Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta - Pdf 17

VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NƯỚC TA
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NƯỚC TA
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa -
hiện đại hóa, tạo tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng, ổn định của nền kinh tế.
Việc đánh giá cơ cấu kinh tế là "hợp lí" hoặc "tối ưu" được xem xét qua các khía cạnh sau:
+ Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo.
+ Đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng, nguồn lực của đất nước, của ngành, của địa phương.
+ Phản ánh đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội. Như là việc
lựa chọn cây trồng, vật nuôi phải phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai. Đặc biệt là các quy luật kinh tế,
quy luật của kinh tế thị trường
+ Sử dụng ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của nước ta và nước ngoài, giữa các vùng
trong nước.
+ Phản ánh được các xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, xu hướng hội nhập
kinh tế thế giới và khu vực.
Nền kinh tế nước ta trong quá trình Đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường có định hướng XHCN đã
và đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ. Các nước phương Tây xếp nước ta vào nhóm các
nước có nền kinh tế chuyển đổi (transitional economies). Thực ra, có một quá trình mang tính khái quát luôn
diễn ra ở mọi nền kinh tế, đó là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, hay là tái cấu trúc nền kinh tế (re-
structuring).
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra trên cả ba mặt:
- Chuyển dịch cơ cấu theo ngành.
- Chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ.
- Chuyển dịch cơ cấu theo các thành phần kinh tế.
Nước ta đi lên từ một nước nông nghiệp và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện trên cơ
sở của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy, xu hướng có tính tổng quát trong hai thập kỉ qua là trong cơ
cấu GDP tỉ trọng của nông - lâm - ngư nghiệp không ngừng giảm, tỉ trọng của công nghiệp - xây dựng và
dịch vụ tăng lên. Tuy nhiên, trong quá trình mở cửa nền kinh tế, tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế
giới, các biến động bất lợi của nền kinh tế khu vực và thế giới có ảnh hưởng ngày càng trực tiếp vào nền
kinh tế nước ta, làm cho quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn biến không thật ổn định
(xem H.1 và H.2).
Hình 1. Tốc độ tăng trưởng GDP thời kì 1990-2003

1
Thuật ngữ giá trị gia tăng của một ngành để chỉ phần của ngành đó trong GDP.
vẫn đảm bảo an toàn lương thực và xuất khẩu mỗi năm 3 - 4 triệu tấn gạo, có nhiều sản phẩm xuất khẩu cây
công nghiệp. Trong nông nghiệp, tỉ trọng của ngành trồng trọt đã giảm từ 79,3% (1990) xuống 75,4%
(2003). Có thể thấy rằng song song với sự giảm tỉ trọng ngành trồng trọt (diễn ra tuy không đồng đều và rõ
rệt nhất từ năm 1998 trở lại đây) là quá trình tăng dần tỉ trọng của ngành chăn nuôi (từ 17,9% năm 1990 lên
22,4% năm 2003), trong khi tỉ trọng của dịch vụ trong nông nghiệp dao động từ khoảng 2,5% đến 3%. Nếu
như trong ngành chăn nuôi (không kể nuôi trồng thủy sản), tốc độ tăng trưởng của chăn nuôi gia cầm có
phần cao hơn so với chăn nuôi gia súc và thì trong chăn nuôi gia súc, tăng trưởng chủ yếu là của đàn bò và
đàn lợn. Đáng chú ý là các sản phẩm không qua giết mổ (trứng và sữa) chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong
cơ cấu sản phẩm chăn nuôi, phản ánh một xu hướng mới trong chăn nuôi hiện đại của nước ta.
Ngành lâm nghiệp có tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu nông - lâm - thủy sản, và tập trung chủ yếu vào việc giữ
rừng, phát triển vốn rừng.
Ngành thủy sản đã có sự chuyển biến vượt bậc, tăng với tốc độ trên dưới 10% và tốc độ tăng của ngành
nuôi trồng thủy sản là rất cao. Vì thế, tỉ trọng của ngành thủy sản trong cơ cấu khu vực nông - lâm - ngư
tăng mạnh và cơ cấu ngành thủy sản đã chuyển dịch mạnh, cả về sản lượng và giá trị sản lượng, trong đó giá
trị sản lượng chuyển dịch nhanh hơn (xem các bảng dưới đây).
Bảng 1. Cơ cấu GDP khu vực nông - lâm - thủy sản 1995 - 2003
Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản
1995 84,7 4,6 10,7
1996 80,8 6,2 12,9
1997 81,5 6,0 12,5
1998 81,8 5,7 12,5
1999 81,9 5,6 12,4
2000 80,8 5,5 13,8
2001 78,5 5,4 16,0
2002 78,2 5,3 16,5
2003 76,6 5,0 18,4
Bảng 2. Cơ cấu sản lượng và cơ cấu giá trị sản lượng thủy sản
(theo giá so sánh 1994), thời kì 1990 – 2003

