Tế bào:
Đơn vị căn bản của sự sống
Như nguyên tử là đơn vị của hóa
học, tế bào là những khối dựng lên
sự sống. 3 tuyên bố sau hình thành
nên thuyết tế bào:
-tế bào là đơn vị căn bản của sự
sống
-tất cả mọi sinh vật đều cấu tạo từ
tế bào
-tất cả tế bào đều hình thành từ tế
bào
Tế bào được cấu tạo từ những
phân tử nước và những phân tử lớn,
nhỏ mà chúng ta đã học trong 2
chương trước. Mỗi tế bào chứa ít
nhất 10,000 loại phân tử khác nhau,
hầu hết chúng tồn tại ở nhiều bản
sao. Tế bào dùng những phân tử
này để vận chuyển vật chất và năng
lượng, để đáp ứng với môi trường,
và để sao chép chính chúng.
Thuyết tế bào có 3 ý quan trọng:
1. Nghiên cứu sinh học tế bào cũng
giống như nghiên cứu về sự sống.
Nguyên tắc cơ bản là chức năng
của tế bào đơn như vi khuẩn cũng
lipid vào môi trường nước, thì
chúng sẽ tự sắp xếp thành những
giọt nhỏ được bao quanh bởi lớp
đôi. Xảy ra đồng thời với mô hình
hóa học tiền sự sống và giả thuyết
RNA được mô tả trong chương 3,
những thí nghiệm này đưa ra giả
thuyết ảo tưởng cho nguồn gốc tế
bào.
Kích thước tế bào được giới hạn
bởi tỷ lệ bề mặt và thể tích
Hầu hết tế bào rất nhỏ, thể tích tế
bào trong khoảng từ 1-1000m3.
Ngoại trừ trứng 1 vài loài chim rất
to lớn, 1 vài tế bào đặc biệt của vài
loài tảo và vi khuẩn đủ lớn để có
thể thấy bằng mắt thường. Và mặc
dù những nơron (tế bào thần kinh)
có thể tích nằm trong khoảng của tế
bào bình thường,nhưng mà những
phần phát xuất từ chúng có thể dài
hàng mét, mang tín hiệu từ 1 phần
đến phần khác trong động vật lớn.
Nhưng nhìn chung, tế bào rất nhỏ.
Sự gia tăng kích thước tế bào là
nguyên nhân của sự thay đổi tỉ lệ
giữa diện tích bề mặt và thể tích
(S/V)của bất cứ vật thể nào. Khi tế
bào tăng thể tích, diện tích bề mặt
của nó cũng tăng nhưng quy mô
Sự cần thiết của kính hiển vi trong
quan sát tế bào
Hầu hết các tế bào không thể nhìn
thấy bằng mắt thường. Một vật thể
nhỏ nhất mà mắt một người bình
thường có thể nhìn thấy được là
khoảng 0.2 mm (200 um). Chúng ta
gọi đó là độ phân giải (resolution),
tức giới hạn nhỏ nhất mà người ta
phân biệt được 2 điểm kề sát nhau,
không chập lại thành một. Rất
nhiều tế bào có kích thước nhỏ hơn
200 um. Kính hiển vi là dụng cụ
thường được sử dụng để cải thiện
độ phân giải giúp cho việc quan sát
được tế bào và các cấu trúc bên
trong của nó. Có 2 lại kính hiển vi
cơ bản: kính hiển vi quang học và
kính hiển vi điện tử. Kính hiển vi
quang học (light microscope – LM)
sử dụng thấu kính thủy tinh và ánh
sáng nhìn thấy được để phóng đại
vật thể. Nó có thể phân giải một
điểm khoảng 0.2 um gấp 1000 lần
độ phân giải của mắt người. Nó cho
phép chúng ta có thể hình dung
được hình dáng, kích cỡ và một số
cấu trúc bên trong tế bào. Các tế
bào dưới ánh sáng bình thường sẽ
khó phân biệt các chi tiết cấu trúc