ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Nguyễn Văn Hộ - Nguyễn Đăng Bình
PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
(Tài liệu dùng cho các lớp cao học thạc sĩ)
THÁI NGUYÊN - 2004
Bài mở đầu
ĐỐI TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
người. Hệ thống quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã trở thành
thế giới quan, là cơ sở phương pháp luận chung cho mọi quá trình nhận thức,
2
hướng dẫn các nhà khai học trên con đường tìm tòi sáng tạo.
Bộ môn thứ hai là Lịch sử phát triển khoa học tư nhiên và kỹ thuật đã tổng
kết thực tiễn nghiên cứu khoa học Tự nhiên và Kỹ thuật trong lịch sử thế giới,
cho chúng ta bức tranh chung về quá trình phát triển khoa học, nhờ đó mà ta có
thể phát hiện ra các qui luật, các xu hướng phát triển khoa học hiện đại.
Bộ môn thứ ba là Khoa học luận (Epistomology): Khoa học luận là bộ môn
khoa học "Nghiên cứu tổng hợp và tổng kết về mặt lý luận, kinh nghiệm hoạt
động của các hệ khoa học, phẩm dự báo chính sách khoa học - kỹ thuật, củng cố
tiềm lực khoa học và nâng hiệu suất của quá trình khoa học, thông qua các biện
pháp tác động về mặt tổ chức và xã hội". Đôbrôv G.M. Khoa học về khoa học.
NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 1976.Tr.31).
Đối tượng của Khoa học luận là bản thân khoa học được xem như một hệ
thống nhất thế. Phương pháp nghiên cứu của Khoa học luận là phân tích và tổng
hợp lý luận và thực tiễn hoạt động của các hệ khoa học. Khoa học học luận là bộ
môn khoa học có ý nghĩa to lớn đối với công tác tổ chức, quản lý và điều hành
các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Bộ môn thứ tư đặc biệt quan trọng là Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học.
Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri
thức về các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.
Các phương pháp nhận thức khoa học hiện đại rất đa dạng và cách phân
loại chúng cũng rất khác nhau. Cách thường gặp hơn cả là dựa vào phạm vi tác
động của các quy luật khách quan đã được nhận thức và được khái quát dưới
hình thức lý luận, từ đó hình thành hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt
động của chủ thể. Theo cách phân loại này, các phương pháp được chia ra thành
những nằm trong lôgíc nhận thức mà còn nằm trong cấu trúc nội dung một công
trình khoa học. Cho nên Phương pháp luận nghiên cứu khoa học một mặt xác
định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài, mặt khác còn tìm ra cấu
trúc lôgic nội dung của các công trình khoa học đó.
+ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ
chức, quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, coi đó
là một khâu ứng dụng chính các thành tựu khoa học, nhằm nâng cao tiềm lực
khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao.
Tóm lại Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về
phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo,
những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về
phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học
cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy.
II. Ý nghĩa của việc nghiên cứu hoàn thiện và nắm vững phương pháp
luận nghiên cứu khoa học:
1. Khoa học hiện đại có kết cấu bởi nhiều thành phần, trong đó có ba bộ
4
phận chủ yếu và quan trọng sau đây:
+ Hệ thống những khái niệm phạm trù, những quy luật, các lý thuyết, học
thuyết khoa học.
+ Hệ thống trí thức ứng dụng đưa các thành tựu khoa học vào sản xuất và
quản lý xã hội, nhằm cải tạo thực tiễn.
+ Hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu, về các con đường tìm
tòi, sáng tạo khoa học.
Như vậy, phương pháp luận là một trong ba bộ phận quan trọng của khoa
học.
2- Nghiên cứu khoa học luôn là sáng tạo và cách mạng, trong mỗi giai đoạn
phát triển của khoa học hiện đại đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới đối với khoa
học, phải tìm ra các phương pháp nghiên cứu mới, phải phát hiện ra các con
Marx, Engels, v.v đã dành nhiều quan tâm đến việc nhận dạng bản chất và cấu
trúc của khoa học; đặc điểm của hoạt động khoa học; chức năng xã hội của khoa
học cũng như chính sách của chính phủ đối với nghiên cứu khoa học. Khoa học,
do vậy, đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học khác
nhau
A- KHOA HỌC
I. Khoa học là gì?
Trong các từ điển cũng như trong các tài liệu chuyên môn khác nhau, khoa
học được giải thích theo nhiều cách khác nhau.
