Nền kinh tế tri thức - Pdf 17

NỀN KINH TẾ TRI THỨC
I. SỰ RA ĐỜI CỦA KINH TẾ TRI THỨC
Khi nhân loại bước vào giai đoạn hai của cuộc CMKHKT hiện đại thì nền kinh tế thế giới có những
biến đổi về chất so với trước đây. Từ một nền kinh tế lấy tài nguyên, lao động đơn giản làm nền tảng kinh tế
thế giới đã chuyển sang thời kì mà chất xám, trí tuệ có vai trò chủ chốt. Sức mạnh đã chuyển từ các quốc gia
nhiều vàng đen, kim loại sang quốc gia giàu tri thức. Các ngành kinh tế chủ đạo chuyển từ công nghiệp sang
dịch vụ, từ khu vực sản xuất sang phi vật chất. Cuối cùng, giá trị của sản phẩm được xác định thông qua
lượng chất xám kết tinh trong đó. Kỉ nguyên của chúng ta, được gọi là kỉ nguyên của nền kinh tế tri thức.
II. KHÁI NIỆM VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC
Một câu hỏi phổ biến được đặt ra là tại sao lại cần phải có kinh tế tri thức, chẳng lẽ lại có những hoạt
động kinh tế không cần tri thức? Vấn đề là không nên hiểu khái niệm này theo kiểu triết tự ngôn từ, mà phải
hiểu nó như một thuật ngữ, một khái niệm.
Trước hết, nên tìm hiểu khái niệm tri thức. Theo Mác, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Tri
thức của một con người phản ánh sự nắm bắt thực tại khách quan của họ. Trong cuộc sống, con người vận
dụng tri thức để phục vụ cho bản thân mình, cho xã hội.
Tri thức của con người có thể phân thành hai loại là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Tri thức
kinh nghiệm (còn gọi là tri thức ngầm) hình thành trực tiếp qua hoạt động hàng ngày mà không qua học tập,
đào tạo, chẳng hạn: những tri thức về phòng tránh rét cho cơ thể, tri thức kĩ năng của nông dân trong sản
xuất nông nghiệp cổ truyền Những tri thức này là không đầy đủ, không hệ thống, vì nó mới cho người ta
cái đã biết, cái đã có và được tích luỹ ngày càng nhiều qua các thế hệ. Kinh nghiệm của người nông dân thất
học thế kỉ XX nhất định phải nhiều hơn so với người nông dân hồi đầu công nguyên. Tích luỹ tri thức theo
kinh nghiệm trong lịch sử loài người là một quá trình chậm chạp. Nền kinh tế dựa vào tri thức kinh nghiệm
cũng tiến triển chậm chạp, bấp bênh như chính sự đi lên của kinh nghiệm. Một sự thay đổi không theo nếp
cũ tất nhiên sẽ gây bất ngờ và người ta không lường được. Tri thức khoa học (còn gọi là tri thức nổi) là tri
thức hình thành qua hoạt động đào tạo, hình thành do khái quát các kinh nghiệm, thực tiễn và từ đó tìm ra
cái bản chất, các mối liên hệ, các quy luật vận động của sự vật hiện tượng. Nhờ đó con người có khả năng
suy luận, phán đoán, phát minh…
Có thể nói, với kinh nghiệm con người ta hiểu rất ít so với những gì người ta biết, nhưng với tri thức
khoa học, người ta có thể trải nghiệm ít nhưng hiểu nhiều và từ đó có cơ sở để dự đoán nhiều hơn nữa. Một
ví dụ điển hình, Menđêlêép chỉ biết có mấy chục nguyên tố nhưng đã dự đoán, thậm chí mô tả tính chất của
rất nhiều nguyên tố khác. Các nhà khoa học ngày nay có thể dự đoán chính xác đến phút, giây của những

ngành này, nguyên liệu, tài nguyên có rất ít ý nghĩa, cái quyết định giá trị sử dụng của chúng là tri thức và
sáng tạo. Chẳng hạn, trong việc sản xuất phần mềm máy tính thì nguyên liệu vật thể coi như đã bằng không.
Phân bố sản xuất cũng có những thay đổi lớn. Do trong nền kinh tế xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực kinh tế mới với nhu cầu mới về nguồn lực và thị trường nên bộ mặt phân bố sẽ khác với nền kinh tế
truyền thống. Một mặt, chuyên môn hoá theo lãnh thổ có thể rất rộng, mặt khác nhiều vùng trước đây là khó
khăn cho phát triển thì nay lại được đánh giá ngược lại. Ví dụ, chúng ta thường coi hoang mạc, núi non,
rừng thẳm là nơi phát triển kinh tế khó khăn thì trong kinh tế tri thức, chúng sẽ được đánh giá là đặc biệt hấp
dẫn cho một số ngành nào đó. Những nơi khô khan ở Hoa Kì là những nơi tập trung các ngành công nghệ
thông tin, tổ chức du lịch hay điện ảnh. Sự có mặt của Lát-vê-gat, Xôn-lếch, Hô-li-ut là những ví dụ tiêu
biểu…
2. Kinh tế tri thức có đặc điểm là rất linh hoạt
Kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trên sự sáng tạo. Sự sáng tạo thể hiện trong sản xuất cũng như trong việc
đặt ra những nhu cầu mới. Vì thế đổi mới trong nền kinh tế là một nét đặc trưng, quyết định sự phát triển.
Sự đổi mới đó thể hiện trong cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành. Do tính linh hoạt của tri thức nên người ta
dễ nảy ra ý tưởng mới, sáng chế những sản phẩm với tính năng mới, mẫu mã mới và dễ dàng thực hiện
chúng nhờ có trang bị thích hợp. Chẳng hạn, nếu trước đây, một người muốn thay đổi mẫu thiết kế một sản
phẩm phức tạp ví như ô tô hay toà biệt thự thì anh ta sẽ rất vất vả với khâu tính toán, đồ hoạ. Ngày nay, việc
đó trở nên rất đơn giản với sự trợ giúp của máy tính, với những phần mềm chuyện dụng.
Đổi mới cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm một phần quan trọng của nền kinh tế tri thức do nhu cầu thay
đổi thường xuyên. Sự xuất hiện những ngành, những lĩnh vực những sản phẩm mới cũng còn do những thay
đổi mau lẹ trong thị hiếu người tiêu dùng. Thời đại ngày nay, chu kì sống của sản phẩm hàng hoá rất ngắn.
Điều đó không phải do những tính năng, phẩm chất ban đầu của các sản phẩm ấy bị giảm đi nhanh hơn mà
là do chúng mau chóng bị mất đi những giá trị xã hội do thị hiếu người tiêu dùng thay đổi. Thêm vào đó,
nhu cầu của thị trường lại bị phân hoá sâu sắc theo nhóm xã hội, nghĩa là bị cá biệt hoá. Cho nên, thay vì
dùng các sản phẩm với tiêu chuẩn chung, thì người ta lại đòi hỏi những sản phẩm phù hợp với sở thích,
thậm chí sở thích nhất thời của cá nhân. Những đặc điểm này của đầu ra khiến các nhà sản xuất từ chỗ sản
xuất hàng loạt, đã phải chuyển sang sản xuất với seri nhỏ và thay vì tập trung chủ yếu vào sản xuất, người ta
phải đầu tư cho tiếp thị, quảng cáo, cách thức bán hàng…
3. Trong nền kinh tế tri thức, giáo dục, đào tạo có vai trò đặc biệt
Con người thể hiện vai trò của mình trong nền kinh tế thông qua các khía cạnh nhân văn chủ yếu. Con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status