu tiên của chu kỳ sống sản
phẩm.
3.4 . Phân tích sản phẩm và giá cả của đối thủ cạnh
tranh.
Những nhiệm vụ cơ bản cần được thực hiện ở bước này là:
- Thu thập các thông tin về giá thành, giá bán, chất lượng và những đặc
tính khác của sản phẩm cạnh tranh; thái độ của khách hàng về tương quan
giá và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu trong chính sách giá của đối thủ cạnh
tranh.
- Xác định phạm vi, mức độ và tính chất phản ứng về giá của đối thủ
cạnh tranh.
Để thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên, những người làm giá có thể
áp dụng các phương pháp sau:
- Cử người đi khảo sát giá, sưu tầm biểu giá hoặc mua sản phẩm của đối
thủ cạnh tranh và phân tích mối tương quan giữa giá và sản phẩm.
- Tiến hành phỏng vấn người mua để nhận biết sự chấp nhận về giá và
chất lượng sản phẩm của đối thủ của họ như thế nào?
3.5 . Lựa chọn phương pháp định giá.
Những phương phápđịnh giá cơ bản mà marketing thường sử dụng bao
gồm: định giá dựa vào chi phí, định giá dựa vào giá trị cảm nhận của khách
hàng, định giá cạnh tranh và đấu thầu.
a. Phương pháp định giá dựa vào chi phí:
Với phương pháp này, căn cứ chính xác để xác định giá là chi phí bỏ ra
để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sau đây là một số phương pháp cụ thể để
định giá sản phẩm dựa vào chi phí:
* Phương pháp định giá “ cộng lãi vào giá thành”
- Công thức xác định giá cộng lãi vào giá thành là:
Giá dự kiến = giá thành sản phẩm + lãi dự kiến.

+ Phương pháp hoà vốn: để có thể linh hoạt hơn trong việc đưa ra các
mức giá bán, tương ứng với các khối lượng bán có thể có và để đạt quy mô
lợi nhuận mục tiêu mong muốn, người làm giá có thể sử dụng “ phương
pháp hoà vốn” hay “đồ thị hoà vốn”.
Đồ thị hoà vốn được xây dựng bởi đường tổng doanh thu ( TR) và
đường tổng chi phí ( TC). Đường tổng doanh thu và đường tổng chi phí sẽ
giao nhau ở mức tiêu thụ được gọi là “điểm hoà vốn”
Khối lượng hoà vốn = Tổng chi phí cố định / ( Giá – chi phí biến đổi
đơn vị)
Khối lượng lợi nhuận mục tiêu được xác định bằng khoảng cách giữa
đường tổng doanh thu và đường tổng chi phí. Nó được quyết định bởi khối
lượng tiêu thụ đảm bảo lợi nhuận mục tiêu và mức giá dự kiến tương ứng.
Khối lượng tiêu thụ đạt lợi nhuận mục tiêu được xác định theo công
thức:
Khối lượng bán Tổng chi phí cố định - Tổng lợi nhuận mục tiêu
đạt lợi nhuận =
mục tiêu. Giá – chi phí biến đổi đơn vị.
Phương pháp hoà vốn được sử dụng rất có hiệu quả khi doanh nghiệp
dự đoán chính xác khối lượng tiêu thụ. Nó còn cho phép người làm giá có
thể xem xét tới các mức giá khác nhau và ước tính được những ảnh hưởng
có thể có của chúng đến khối lượng tiêu thụ và lợi nhuận. Đặc biệt dựa vào
phương pháp này người sản xuất còn có thể dự báo được khoảng thời gian
để có thể đạt được “điểm hoà vốn”. Hạn chế của phương pháp này là có xu
hướng xem nhẹ ảnh hưởng của giá sản phẩm cạnh tranh và tương đối mạo
hiểm vì chưa tính đến độ co giãn của cầu đối với giá.
a. Định giá theo giá trị cảm nhận:
Với phương pháp này, các doanh nghiệp định giá bán của mình căn cứ
vào cảm nhận của người mua về giá trị chứ không phải chi phí như trong
phương pháp thứ nhất.
Khi định giá theo giá trị cảm nhận của khách hàng, người làm giá phải

