I/ TÊN ĐỀ TÀI:PHÁT HUY TÍNH HỨNG THÚ HỌC TẬP TRONG BỘ
MÔN SINH HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH THAY SÁCH GIÁO KHOA
II/ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.Tầm quan trọng của vấn đề :
Để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong thời kì đẩy mạnh phát
triển công nghiệp, hội nhập quốc tế .Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu , luôn chú
trọng việc đổi mới phương pháp dạy học với phương châm “ học đi đôi với hành ”, tăng
cường sự sáng tạo của người học . Mục tiêu của việc giáo dục là giáo dục các em trở thành
con người toàn diện , được trang bị đầy đủ kiến thức , phát triển tốt về thể chất , nhân cách
và rèn luyện tốt về kĩ năng . Các em được học , được rèn luyện và được phát triển tư duy
sáng tạo , sau này các em sẽ vững vàng thích ứng với sự phát triển khoa học kĩ thuật , hòa
nhập được với thực tiễn và nhu cầu ngày càng cao của xã hội
. Tuy rằng các trường THCS đã có rất nhiều giáo viên tham gia hội giảng giáo viên giỏi
cấp Thành Phố về đổi mới phương pháp. Song học sinh vẫn còn quen với lối học thụ
động ,bắt chước chưa có sự sáng tạo,cho nên giáo viên còn lúng túng trong việc vận dụng
các phương pháp lên lớp .Mặt khác về phương tiện thiết bị dạy học ở nhiều trường còn quá
nghèo nàn,cho nên phần nào làm ảnh hưởng đến việc áp dụng phương pháp mới một cách
thiết thực,đáp ứng kịp thời yêu cầu ngày càng cao cuả xã hội.
2.Thực trạng liên qua đến vấn đề đang nghiên cứu
Về phía giáo viên : Chúng tôi thường nói đùa : thấy các thầy cô dạy toán văn trên
lớp mà thích . Đối với các môn văn , toán có nét đặc trưng riêng của nó , thầy cô chỉ việc
nghiên cứu kĩ bài , tìm phương pháp dạy phù hợp , giải các đề và bài tập khó . Đồ dùng
trên lớp cũng đơn giản .Còn đối với bộ môn sinh thì ngoài nội dung trên lớp , giáo viên
còn cần phải sử dụng các đồ dùng phục vụ cho một tiết học : Nào là các tranh vẽ , hai hoặc
ba cái bảng phụ , một túi xách mẫu vật chưa kể đến bưng bê những mô hình cồng kềnh
trên lớp . Thật là vất vả ? Đó là chuyện khi lên lớp , chưa nói đến thời gian tự làm đồ dùng
ở nhà phục vụ cho một tiết dạy. chính vì thế mà nhiều giáo viên ngại khó trong việc suy
nghĩ tìm ra các trò chơi bổ ích vì nó tốn công , tốn của mất nhiều thời gian . Do đó những
năm trước đây giáo viên chỉ sử dụng những đồ dùng có sẵn hoặc có tiết dạy chay . Nếu
như thế thì thật khó mà có thể lôi cuốn các em làm cho các em yêu thích bộ môn . Tôi
thường suy nghĩ dạy hấp dẫn đã khó còn việc suy nghĩ làm ra nhiều đồ dùng dạy học có
- Tạo cho các em thái độ tự tìm tòi nghiên cứu tìm ra kiến thức mới .
- Làm quen với cách tổ chức một số trò chơi .
IV/ Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình dạy học tôi nhận thấy rằng đa số giáo viên chỉ sử dụng đồ dùng dạy
học có trong phòng thiết bị thậm chí sử dụng chưa triệt để , chưa đầu tư làm đồ dùng dạy
học như sử dụng bảng phụ vẽ tranh câm , làm trò chơi để phục vụ cho các tiết học để tạo
hứng thú cho các em trong việc học môn sinh học .Đây cũng là một trong những nguyên
nhân làm hạn chế sự thich thú của các em . Vì vậy nhằm để phát huy tính hứng thú học tập
bộ môn và nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tôi xin trình bày một vài biện pháp phát
huy tính hứng thú học tập cho các em nhằm để khắc phục những hạn chế đã nêu trên
V/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1/ Chuẩn bị đồ dùng dạy học : Theo tôi ngoài việc dạy tốt những nội dung sách giáo khoa
đến với các em thì việc đầu tư làm đồ dùng , các trò chơi bổ ích sẽ đem đến cho các em
niềm hưng phấn , hứng thú . Ngay từ đầu năm học giáo viên nhóm sinh đã kiểm tra những
đồ dùng dạy học có trong phòng thiết bị , ghi tên những đồ dùng đã có như tranh vẽ chưa
có ở các khối lớp . Sau đó sẽ phân công giáo viên đảm nhận các khối chịu trách nhiệm bổ
sung những tranh thiếu . Yêu cầu tranh vẽ bổ sung phải có gí trị sử dụng lâu dài . Do đó
chúng tôi thay nhau vẽ tranh bằng sơn trên giấy rô ki hoặc bảng phụ bằng ván ép mỏng
quét sơn trắng . Chú thích tranh bằng giấy đánh vi tính dán lên . Khi cần thiết có thể gỡ ra
tiến hành tranh câm , hoặc có thể sử dụng ghép sơ đò trên ván ép ở nhiều tiết dạy vừa đẹp
vừa dễ sử dụng .