Một số tài liệu chuyên khảo về phương pháp luận nghiên cứu khoa học chỉ
hướng mối quan tâm từ giác độ phương pháp luận nghiên cứu và chỉ giới hạn
trong phạm vi những gì cần thiết cho công việc của người làm nghiên cứu khoa
học. Trên hướng tiếp cận này, chắt lọc những ý tưởng cốt lõi trong khái niệm
khoa học mà các tác giả khác nhau đã đề cập, khoa học có thể được xem xét
theo một số giác độ sau:
1. Xét theo kết quả của quá trình tích luỹ trí thức của nhân loại thì
KHOA HỌC LÀ MỘT HỆ THỐNG TRI THỨC VỀ THẾ GIỚI KHÁCH
QUAN:
Ngay từ khi xuất hiện, để tồn tại con người phải lao động, cùng với lao
động con người nhận thức thế giới xung quanh. Nhận thức trước hết để thích
ứng, tồn tại cùng với môi trường, sau đó để vận dụng những điều đã biết vào
cuộc sống làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn. Hoạt động nhận thức phát triển
theo dòng lịch sử và kết quả nhận thức ngày một phong phú, trở thành một hệ
thống tri thức về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quá trình nhận thức của con người được thực hiện với nhiều trình độ, bằng
6
các phương thức khác nhau và tạo ra hai hệ thống tri thức về thế giới.
a. Tri thức thông thường:
được xác lập trên các căn cứ xác đáng, có thể kiểm tra được và có tính ứng
dụng.
Mỗi kết luận khoa học đều được dựa trên các tài liệu thực tiễn hay lý
7
thuyết, nhờ có phép suy luận và các thao tác khái quát hoá, tựu tượng hoá con
người gạt bỏ những cái ngẫu nhiên, đi vào những mối quan hệ sâu xa bên trong
của các sự vật, hiện tượng, từ đó mà phát hiện ra những quy luật khách quan về
thế giới. Như vậy tri thức khoa học là sản phẩm cao cấp của trí tuệ con người.
Tri thức khoa học và tri thức thông thường tuy khác nhau nhưng có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Tri thức khoa học có thể xuất phát từ tri thức thông
thường, theo gợi ý của những hiểu biết thông thường để tiếp hành không nghiên
cứu một cách sâu sắc. Tuy nhiên tri thức khoa học không phải là tri thức thông
thường được hệ thống hoá lại hay những tri thức thông thường được hoàn thiện.
Tri thức khoa học là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học đặc biệt.
Từ những phân tích trên chúng ta có thể đồng tình với định nghĩa sau đây:
khoa học là hệ thông tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy. về những qui luật
phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức lấy được
hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội".
(Đại bách khoa toàn thư Liên Xô. Quyển XIX, tr.24 1 , bản tiếng Nga).
Phân tích toàn diện khái niệm khoa học ta thấy:
Đối tượng của khoa học là những hình thức tồn tại khác nhau của vật chất
đang vận động và cả những hình thức phản ánh chúng vào ý thức của con người.
Nói cách khác đối tượng của khoa học là thế giới khách quan và cả những
Phương pháp nhận thức thế giới.
Nội dung của khoa học bao gồm:
+ Những tài liệu về thế giới do quan sát, điều tra, thí nghiệm mà có.
+ Những nguyên lý được rút ra dựa trên những sự kiện đã được thực
nghiệm chứng minh.
+ Những qui luật, những học thuyết được khái quát bằng tư duy lý luận.
sắc toàn diện và hệ thống về thế giới.
Ý thức xã hội được phản ánh bằng nhiều hình thái khác nhau như: Tôn
giáo, Đạo đức Nghệ thuật, Chính trị, Khoa học Sự khác nhau giữa các hình
thái ý thức xã hội được qui định bởi mục đích, tính chất và phương thức phản
ánh. Thế giới là đối tượng duy nhất của sự nhận thức và cũng là nguồn gốc duy
nhất đem lại nội dung cho sự nhận thức.
