TRƯỜNGĐẠIHỌCKINHTẾQUỐCDÂN
HỆĐÀOTẠOTỪXA
KIỂMTRAMÔNLỊCHSỬKINHTẾ
Họ và tên: Phạm Văn Lệ
Mã số sinh viên: TX 070395
Khoa: Quản lý kinh tế - Lớp: A3
HÀ NỘI - 2008
BÀITẬP: LỊCHSỬKINHTẾ
I. CHỌNĐÚNG - SAI
1. Cánh mạng công nghiệp Anh tiến hành trong thời gian dài và
tuần tự từ thấp đến cao? Giải thích?
a. Đây là câu bình luận đúng, bởi vì có những quá trình lịch
sửđãđược ghi nhận, cụ thể như sau:
- Cách mạng công nghiệp Anh có những tiền đề chính trị thuận lợi -
chếđọ phong kiến bị ran rã dần (Bắt đầu từ thể kỳ XV) đến thể ký XVIII thì bị
thủ tiêu hoàn toàn - Nhà nước chếđộ quân chủ chuyên chế có xu hướng ủng
hộ CNTB. Một loạt các đạo luật nhằm bảo vệ quyền lợi giai cấp tư sản ra đời
như: Luật định cư năm 1662, Luật khuyến khích nông nghệp năm 1660 -
1673, 1689; Luật cấm lao động kỹ thuật ra nước ngoài năm 1719 - 1750. Luật
cấm xuất khẩu dụng cụ máy móc và bản vẽ kỹ thuật năm 1774 - 1781 - 1782 -
1785 - 1786 - 1795. Những đạo luật với những chính sách, biện pháp kinh
tếđó thực sự là tiền đềđể cho cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh phất tiến.
b. Thời gian Cách mạng Anh tiến hành kéo dào trong một thời gian
rất dài 47 năm kể từ năm 1733 đến 1870)
- Khởi điểm và kéo dài suốt thời gian trên bắt đầu từ công nghiệp nhẹ
(ngành dệt) đây là ngành đóng vai trò trụ cột - xuất phát từ việc sản xuất thủ
cong nhưng do yêu cầu sản lượng, năng suất phát triển nên những phát minh,
cải tiến kỹ thuật đã dần dần xuất hiện và từ những dụng cụđệt bằng tay
đãđược phát minh chạy bằng dây và bàn đạp, việc chế tạo các loại dây phát
triển và dần dần kỹ thuật dệt vài được đổi mới kéo theo các ngành có liên
quan như tẳng trắng, in hoa, nhuộm màu… cũng được đổi mới vàđược cải
giới thứ 2, các nước tư bản đãđẩy mạnh nghiên cứu vàứng dụng nhanh chóng
những thành tựu của khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, phát triển các ngành
3
công nghệ cao như: Năng lượng nguyên tử và các nguồn năng lượng khác,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ tin học, sinh học. Điều đó làm đổi mới tài
sản cốđịnh, năng suất lao động tăng hơn rất nhiều.
- CMKHKT và công nghệ làm thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế quốc
dân - công nghiệp có thể sản xuất những sản phẩm thay thế nguyên vật liệu
mà trước đây vẫn do nông nghiệp cung cấp như: cao su, sợi tổng hợp…, nhiều
ngành trước kia thuộc nông nghiệp cũng chuyển sang sản xuất theo phương
pháp công nghiệp. Các ngành dịch vụ cũng áp dụng nhiều công nghệ mới và
trở thành thị trường tiêu thụ máy móc của công nghiệp.
- CMKHKT thực đẩy quá trình phân công, chuyên môn hoá và hợp tác
quốc tế, từng bước chuyên môn hoá ngành có lợi thế cạnh tranh hoặc mua bán
giữa các nước.
- CMKHKT làm thay đổi hình thức và phương pháp tổ chức quan lý
kinh tế TBCn - sự phát triển của lực lượng sản xuất thúc đẩy, tích tụ và tập
trung tư bản, hình thành các công ty liên quốc gia - công nghệ mới được áp
dụng - các máy tính điện tử ngày càng được sử dụng rộng rãi trong viễcử lý,
phân tích các thông tin trong sản xuất và kinh doanh.
Kết luận: Sự ra đời của PTSX TBCN là một cuộc cách mạng tất yếu
trong lịch sử phát triển của loài người, nền kinh tế thị trường TBCN đãđánh
dấu 1 bước tiến nhảy vọt trong tất cả mọi lĩnh vực, quan trọng nhất đó là
CMKHKT và công nghệđã tạo điều kiện cho kinh tế TB công nghiệp phát
triển toàn diện, có chiều sâu. Tuy nhiên trong quá trình phát triển nền kinhtế
tư bản ở các nước cũng không phải lúc nào cũng hoàn hảo, vẫn có khủng
hoảng, lạm phát thất nghiệp…
Câu 3. Chính sách kinh tế mới của Liên Xô góp phần vào khôi
phục nhanh chóng trong giai đoạn 1921 - 1925 như thế nào?
a. Đây là một đánh giáđúng với thực trạng Liên Xô trong những năm
5
- Hiệu quả của việc thực hiện chinh sách "Kinh tế mới" tạo điều kiện
phát triển lực lượng sản xuất cảở nông thôn và thành thị - nóđáp ứng được qui
luật kinh tế xã hội chủ nghĩa trong khi nước Nga còn mang tính chất hàng hoá
và có nhiều thành phần kinh tế nhờđó trong một thời gian ngắn mà nước Nga
đã tiến được một bước dài trong việc củng cố khối liên minh công nông, một
Nhà nước công nông nhiều dân tộc đầu tiên trên thế giới đãđược thành lập.