2
Ví dụ: Sơ đồ cấu tạo trong của van tim ( sinh 8). Hoặc có tranh chúng tôi làm theo
kiểu lắp ghép như : Sơ đồ cấu tạo tuần hoàn máu máu. Đối với những kiểu hình vẽ đơn
giản gv có thể cho các nhóm học sinh vẽ và yêu cầu vẽ sơn trên giấy rô ki , lưu ý không
cần nẹp , không cần chú thích . Giáo viên chịu trách nhiệm phần chú thích . Khuyến khích
các em có thể nhờ phụ huynh vẽ sao cho đúng , đẹp và ghi điểm cho các em bài 15 phút
chẳng hạn .
Đối với mẫu vật : những tiết dạy có sử dụng mẫu vật nhưng ở vùng chúng ta khan
hiếm thì nhóm sinh cũng phân công nhau đi tìm mẫu ép khô :
1. Các chất dinh dưỡng thấm qua thành ruột gọi là quá trình gì ? ( Hấp thu)
2. Nhờ đâu mà thức ăn tiêu hóa được thành chất dinh dưỡng ( Enzim )
3. Loại thức ăn xuống ruột non mới bắt đầu tiêu hóa ( Lipit)
4. Thức ăn biến đổi hoàn toàn thành chất dinh dưỡng tại đâu ? ( ruột non )
3
5. Thức ăn ở đâu được biến đổi một phần thành đường đơn ? ( khoang miệng)
6. Quá trình đưa chất không tiêu hóa được ra ngoài gọi là quá trình gì ? ( Thải phân )
Thế còn đối với các ô chìa khóa hàng dọc các em tự đoán khi trả lời ít nhất là hai câu
hàng ngang . Và tôi đã đưa ra thang điểm mỗi câu hàng ngang là 10 điểm , câu hàng dọc là
30 điểm nếu trả lời đúng đáp án , nếu sai sẽ mất quyền thi đấu ô chữ .
Với việc chuẩn bị giáo án cụ thể , với đầy đủ phương tiện phục vụ cho tiết dạy và với
lời giảng cũng như lời giới thiệu về thể lệ trò chơi đầy thiết phục chắc chắn sẽ tạo sự hưng
phấn , hứng thú trong tiết học . Và với sự nhiệt tình của mỗi thầy cô giáo qua mỗi tiết dạy
chắc chắn các em không phụ lòng và tôi tin rằng các em sẽ say mê yêu thích môn học
hơn .3/ Hình thức tổ chức :
Vơí lời giảng đầy thuyết phục , hấp dẫn đã khó còn việc tìm ra các hình thức tổ chức
sao cho phong phú đa dạng lại còn khó hơn .Muốn được như thế đòi hỏi giáo viên trước
hết phải yêu thích môn mình dạy hơn môn nào hết, phải đem hết sự nhiệt tình tận tâm , tận
ý vì các em học sinh thân yêu . Có được niềm đam mê , say sưa như thế thì mới tạo được
niềm vui sướng sau mỗi khi tìm ra được một hình thức tổ chức để tạo hứng thú cho một
tiết học .
*Cụ thể:
a/ Trò chơi ô chữ : Việc tìm ra ô chữ cho một số tiết dạy đòi hỏi tốn nhiều thời gian . Câu
hỏi đặt ra phải nằm trong phần trọng tâm của bài hoặc của chương . Thể lệ trò chơi ô chữ
cũng đa dạng .Chọn 2 đội A & B
* Phương pháp 1:
Cho mỗi đội chọn hàng ngang tùy thích . Mỗi hàng ngang trả lời đúng 10 điểm .Sau khi
trả lời được hai ô hàng ngang thì có quyền trả lời ô chìa khóa hàng dọc 30 điểm và định
đoạt một số câu hỏi cho khán giả của hai đội cỗ vũ cuộc chơi . Giáo viên thường động viên
sau mỗi câu trả lời đúng , khán giả nên vỗ tay hoan hô để ủng hộ tinh thần cho mỗi đội
gân lá …
Ví dụ : bài các loại quả như phần soạn bài ở trên tôi đã nêu ra và tôi chuẩn bị sẵn
.Sau khi truyền đạt xong nội dung tôi trêu hai bản phụ bằng giấy rô ki có kẻ sẵn
Quả khô
Quả thịt
Khô không nẻ Quả mọng Quả
hạch
Khô nẻ Trên giấy rô ki có băng dính ,tôi dùng hai khay mỗi khay đựng một số quả như đã
chuẩn bị ở phần soạn giáo án.Số quả ở hai khay giống nhau để ở hai nơi có đường đi cân
xứng bản phụ .Chọn hai đội A và B mỗi đội chín em .Thể lệ trò chơi :Trong 60 giấy nếu
đội nào gắn được nhiều hơn thì sẽ được điểm cao .Lưu ý em này xong thì em khác mới
được chạy lên gắn tiếp.Căn cứ vào số quả đúng giáo viên cho điểm mỗi đội .Mỗi khi các
đội chạy đến để gắn quả thì cả lướp cổ vủ cho hai đội .Lúc đếm số quả đúng giáo viên yêu
cầu học sinh hô giúp 1,2,3… 10 .Trong quá trình gắn quả chắc chắn sẽ có đội lúng túng
làm rơi quả làm tăng thêm những tiếng vỗ tay rêu cười của cả lớp tiết học sẽ sinh động và
vui vẽ hơn.Giáo viên cũng phát thưởng cho đội thắng cuộc bằng những gói quà cả hai đội
để khuyến khích tinh thần của các em .