Các hình thái ý thức xã hội là những hình thức khác nhau của sự phản ánh
về một thế giới thống nhất và chúng có chức năng xã hội riêng.
+ Tôn giáo là một hình thái ý thức phản ánh lòng tin không có căn cứ của
con người trước lực lượng siêu tự nhiên, mà bản thân con người không hiểu nổi,
không giải thích được nó và từ đó thần thánh hoá các sức mạnh siêu tự nhiên đó.
Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người, trong điều kiện trình độ
nhận thức và thực tiễn xã hội còn thấp kém. Tôn giáo làm cho con người lệ
thuộc vào thiên nhiên, trở thành nhỏ bé trước sức mạnh của thiên nhiên
9
+ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh các quan niệm về cái
thiện, cái ác trong các mối quan hệ xã hội, về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi
người trong cuộc sống cộng đồng và được biểu hiện bằng những qui tắc, chuẩn
mực cụ thể. Tiêu chuẩn đạo đức không được ghi thành văn bản, nhưng có giá trị
to lớn trong cuộc sống nhân loại. Đạo đức định hướng giá trị cho cuộc sống cá
nhãn và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Đạo đức đưa xã hội loài người tới
cuộc sống văn minh.
+ Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội phản ánh các hình tượng thẩm
mỹ của thế giới hiện thực thông qua những rung cảm thẩm mỹ cá nhân. Hình
tượng nghệ thuật là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, nó mang thấu ấn
độc đáo của chủ thể sáng tạo. Ý tưởng nghệ thuật xuất luật trong một hoàn cảnh
cụ thể trong điều kiện sống của cá nhân, trong cộng đồng dân tộc và thời đại.
Nghệ thuật là quá trình chủ thể hoá đối tượng thẩm mỹ và khách thể hoá tình
cảm thẩm mỹ. Nghệ thuật có chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức
cứu phương diện này trong chương sau.
II. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC
1. Quá trình phát triển của khoa học
Sự phát triển của khoa học gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người.
Khoa học ra đời khi xã hội đã đạt tới trình độ phát triển nhất định và gắn
liền với sự xuất hiện những nhân vật có những năng lực trí tuệ đặc biệt.
+ Ở thời cổ đại khi mới hình thành, khoa học là một thể thống nhất chưa bị
phân chia, mọi lĩnh vực tri thức đều tập trung trong Triết học. Người đặt nền
móng cho khoa học cổ đại chính là Aristôt (384-270 trước CN), mọi tri thức
khoa học và triết học thời đó đều tìm thấy trong tác phẩm của ông. Triết học
phát triển cùng với cuộc đàm tranh của hai trào lưu duy vật và duy tâm.
Khoa học dần dần phát triển cùng với thời gian và trình độ nhận thức của
xã hội loài người. Triết học được phân thành Thiên văn học, Hình học, Cơ học,
Tính học Những bộ môn này đạt tới trình độ lấy trái đất làm trung tâm trong
hệ thống tri thức thiên văn của Pơtôlêmêm, hình học của ơcơlit, tĩnh học của
Acsimet.
+ Thời Trung cổ kéo dài hàng nghìn năm, chủ nghĩa duy tâm thống trị xã
hội. Giáo hội bóp nghét mọi tư tưởng khoa học, làm cho khoa học tiến lên hết
sức chậm chạp. Tuy nhiên do nhu cầu của thực tiễn xã hội thúc đẩy, tri thức
khoa học vẫn được bổ sung, khoa học vẫn tiếp tục phát triển dù là rất chậm.
+ Thế kỷ XV-XVIII- thời kỳ phục Hưng: Trong khuôn khổ chế độ Phong
kiến xuất hiện nhiều mầm mống của chế độ Tư bản, bắt đầu xuất hiện quá trình
đô thị hoá, công nghiệp hoá, phát triển thường nghiệp, hàng hải dần mở ra cho
khoa học những triển vọng mới.
