Đông y phòng trị đau thắt ngực
Đau thắt ngực là một bệnh tim mạch thường gặp ở những người thể chất hư nhược, nam
giới trên 40 và nữ giới trên 45 tuổi. Chứng trạng điển hình của bệnh là: bỗng nhiên đau
thắt ở ngực trái – vùng trước tim và sau xương ức; đau thường lan lên cổ, hàm, vai, cánh
tay trái hoặc ra sau lưng. Cơn đau thường xuất hiện đột ngột, khi phải gắng sức, bị nhiễm
lạnh, ăn uống quá no say, tình cảm kích động mạnh. Tuy nhiên, cơn đau cũng có thể xuất
hiện bất chợt vào thời điểm bất kỳ trong ngày. Thông thường, cơn đau chỉ kéo dài 1-5
phút, nghỉ ngơi một lát hoặc uống thuốc là lại bình thường. Trường hợp bệnh nặng, bệnh
nhân có thể đau kịch liệt, cơn đau kéo dài, mặt trắng bệch, môi tím tái, vã mồ hôi lạnh,
chân tay tê dại, thậm chí đột tử.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đau thắt ngực là do nhu cầu về máu của cơ tim vượt quá
lượng máu được cung cấp từ động mạch vành và thường do động mạch vành bị xơ vữa.
Đau thắt ngực là căn bệnh có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu
được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, đồng thời thực hiện những biện pháp dự phòng
hữu hiệu, thì bệnh có nhiều khả năng được chữa khỏi, hoặc chí ít cũng có thể chung sống
bình yên với bệnh.
Sử dụng thuốc thảo dược của Đông y hiện tại là một trong số những biện pháp dự phòng
và chữa trị đau thắt ngực hữu hiệu. Đông y không có bệnh danh “đau thắt ngực”, nhưng
chứng trạng và phương pháp chữa trị căn bệnh này, đã được đề cập trong phạm vi các
chứng “hung thống”, “chân tâm thống” và “quyết tâm thống” (hôn quyết do đau tim).
Theo Đông y, nguyên nhân dẫn tới bệnh bao gồm “nội nhân” và “ngoại nhân”. Nội nhân
chủ yếu do tuổi cao, chức năng của 3 tạng tâm, tỳ và thận bị suy yếu, âm dương khí huyết
không đầy đủ, khiến cho tâm mạch bị nghẽn tắc mà gây nên bệnh. Ngoại nhân chủ yếu
do nhiễm lạnh, đột ngột ăn quá no, tình chí kích thích quá mạnh hoặc làm việc quá mệt
nhọc, khiến cho tâm mạch bị nghẽn tắc mà gây nên bệnh.
Người bệnh có thể căn cứ vào những chứng trạng biểu hiện cụ thể của bản thân mà chọn
dùng một trong các bài thuốc dưới đây, để tiến hành “biện chứng thi trị”.
Bài 1: Qua lâu bì (vỏ trái dưa trời) 12g, giới bạch (củ kiệu) 6g, can khương 9g, cao lương
khương (củ riềng) 15g, quế chi 9g, tam thất 6g, đan sâm 15g, hồng hoa 6g, tế tân 3g. Tất
cả nấu với 1.500ml nước, sắc lấy 600ml, chia ra 3 lần uống trong ngày, uống ấm, thuốc
trạch tả 15g, hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 15g, bạch truật 15g, đan sâm 15g, cao lương
khương 6g, hương phụ 6g, đàn hương 6g. Nấu với 2.000ml nước, riêng phụ tử cần sắc
trước ít nhất 1 giờ, sau đó cho các vị thuốc còn lại vào nấu tiếp; sắc lấy 600ml, chia ra 3
lần uống trong ngày, uống ấm.
Tác dụng: Ôn bổ tỳ thận, hoạt huyết, thông mạch, chỉ thống. Dùng chữa tim đau thể “tỳ
thận dương hư”, với những biểu hiện: ngột ngạt, khó thở, tim đau thắt, lúc đau nặng
xuyên ra sau lưng, chịu lạnh kém, tinh thần uể oải, lưng tê mỏi, tiểu tiện trong dài, hoặc
suyễn thở, đầu óc mơ màng, chân tay phù thũng. Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch
chìm nhỏ yếu, đôi khi như ngừng đập.