gắn ngay từ đầu với phát triển công nghiệp nhẹ, với khu vực dịch vụ và nông nghiệp, và nhất là không cân
nhắc đầy đủ các lợi thế so sánh trong điều kiện hội nhập kinh tế đang đi vào chiều sâu. Trong quá trình đổi
mới, ở giai đoạn đầu công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến thực phẩm được đặc biệt coi trọng. Từ đầu
thập kỉ 90 của thế kỉ XX trở lại đây, tỉ trọng của công nghiệp nặng ngày càng tăng lên và đến nay đã vượt tỉ
trọng của công nghiệp nhóm B.
Tỉ trọng của công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu GDP đã tăng từ 22,7% (năm 1990) lên 39,5% năm
2003 và đạt tới 40,1% năm 2004. Cứ theo đà này, thì tỉ trọng của công nghiệp và xây dựng sẽ ở mức 40 -
41% vào năm 2010. Nếu tính riêng khu vực công nghiệp thì tỉ trọng đã tăng từ 18,8% (năm 1990) lên 33,8%
(năm 2004).
Trong các ngành công nghiệp, ngành khai thác mỏ đã có bước tiến nhanh với khai thác dầu khí, than
được đẩy mạnh. Ngành dầu khí năm 1986 mới khai thác tấn dầu đầu tiên, thì nay đã có sản lượng gần 20
triệu tấn/năm (quy dầu) và ngành than tăng sản lượng lên hơn 3 lần, vượt 15 triệu tấn và nhanh chóng đạt 20
tấn/năm. Ngành điện cũng tăng trưởng mạnh, đi trước phục vụ sản xuất và dân sinh. Từ mức sản lượng điện
chưa tới 9 tỉ KWh năm 1990, đến nay sản lượng điện đã tăng 4 - 5 lần.
Ngành công nghiệp chế biến phát triển mạnh, chiếm khoảng 80% giá trị sản lượng công nghiệp. Trong các
ngành công nghiệp chế biến phải kể đến:
- Ngành dệt may và da giầy đã có bước phát triển vượt trội, đóng góp quan trọng vào mức tăng xuất
khẩu.
- Ngành sản xuất thép: Từ chỗ cả nước năm 1990 chỉ sản xuất 100 tấn thép thì nay đã đạt hơn 2,5 triệu
tấn thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Ngành điện, điện tử cũng tiến bước mạnh mẽ.
- Ngành vật liệu xây dựng đã sản xuất vượt 20 triệu tấn xi măng.
Ngành xây dựng đã có bước phát triển mạnh, phục vụ xây dựng công nghiệp và dân dụng (cả đô thị khi
đô thị hóa tăng nhanh và xây dựng nông thôn mới).
1.3. Khu vực dịch vụ
Trước đây, trong thời kì bao cấp, hoạt động dịch vụ chủ yếu chỉ bó hẹp trong khâu phân phối lưu thông
và do Nhà nước tổ chức quản lí. Các loại dịch vụ khác thì hầu như không có hoặc bị cấm. Nhờ các chính
sách đổi mới nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, ngành dịch vụ đã từng bước hình thành và phát
triển đa dạng với tốc độ nhanh chóng, góp phần phục vụ đắc lực cho sản xuất và cho tiêu dùng.
Ngành dịch vụ đã có những bước phát triển mạnh, nhất là lĩnh vực liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế

vào các nhân tố vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên…, mặt khác còn dựa vào sự tác động chủ quan của
con người. Nhận xét chung là đã có sự chuyển biến tích cực về mọi mặt trên mọi vùng kinh tế của đất
nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế theo vùng đang có sự chuyển dịch không thuận cho các vùng khó khăn,
cần có thời gian dài mới khắc phục được. Vì vậy, trong khoảng thời gian này, cũng cần có nhận thức,
chính sách nhất quán để xử lí những vấn đề mất cân đối phát sinh. Trong thực tế, Đông Nam Bộ vẫn là
vùng phát triển năng động nhất cả nước, trong khi các vùng khác, nhất là vùng núi vẫn còn nhiều khó
khăn. Khoảng cách phát triển và đời sống vẫn còn lớn giữa các vùng và trong nội bộ từng vùng.
Bảng 3. Cơ cấu GDP ( %) phân theo vùng (giá so sánh 1994)
Vùng 1994 1998 2003
Trung du và miền núi Bắc
Bộ
11,48 8.03 8.14
Đồng bằng sông Hồng 18,97 20.75 19.66
Bắc Trung Bộ 8.51 7.83 7.37
Duyên hải Trung Bộ 7.78 7.56 7.64
Tây Nguyên 3.02 3.52 4.12
Vùng Đông Nam Bộ 28.47 31.82 33.9
Vùng ĐBSCL 21.77 20.49 19.17
Tổng số 100.0 100.0 100,0
Nguồn: tính toán từ Số liệu kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố
Theo thống kê, GDP bình quân đầu người năm 2000 khá chênh lệch giữa các tỉnh thành trong cả nước
(Bảng 4)
Bảng 4. GDP bình quân đầu người các địa phương
Địa phương GDP bình quân
(nghìn đồng, giá
hiện hành)
Khoảng cách so
với tỉnh Hà Giang
(lần)