F.Anghen cho rằng đây là thời kỳ đầu của sự phát triển khoa học hiện đại.
Trong thời kỳ này một loạt các nhà khoa học ra đời có ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển của khoa học về sau như N.Côpécních, G.Galilê.I.Niutơn Thuyết
mặt trời là trung tâm của Côpécních đánh đổ thuyết của Pơtôlêmê, giáng một
đòn chí mạng vào Giáo hội: Khoa học bắt đầu được phân chia thành các lĩnh vực
+ Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ mới trong lịch sử phát triển
của khoa học.
Phép duy vật biện chứng thâm nhập vào mọi lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Khoa học tự nhiên bắt đầu được nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm với
những thủ đoạn kỹ thuật tinh vi.
Khoa học phân hoá mạnh thành các ngành, các lĩnh vực, các bộ môn riêng,
12
chúng nghiên cứu rất sâu và rất đa dạng, đồng thời các ngành khoa học lại thâm
nhập vào nhau tạo thành các khoa học trung gian, liên ngành.
Khoa học đã trở thành bộ máy lớn thạnh có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của
đời sống xã hội. Thành tựu của khoa học được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất
làm cho công nghiệp phát triển. Công nghiệp hoá bắt đầu diễn ra trên qui mô
toàn thế giới.
+ Ở thế kỷ XX khoa học phát triển như vũ bão, lượng thông tin tăng nhanh,
với tốc độ lớn, phạm vi rộng.
Đây là thời kỳ phát triển nhanh nhất của khoa học trong lịch sử nhân loại.
Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động vào mọi mặt
của đời sống xã hội.
Khoa học làm cho nền sản xuân hiện đại phát triển nhanh có hàm lượng trí
tuệ cao, sản phẩm phong phú, cháu lượng tốt thoả mãn nhu cầu cuộc sống của
con người. khoa học và công nghệ là đặc trưng của thời đại, là một biểu hiện rực
rỡ nhất của nền văn minh trong toàn bộ lịch sử con người.
2. Quy luật phát triển của khoa học
Nghiên cứu lịch sử phát triển của khoa học qua các thời kỳ, dẫn ta đến
những khái quát về các qui luật phát triển của khoa học hiện đại như sau:
a)- Qui luật phát triển có gia tốc của tất cả các lĩnh vực khoa học
Điểm nổi bật nhất của sự phát triển khoa học hiện đại là nhịp độ phát triển
ngày càng gia tăng trong tất cả lĩnh vực, trên tất cả các phương diện. Ta dễ dàng
nhận thấy trong các lĩnh vực sau đây:
nó đang diễn ra hết sức mạnh mẽ. Nội dung của quá trình này là sự tách một bộ
môn khoa học mới ra khỏi một bộ môn khoa học đang tồn tại. Bản chất quá trình
phân hoá các khoa học để hình thành một bộ môn khoa học có đối tượng nghiên
cứu hẹp hơn. Phần hoá là sự biểu hiện của phát triển khoa học và chính phân hoá
lại là con đường để khoa học phát triển mạnh mẽ hơn.
Khoa học phân hoá thành các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Môi lĩnh vực
chọn cho mình một đối tượng, một phần trong khách thể rộng lớn. Sự phân hoá
này cứ kéo dài mãi tạo ra hệ thống các bộ môn khoa học chúng nghiên cứu các
đối tượng rất đẹp. Do vậy tri thức khoa học trở nên hết sức toàn diện và cũng hết
sức sâu sắc
Lịch sử khoa học đã chứng minh cho quy luật này. Trong thời kỳ cổ đại,
như mọi người đều biết, triết học là khoa học duy nhất chứa đựng và tích hợp
những tri thức khoa học đầu tiên về tự nhiên và về xã hội, cho nên chỉ có một
loại hình quan hệ phục tùng của mọi ngành tri thức trước triết học. Triết học
biến thành một "khoa học của các khoa học". "khoa học bên trên các khoa học".