5
d. Chú thích tranh câm :
Đối với một số tranh vẽ giáo viên chỉ vẽ hình mà không chú thích .sau khi học sinh
cho đem giấy thư kí ghi ,các em tự lên điền vì đã thảo luận xong các em đã hiểu và đã nắm
dược nội dung.làm như vậy yêu cầu các em khá giỏi sẽ chú tâm đến các em yếu,trung bình
lôi kéo các em vào hoạt động nhóm một cách thực tế mà bản thân em đó được các bạn
nhắc nhở nhiều lần nên dần dần cũng tự giác vào hoạt động nhóm một cách tích cực để
tránh điểm yếu kém cho nhóm .Ngược lại các em khá giỏi cũng sợ mình bị ảnh hưởng
điểm yếu kém nên nhắc nhở các bạn trung bình ,yếu đó điểm hoạt động nhóm sẽ tổng kết
hằn tháng và có thể lấy thêm một cột điểm miệng nhằm kích thích tinh thần,tạo tính hứng
thú cho các em học tập không những ở lớp mà ngay cả việc chuẩn bị bài mới ở nhà.chính
nhờ áp dụng biện pháp đó mà các lớp học trở nên sinh động hơn khi thảo luận nhóm và kết
quả nắm bắt kiến thức của các em cũng dễ dàng và hiệu quả cao.
6
VI/KẾTQUẢ:
Qua việc thực hiện thường xuyên những nội dung trên bản thân tôi đã gặt hái được
những kết quả khích lệ như sau :
Năm học Tỉ lệ yêu thích học tập môn sinh
2005-2006 30%
2006- 2007 50%
2007-2008 80%
2008-2009 90%
VII/KẾT LUẬN :
Qua việc dạy học tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm sau :
- GV dạy môn sinh học phải yêu thích bộ môn , lời giảng có sức thuyết phục , làm và
sử dung nhiều đồ dùng dạy học để minh họa tốt và gây hứng thú trong các tiết dạy .
Đây là công việc đòi hỏi sự tích góp , học hỏi tỷ mỉ , công phu trong cuộc đời người
thầy .
- Phối hợp tốt với các gv trong nhóm sinh để phân công thực hiện bổ sung các đồ
dùng dạy học có giá trị sử dụng lâu dài trong quá trình dạy nên suy cho cùng kinh
phí rất ít tốn kém vì chỉ đầu tư một lần . Những năm sau chỉ bổ sung nếu phát hiện
ra các hình thức mới .
- Phối hợp tốt với phụ huynh học sinh để hỗ trợ cho các tổ , nhóm học sinh hoàn
.Tên tài liệu:Dạy học sinh học ở trường THCS tập 1,2
.Nhà xuất bản Giáo dục
.Năm xuất bản 2000
4.Tên tác giả :Nguyễn Quang Vinh
.Tên tài liệu:Dạy học sinh học ở trường THCS tập 2
.Nhà xuất bản Giáo dục
.Năm xuất bản 2000
5. Tên tác giả :Đinh Quang Bảo
.Tên tài liệu:Lí luận dạy học sinh học
.Nhà xuất bản Giáo dục
.Năm xuất bản1998
8
MỤC LỤC
1.Tên đề tài trang 1
2.Đặt vấn đề trang 1
2.1 Nêu tầm quan trọng của vấn đề trang 1
2.2 Thực trạng liên quan đến vấn đề trang 1,2
2.3 Lý do chọn đề tài trang 2
2.4 Giới hạn nghiên cứu đề tài trang 2
3.Cơ sở lý luận trang 3
4.Cơ sở thực tiễn trang 3
5.Nội dung nghiên cứu trang 3,4,5,6
6.Kết quả nghiên cứu trang 7
7.Kết luận trang 7
8.Đề nghị trang 7
9. Tài liệu tham khảo trang 8
10.Mục lục trang 9
11.Phiếu đánh giá xếp loại trang 10,11,12
9