1,16
1,02
1,00
Nhờ chính sách điều tiết tốt nên tuy GDP bình quân đầu người có chênh lệch lớn, nhưng mức sống thì
chênh lệch ít hơn. Số hộ nghèo của các tỉnh này tuy vẫn chênh lệch lớn do các điều kiện ban đầu và những
lợi thế cạnh tranh rất khác nhau.
Trong sự chuyển biến của cả nước, cơ cấu kinh tế của các địa phương, các vùng lãnh thổ cũng đã có
sự chuyển dịch đáng kể. Đặc biệt các điều kiện về cơ sở hạ tầng đã được cải thiện rất nhiều. Cả nước hiện
có khoảng 205 nghìn km đường bộ, trên 3000 km đường sắt, gần 100 cảng biển, hơn 10 nghìn km đường
sông đã được khai thác, mạng hàng không nội địa có 24 đường bay đến 19 sân bay địa phương,… được bố
trí khắp các vùng với công suất đạt gần 14 triệu khách/năm. Ngành viễn thông có sự chuyển biến vượt
bậc. Đó là chưa kể tới mạng lưới hạ tầng xã hội như: trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, cung thể thao
được bố trí khắp cả nước. Điều này đã tạo điều kiện nâng cao mức sống của nhân dân, thực hiện xóa đói
giảm nghèo. Mức thu nhập bình quân của nhân dân tăng trên 5%/ năm. Hiện nay tỉ lệ nghèo chung đã
giảm một nửa sau 10 năm phấn đấu. Đây là một thành tựu lớn, được thế giới thừa nhận.
Cơ cấu kinh tế ngành của các vùng đã có sự thay đổi mạnh. Trên thực tế, chỉ có vùng Đông Nam Bộ về
hình thức có cơ cấu ngành đã tương ứng với nền kinh tế của nước công nghiệp, tuy chất lượng của chuyển
cơ cấu chưa cao, nhất là các ngành dịch vụ cao cấp còn chậm phát triển (năm 2000, nông nghiệp chiếm 6,6
GDP; công nghiệp chiếm tới 56,7% GDP và dịch vụ mới đạt 36,7% GDP). Tuy nhiên, công nghiệp phát
triển còn dựa nhiều vào công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến với công nghệ cao còn chưa phát triển
nhiều, làm ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh dài hạn của vùng.
Trong nước đã hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ phát triển cao: Vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Ba vùng này chiếm tới
58,46% GDP cả nước và nhờ đó tạo nên sức lan tỏa ra các vùng kinh tế khác trong nước. Khi xét tới những
chuyển dịch cơ cấu ngành trên các tỉnh, có thể thấy một số ít các tỉnh đã “về đích sớm” trong quá trình
thực hiện công nghiệp hóa. Có 5 tỉnh và thành phố thuộc ba vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội, Quảng
Ninh, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 đã có tỉ trọng nông nghiệp
giảm xuống dưới 10% GDP. Chỉ 5 địa phương này đã đóng góp 40% GDP cả nước.
Bảng 4. Cơ cấu ngành của các địa phương có chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, năm 2002 (%)
GDP

7,8
2,7
2,0
39,0
36,7
37,0
45,2
41,3
87,5
45,4
24,8
38,7
60,0
45,0
50,9
9,8
52,6
36,2
Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh năm 2000 và Việt Nam năm 2002, tr. 51.
Số liệu về các mục tiêu phát triển của Việt Nam, Tổng cục Thống kê, 2003, tr 15-17.
3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã góp phần quan trọng huy động các nguồn lực trong và
ngoài nước để đẩy mạnh tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong cơ cấu GDP có thể thấy khu vực
kinh tế Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo, nhưng mặt khác cũng thấy vai trò đang tăng lên của kinh tế tư
nhân và nhất là của khu vực có đầu tư nước ngoài.
Bảng 5. Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế (%)
Các thành phần kinh tế 1995 2002
Kinh tế Nhà nước 37.5 38,4
Kinh tế tập thể 10.8 8,0
Kinh tế tư nhân 7.5 8,3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status