Từ thời Phục hưng, quan niệm này của triết học đã bị lung lay bởi sự phát
triển của chính bản thân khoa học tự nhiên: các khoa học tự nhiên bắt đầu tách
khỏi triết học từ trước đến nay vốn được coi là khoa học duy nhất. Sau này, đến
lượt khoa học xã hội (kinh tế học, chính trị học, ực sử, .v:v ) cũng tiếp tục phân
14
lập để trở nên những bộ môn khoa học độc lập. Ví dụ:
Triết học → Triết học; Lôgic học; Thiên văn học; Toán học; .v.v
Toán học → Số học; Đại số học; Hình học; Lượng giác; v.v
Hình học → Hình học; Hình học giải tích; Hình học vi phân; v.v
Vật lý → Vật lý lý thuyết; Vật lý thống kê; Cơ học; Nhiệt học; .v.v
Ngày nay khoa học đã phân ra thành trên 2000 bộ môn khác nhau. Khoa
học đang nghiên cứu các khía cạnh của thế giới. Có những lĩnh vực khoa học
nghiên cứu các thành phần nhỏ bé nhất của vật chất linh: hạt nhân nguyên tử, tế
bào, gieo Có những lĩnh vực khoa học nghiên cứu cả không gian vũ trụ bao la.
và tích hợp khoa học là hai xu hướng ngược chiều nhau, tưởng chừng chúng
mâu thuẫn với nhau, nhưng trong thực tế phát triển khoa học hiện đại chúng lại
song song tồn tại, phụ thuộc vào nhau, bổ sung cho nhau, cùng thúc đẩy sự tiến
bộ nhanh chóng của khoa học.
Khoa học phân hoá để phát triển và tích hợp để tạo nên một chất lượng
mới, chất lượng tổng hợp. Cả hai xã hướng cùng tác động trực tiếp đến nhịp độ
gia tăng của tri thức khoa học và tới sự hoàn thiện của các phương pháp nhận
thức và sự kiện toàn tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học.
d) Quy luật ứng dung nhanh chóng các thành tựu khoa học
Khoa học và đời sống là hai phạm trù thoạt nhìn có vẻ tách rời nhau, nhưng
thực tế chúng lại gắn bó mật thiết với nhau. Mục đích của khoa học chính là
cuộc sống, nghiên cứu khoa học chính là làm tăng chất lượng cuộc sống. Nhu
cầu cuộc sống là động lực thúc đẩy quá trình nghiên cứu và trình độ phát triển
của cuộc sống là điều kiện cho sự phát triển của khoa học.
Lịch sử phát triển khoa học và công nghệ cho thấy nhịp độ ứng dụng các
thành tựu khoa học mỗi ngày một nhanh hơn, điều đó đem lại hiệu quả rất lớn
làm phát triển nhanh cả khoa học và chất lượng cuộc sống. Khoa học được ứng
dụng vào sản xuất tạo ra công nghệ mới, ứng dụng vào cuộc sống xã hội tạo ra
quy định quản lý mới làm nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân
dân.
Để chứng minh cho quy luật này ta có thể dẫn ra những con số thống kê
sau đây; về thời gian ngày một rút ngắn kể từ lúc phát minh lý thuyết đến khi áp
dụng thành công vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm.
16
1934
1953
1955
1954
100 năm
88 năm
63 năm
35 năm
27 năm
19 năm
14 năm
12 năm
5 năm
2 năm
6 tháng
Do quy luật ứng dụng nhanh các thành tựu của khoa học vào sản xuất đã
làm thay đổi hàng loạt những tiêu chỉ trong sản xuất.
1- Rút ngắn thời gian đổi mới công nghệ sản xuất. Nếu trước đây một thế
hệ máy tồn tại từ 10 đến 12 năm thì nay còn 2 đến 3 năm, thậm chí còn ngắn
hơn nữa.
2- Sản phẩm hàng hoá thường xuyên cải tiến mẫu mã và chất lượng ngày
càng được nâng cao. Các thế hệ sản phẩm mới luôn xuất hiện trên thị trường, thí
dụ hàng điện từ, tin học, ô tô, xe máy thế hệ mới
3- Cơ cấu hoá thành sản phẩm hàng hoá đã thay đổi, nếu trước đây giá
thành chủ yếu do nguyên, vật liệu và sức lao động giản đơn tạo ra, thì ngày nay
có những mặt hàng tỷ trọng chất xám chiếm từ 60 đến 70% và còn cao hơn nữa.