Trường hợp này xảy ra khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong
ngành thuộc hình thái thị trường độc quyền nhóm hoặc doanh nghiệp tham
gia vào thị trường với năng lực cạnh tranh nhỏ bé và được gọi là doanh
nghiệp theo sau hoặc sản phẩm của doanh nghiệp về cơ bản là tương tự sản
phẩm của đối thủ cạnh tranh.
* Đặt giá cao hơn giá của sản phẩm cạnh tranh.
Cách đặt giá này có thể áp dụng khi sản phẩm của doanh nghiệp có
những sự khác biệt với sản phẩm cạnh tranh và được khách hàng chấp nhận.
Ví dụ như: chất lượng cao hơn, mẫu mã và bao bì đẹp hơn… Tuy nhiên,
khoảng chênh lệch về giá không nên quá lớn để tránh ảnh hưởng tới những
khách hàng nhạy cảm về giá. Nhất là sự khác biệt về sản phẩm trong tâm trí
khách hàng không rõ ràng.
* Đặt giá thấp hơn giá của sản phẩm cạnh tranh.
Trường hợp này được áp dụng cho những sản phẩm mà khách hàng
vốn nhạy cảm về giá. Tuy nhiên, chênh lệch giữa hai mức giá không nên quá
lớn để tránh khuynh hướng tạo ra sự cạnh tranh về giá mang tính chất quyết
liệt và tránh sự vi phạm luật pháp quy định cho giá cả ( luật phá giá).
Phương pháp định giá theo giá hiện hành rất phổ biến nhất là trong
các trường hợp như chi phí khó xác định được hay phản ứng cạnh tranh
không chắc chắn. Các doanh nghiệp đều cho rằng phương pháp giá hiện
hành là một giải pháp tốt. Nó phản ánh sự sáng suốt của tập thể ngành về
vấn đề giá cả, đảm bảo đem lại lợi nhuận công bằng và sự hài hoà của
ngành.
c. Định giá đấu thầu.
Định giá đấu thầu xảy ra trong những trường hợp các doanh nghiệp
tham gia dụ thầu. Giá đấu thầu thuộc loại giá cạnh tranh.
Các doanh nghiệp tham gia đấu thầu định giá dựa trên cơ sở dự đoán
mức giá đấu thầu của các đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn giành hợp
đồng và muốn thắng thầu thường phải chấp nhận một mức giá thầu thấp hơn
so với các đối thủ cạnh tranh nếu họ cung ứng những sản phẩm tương tự sản

thị trường khác nhau. Đến khi việc tiêu sản phẩm bắt đầu giảm thì doanh
nghiệp cũng bắt đầu giảm giá để thu hút khách hàng mới và ngăn chặn đối
thủ cạnh tranh.
Chính sách này đặc biệt thích hợp với các sản phẩm mới vì:
* Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống của một sản phẩm, giá cả không phải
là yếu tố quan trọng nhất.
* Thị trường sẽ được phân định theo thu nhập nhờ giá cao.
* Nó có thể là một yếu tố bảo vệ một khi giá cả xác định sai.
* Giá cao ban đầu sẽ hạn chế nhu cầu ở mức sản xuất ban đầu của doanh
nghiệp.
b . Chính sách giá thâm nhập thị trường: Trong chiến lược này, một mức giá
thấp ban đầu sẽ giúp sản phẩm có được thị phần lớn ngay lập tức. Tuy nhiên,
để áp dụng chính sách này, nên có những điều kiện sau:
* Sản phẩm có mức cầu giãn lớn.
* Giá đơn vị của sản phẩm sẽ phải giảm đi đáng kể khi sản phẩm được sản
xuất theo quy mô lớn.
* Doanh nghiệp cần dự tính trước là sản phẩm đó sẽ phải chịu cạnh tranh
mạnh ngay khi nó xuất hiện trên thị trường.
-Chiết khấu và hoa hồng
+Chiết khấu:
Chiết khấu số lượng: Các đơn đặt hàng có thể giảm chi phí sản xuất và vận
chuyển hàng hoá.
Chiết khấu thương mại
Chiết khấu thanh toán
+ Các khoản hoa hồng: đó là việc giảm giá để bồi hoàn lại những dịch vụ
khuyến mại mà các đại lý đã thực hiện.
4.2 . Hình thành giá cả trong khuôn khổ danh mục hàng
hóa.
Theo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 104 về quản lý giá, từ
1/10, 17 nhóm hàng hóa, dịch vụ sẽ phải thực hiện đăng ký giá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status