ĐẠI CƯƠNG VỀ HUYỆT
(Kỳ 4)
B. Dựa vào vị trí của huyệt trên cơ thể:
Một số tên huyệt giúp gợi nhớ thông qua vị trí của chúng trên cơ thể.
Những tên huyệt có mang từ kiên (vai) như Kiên tỉnh, Kiên ngung giúp liên
tưởng đến vị trí của chúng ở vai. Những tên huyệt có mang từ dương như Dương
lăng tuyền, Dương trì, Dương quan; ngoại như Ngoại quan giúp liên tưởng đến vị
trí của chúng ở mặt ngoài và sau của cơ thể. Những tên huyệt có mang từ âm như
Âm lăng tuyền, Âm giao; nội như Nội quan giúp liên tưởng đến vị trí của chúng ở
mặt trong và trước của cơ thể (tay chân).
Cũng với cơ sở trên mà những huyệt như Tiền đính (ở trên đầu phía trước),
Hậu đính (ở trên đầu phía sau), Giáp xa (ở hàm dưới), Nhũ trung (giữa hai vú),
Thái dương (ở màng tang, vùng thái dương), Yêu du (ở eo lưng).
C. Dựa vào tác dụng trị liệu của huyệt:
Những tên huyệt mang từ phong (gió) như huyệt Phong trì, Phong môn
dùng để trị và phòng chống cảm cúm.
Huyệt Tình minh (con ngươi sáng) dùng để trị thị lực kém.
Huyệt Nghinh hương (đón mùi thơm) dùng để trị những bệnh ở mũi.
Huyệt Thính cung, Thính hội dùng để trị những trường hợp thính lực rối
loạn.
Huyệt Thủy phân, Phục lưu (dòng chảy ngược lại) dùng để trị phù thũng.
Huyệt Á môn trị những trường hợp câm.
Huyệt Huyết hải trị những trường kinh nguyệt không đều.
4. Những tên gọi khác nhau của huyệt:
Hiện nay, có thể thấy cùng một huyệt được gọi với nhiều tên khác nhau.
Để tiện tham khảo chúng tôi cố gắng ghi lại những tên khác nhau của huyệt
(nếu có). Theo Lê Quý Ngưu, sở dĩ có tình trạng nêu trên là do:
- Do có sự khác nhau ngay trong các sách kinh điển cổ xưa của Đông y.
Huyệt Đốc du trong Châm cứu đại thành là huyệt đốc mạch du trong y tâm
phương.
+ Dựa vào vị trí của huyệt trên cơ thể.
+ Dựa vào tác dụng trị liệu của huyệt.