4- Sản xuất hàng hoá rất chú trọng tới người tiêu dùng đặc biệt là phục vụ
cho nhu cầu thẩm mỹ cá nhân.
III. TRƯỜNG PHÁI KHOA HỌC VÀ BỘ MÔN KHOA HỌC.
1. Trường phái khoa học.
giữa bản chất sóng của ánh sánh với bản chất hạt của ánh sáng trong quang học,
vv…
Cuộc đấu tranh giữa các trường phái trong khoa học bao giờ cũng diễn ra
hết sức gay gắt và dai dẳng, thậm chí kéo kéo dài hàng trăm năm. Ví dụ. Toán
học hệ nhị phân (hệ đếm 2) đã bị toán học hệ thập phân chê cười và phủ đình
gần 150 năm, từ khi xuất hiện môn đại số Boole cho đến khi con người chế tạo
được chiếc máy tính điện tử đầu tiên. Lúc đó, người ta mới vỡ lẽ ra rằng toán
học hệ đếm 2 là cơ sở để xây dựng các nguyên lý hoạt động của máy tính điện
tử. Hơn nữa, ngày nay, người ta không thể tưởng tượng nổi nếu không có ngành
toán học hệ đếm 2 thì làm sao có được nền văn minh tin học hiện đại như bây
giờ. Và người ta cũng chưa hình dung hết triển vọng của nó. Cuộc đấu tranh
giữa các trường phái trong khoa học xã hội còn dai dẳng và gay gắt hơn nhiều.
Trường phái là một tồn tại khách quan. Thái độ người nghiên cứu đối với
18
ttrường phái trước hết phải là một thái độ thực sự khoa học để xem xét trường
phái. Người làm nghiên cứu khoa học không được chấp nhận sự kỳ thị trường
phái, mà phải biết em mối quan hệ giữa các trường phái để hiểu sâu sắc thêm
các thuộc tính, các khía cạnh khác nhau của sự vật và hiện tượng, đồng thời phải
biết xây dựng luận cứ khoa học vững chắc để cuối cùng, phải đi đến sự thừa
nhận hoặc không thừa nhận một trường phái.
1- Bộ môn khoa học
Sự xuất hiện một bộ môn khoa học thường dẫn tới sự thừa nhận hoặc
không thừa nhận. Để có thể đi tới thừa nhận hoặc không thừa nhận, không chỉ
dựa trên cơ sở tranh cãi cảm tính, mà phải dựa trên cơ sở những tiêu chí. Dựa
trên cơ sở của những tiên chí Về một bộ môn khoa học, người nghiên cứu sẽ tự
kiểm tra một trường phái hoặc một mộ môn khoa học mà mình đề xướng, hoặc
xem xét phân tích những trường phái hoặc bộ môn khoa học do các đồng nghiệp
đề xướng. Trên đại thể, tiêu chí để xem xét một bộ luôn khoa học có thể bao
gồm như sau:
tượng phù hợp với quy luật của khoa học. Thí du trường hợp Đại số Boole, ngay
George Boole cũng không giải thích được cho những người đương thời về mục
đích ứng dụng của môn đại số mà ông đã đề xướng. Chỉ đến ngày nay người ta
mới biết được ứng dụng to lớn như thế nào của toán học hệ đếm 2. Mặc dù như
vậy, người nghiên cứu cũng cần phải có đủ luận cứ để bác bỏ sự ngộ nhận tính
phi mục đích của một số lĩnh vực nghiên cứu.
IV- PHÂN LOẠI KHOA HỌC:
Từ những thế hệ khoa học thời Cổ đại qua Trung đại cho đến thế hệ khoa
học đương đại, các triết gia, các nhà nghiên cứu đã có mối quan tâm sâu sắc đến
phần loại khoa học. Lịch sử khoa học đã biết đến rất nhiều bảng phân loại khoa
học, từ công trình của những triết gia hà học giả mà những người bình thường
nhất trong giới nghiên cứu cũng biết đến tên tuổi, như: Aristote, Descarte,
Epicure, v.v cho đến những nhà nghiên cứu, đồng thời là những nhà cải cách
xã hội có tầm vóc vượt khỏi thời đại, như Saint Simon, Karl Marx và Friedric
Engels.