Đó là liên bang cộng hoà XHCN Xô Viếtnăm 2019 cơ sở kinh tế mớ còn cóý
gnhĩa quốc tế, đổi mới các nước tiến lên XHCN đều càn thiết vận dụng tinh
thần cơ bản của cộng sản đó ví dụ vấn đề quan hệ hàng hoá, tiền tệ, nguyên
tắc liên minh công nông, sử dụng kinh tế nhiều thành phần…
+ Cơ sở kinh tế mới lấy nông nghiệp là nhiệm vụ hàng hoá, cơ bản, cấp
bách trước hết nhờ cơ sở này màđến cuối năm 1922 Liên Xôđã vượt qua
nạđói và dến nă, 1925 đã vượt mức trước chiến tranh.
+ Về công nghiệp ngành điện và cơ khí chế tạo vượt mức trước chiến
tranh một số xí nghiệp thuộc công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm đãđạt
và vượt quá mức trước chiến tranh.
+ Về Thương nghiệp - Lênin coi là một mắt xích trong chuỗi dây xích
các sự kiện lịch sử mà Nhà nước phải đem toàn lực ra mà nắm lấy nó. Do đoá
thương nghiệp được tăng cường mạnh mẽ (về nội thương - tổng mức lưu
chuyển hàng hoá năm 1926 gấp đôi năm 1924; về ngoại thương mở rộng quan
hệ buôn bán với hơn 40 nước. Thực hiện nguyên tằc độc quyền ngoại thương)
+ Về mặt tài chính: ngân sách Nhà nước đãđược củng cố lại, năm 1925
- 1926 thu nhập của Nhà nước tăng lên gấp 5 lần so với năm 1922 - 1923.
Năm 1921 ngân hàng Nhà nước được lập lại, đã tiến hành đổi tiền vào
các năm 1922 - 1923 - 1924. Giá trịđồng Rúp được tăng lên, có tác dụng rõ
rệt trong việc áp dụng chếđộ Hạnh toán kinh tế.
* Kết luận: Với việc áp dụng cơ sở kinh tế mới thay thế cơ sở kinh tế
cộng sản thời chiến thì từ những năm 1921 - 1925 nước Nga đã khôi phục
6
thực hiện cải cách, làm giảm uy tín của Đảng trứơc nhân dân.
* Từ sựđánh giáĐúng thực tiễn và nhân thức lý luận của đất nước, cơ
sởđể tiếp theo Hội nghịđã khởi thảo đường lối cải cách và mở cửa của Trung
Quốc trong nội dung khởi thảo đã có nội dung về sự thay đổi cơ cấu thành
phần kinh tế và cơ sở cấu quyền sở hữu.
* Trong giai đoạn đầu cải cách, Trung Quốc chủ trương xây dựng nền
kinh tế hàng hoá XHCN và tháng 10 năm 1992 tại đại hội 14 Đảng cộng sản
Trung Quốc đã dứt khoát chọn thể chế kinh tế TT XHCN là mục tiêu của cải
cách kinh tế. Ngay từđầu năm 1978 Đảng cộng sản Trung Quốc đã cho rằng:
nền kinh tế XHCN không phải do kế hoạch điều tiết đơn giản, đơn nhất mà có
thể thực hiện sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trường - Đảng cộng sản Trung
Quốc đã khẳng định kinh tế XHCN là kinh tế hàng hoá hoạt động có kế hoạch
trên cơ sở công hữuvà việc thực hiện kinh tế kế hoạch cùng với việc vận dụng
qui luật giá trị và phát triển kinh tế hàng hoá không hề có sự bài xích, mâu
thuẫn nhau mà thống nhất với nhau, Trung Quốc đã tiến hành cải cách giá cả,
tỷ giá, thuế và giá và hướng tới hình thành đồng bộ các loại thị trường vốn,
cho cơ chế thị trường được hoạt động thông suốt.
b. Với những chủ trương chính sách cải cách và mở cửa nên trên đã
làm thay đổi toàn bộ cơ cấu, thành phần kinh tế - đó là sự thừa nhận Trung
Quốc có một nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sơ hữu. Sựđa
dạng hoá các loại hình sở hữu trong điều kiện lấy chếđộ công hữu làm chủ
thể, với qui mô sở hữu phải dựa vào trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Qua thực tế cho thấy việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và lựa
chọn xác lập các hình thức sở hữu không thể xuất phát từý kiến chủ quan mà
phải do tính khách quan của lực lượng sản xuất hiệu quả của chính sách cải
cách và mở cửa đã nâng cao sức sản xuất, khai thác tốt mọi tiềm năng cho sự
phát triển kinh tế.
8