Chỉ đến C.Mác ( 1818- 1883) ) và F.Anghen (l820- 1895) mới là những
người đầu tiên đem lại cơ sở khoa học thực sự cho vấn đề phân loại. Các ông
cho rằng mỗi khoa học phản ánh một hình thức vận động của vật chất. Sự Phân
loại khoa học chính là sự phân chia các hình thức vận động của khách thể phù
hợp với tính nhất quán, bản chất bên trong của chúng. Mối liên hệ, chuyển hoá
giữa các khoa học là phản ánh sự chuyển hoá, phát triển các hình thức vận động
của thế giới.
Phân loại khoa học phải được dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau đây:
1. Nguyên tắc khácn quan: Thế giới vận động bằng nhiều hình thức, mỗi
hình thức phụ thuộc vào tính chất đặc hữu bên trong của vật chất, tương ứng với
nó là thiết lập các lĩnh vực khoa học cụ thể.
Mỗi lĩnh vực khoa học phản ánh một hình thức vận động của vật chất và tất
20
cả khoa học phản ánh toàn bộ các hình thức vận động của thế giới trong mối
Trong những ngày đầu công nghiệp hoá, người ta sử dụng rất phổ biến
21
thuật ngữ kỹ thuật (Technique) với ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại
công việc hay công cụ được sử dụng trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất.
Thí dụ: kỹ thuật bôi trơn chống ăn mòn kim loại trong các chi tiết máy.
Khi xuất hiện thuật ngữ công nghệ sản xuất, lúc đầu nó được hiểu là quy
trình kỹ thuật dùng trong dây chuyền sản xuất, về sau khái niệm công nghệ sản
xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn và dần dần ổn định như ngày nay.
Theo định nghĩa mà Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á và Thái
Bình Dương đề xướng, thì công nghệ sản xuất là tất cả những gì liên quan đến
việc biến đổi tài nguyên ở đầu vào thành hàng hoá ở đầu ra của quá trình sản
xuất. Hệ thống công nghệ sản xuất bao gồm:
+ Hệ thống máy móc, thiết bị đồng bộ của các dây chuyền sản xuất (phần
kỹ thuật).
+ Thông tin về quy tinh sản xâu hay các bí quyết kỹ thuật cho một hệ sản
xuất (Phát thông tin).
+ Trình độ tay nghề kỹ năng của người lao động trực tiếp sản xuất (phần
con người).
+ Trình độ tổ chức quản lý, điều hành sản xuất của ban quản lý xí nghiệp,
công ty (phần tổ chức).
Công nghệ (Technology) là thuật ngữ gọi tắt của công nghệ sản xuất bao
gồm hai phần: phần kỹ thuật và phần thông tin. Phần kỹ thuật của công nghệ gọi
là phần cứng (Hardware). Phần thông tin gọi là phần mềm (Sofrware).
Như vậy, công nghệ là hệ thống thiết bị kỹ thuật và thông tin về quy trình
sản xuất được áp dụng trong quá trình chế biến tài nguyên thành sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ.
Về bản chất, công nghệ là kết quả của quá trình áp dụng các thành tựu của
khoa học vào sản xuất. Công nghệ là sản phẩm của lao động trí tuệ sáng tạo của
con người trong lĩnh vực sản xuất. Công nghệ là tổ hợp nhiều công đoạn của quy
trước đây hiệu quả kinh tế dựa chủ yếu vào vốn đầu tư và sức lao động đơn giản,
nặng nhọc chiếm tới 60 đất 70% cơ cấu giá thành, thì ngày nay trong sản phẩm
công nghệ cao chất xám chiếm 70% đến 75% cơ cấu ấy. Có những mặt hàng
như: điện tử, tin học, dược phẩm Nguyên liệu chiếm 1-3% giá thành, sức lao
động 12%, còn lại dành cho đầu tư kiến thức mua bí quyết công nghệ, thực hành
thí nghiệm, sản xuất thử.
II. Chuyển giao công nghệ
Cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt thế giới.
Thang giá trị xã hội được đo bằng trí tuệ. Trí tuệ đã trở thành sàn phẩm cao
cấp có giá trị và giá trị sử dụng. Sản phẩm trí tuệ có mối giao lưu trên thị trường
hiện đại và bản thân nó cũng tạo ra thị trường có sức cạnh tranh mạnh mẽ. Các
nhà tương lai học khẳng định: Tương lai sẽ thuộc về dân tộc nào có tiềm lực trí
tuệ cao, chứ không thuộc về những nước giàu có tài nguyên, bởi vì trí tuệ con
23
người là cơ sở thật sự cho mọt sự phát triển khoa học và kinh tế - xã hội.
Việc ứng dụng các thành tựu khoa học đã làm rút ngắn thời gian đổi mới
công nghệ. Khả năng thay đổi công nghệ được dự tính trước. Máy móc có tính
mềm dẻo, linh hoạt, phụ kiện dễ thây thế, đảm bảo không bị lạc hậu so với công
nghệ mới. Việc đổi mới cóng nghệ diễn ra nhanh chóng kể cả số lượng và tốc độ
trên phạm vi toàn thế giới từ đó tạo nên quá trình chuyển giao công nghệ.
Chuyển giao công nghệ là nơi gặp gỡ giữa khoa học và thị trường.
Về bản chất, chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ,
thông qua dịch vụ thương mại có tổ chức.
Chuyển giao công nghệ theo khái niệm của UNESCO bao hàm. Chuyển
giao thiết bị kỹ thuật, chuyển giao kiến thức về quy trình sản xuất, chuyển giao
kinh nghiệm tổ chức quản lý và hoạt động tư vấn trong lĩnh vực sản xuất. Tuy
nhiên chuyển giao công nghệ chú trọng hai phần một cách đồng bộ: phần kỹ
thuật và phần thông tin.
Phần kỹ thuật được chuyển giao bằng dịch vụ thương mại thông thường,
trình sản xuất bằng việc ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học. Chuyển
giao công nghệ đảm bảo tính pháp lý của các chủ thể sáng tạo và quyền sử dụng
hợp pháp các thành quả khoa học ở các cơ sở sản xuất.
Với ý nghĩa kinh tế - thương mại, nó giúp mở rộng sự hợp tác giao lưu kinh
tế khoa học, kỹ thuật giữa các khu vực trong nước và quốc tế, từ đó làm rút ngắn
khoảng cách sự khác biệt trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật
giữa các khu vực và tạo điều kiện để các quốc gia cùng phát triển.
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước một trong
những con đường quan trọng của chúng ta là phải nhập ngoại công nghệ tiên
tiến, với chiến lược chung là: Bước đầu thích nghi với công nghệ nước ngoài để
áp dụng có kết quả vào sản xuất, dần dần,cải tiếm công nghệ nhập ngoại để có
sản phẩm tốt hơn, khi năng lực khoa học và công nghệ đủ mạnh thì vươn lên
sáng tạo công nghệ Việt Nam có sức cạnh tranh với công nghệ thế giới.
Chuyển giao công nghệ là hoạt động phức tạp có các mức độ, chiều sâu
khác nhau đó là: Trao kiến thức, trao phương tiện kỹ thuật, trao chìa khoá sau
khi xây dựng nhà máy, trao chìa khoá sau khi đã sản xuất ra sản phẩm, trao thị
trường truyền thống tiêu thụ sản phẩm, mức sâu nhất là đầu tư tư bản.
Chúng ta đang tranh thủ tối đa mọi khả năng của chuyển giao công nghệ để
nhanh chóng phát triển kinh tế tiếp kịp trình độ các nước trong khu vực.
C- KỸ THUẬT
- Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ
thống hoặc thực tiễn được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng
vào các quá trình sản xuất (kỹ thuật theo nghĩa hẹp).
- Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chiến hệ
25