Phương pháp luận nghiên cứu khoa học - Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Đăng Bình - Pdf 14

1

PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nguyễn Văn Hộ - Nguyễn Đăng Bình
(Tài liệu dùng cho các lớp cao học thạc sĩ)
Bài mở đầu
ĐỐI TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. Đối tượng và nội dung nghiên cứu của phương pháp luận nghiên cứu khoa học:
Trước đây, hầu như chỉ có triết học mới dành mối quan tâm nghiên cứu về khoa học như một
phạm trù triết học nhằm giải thích nguồn gốc của khoa học, các tuy luật nội tại của khoa học, quan hệ
giữa khoa học với khách thể mà khoa học nghiên cứu, quan hệ giữa khoa học với các hình thái xã hội.
Đã có một thời triết học lược coi là khoa học của các khoa học. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão
của khoa học công nghệ, khoa học đã trở thành bộ máy khổng lồ đang nghiên cứu, khám phá tất cả các
góc cạnh của thế giới. Kết quả nghiên cứu đã tạo ra một hệ thống tri thức đồ sộ và mở ra kỷ nguyên
bùng nổ thông tin. Những khám phá mới của khoa học đã làm thay đổi nhiều quan niệm truyền thống
trong sản xuất vật chất và trong đời sống tinh thần của xã hội. Về mặt này, khoa học không chỉ được
xem xét trong quan hệ với khách thể mà khoa học nghiên cứu, mà còn được xem xét trong quan hệ qua
lại với hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội.
Trước sự phát triển nhanh chóng ấy của khoa học và công nghệ, đến phần mình, bản thân khoa
học cũng cần được nghiên cứu một cách khoa học. Một mặt, phải tổng kết thực tiễn hoạt động nghiên
cứu khoa học, phân loại và hệ thống hoá toàn bộ những tri thức đã nhận thức được. Mặt khác, phải khái
quát những lý thuyết về cơ chế và phương pháp sáng tạo khoa học, cũng như tìm tòi các biện pháp tổ
chức, quản lý tốt quá trình nghiên cứu khoa học. Như vậy là, chính khoa học đã trở thành đối tượng
nghiên cứu.
Theo hướng đó, trong hơn hai nghìn bộ môn khoa học hiện đại, có một số bộ môn đã đề cập khá
sâu sắc tới nhiều khía cạnh khác nhau của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học như: Lịch sử
khoa học, tâm lý học sáng tạo, xã hội học khoa học, kinh tế học khoa học, tổ chức và quản lý khoa học
.v.v Chúng ta có thể kể đến các bộ môn quan trọng sau đây:
Bộ môn thứ nhất là Triết học. Triết học nghiên cứu tổng kết tất cả các thành tựu của khoa học, dựa
trên đó đã khái quát các qui luật nhận thức chung của loài người. Hệ thống quan điểm duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử đã trở thành thế giới quan, là cơ sở phương pháp luận chung cho mọi quá trình

khoa học hiện đại.
Phương pháp luận (Methodology) là học thuyết hay lý luận về phương pháp. Đó là hệ thống
những quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo, xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp, xác định phạm
vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả. Trong đó quan trọng nhất là các nguyên ly có quan hệ trực tiếp
với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và
vận dụng phương pháp. Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau.
Phương pháp là phạm trù rất rộng, cho liên phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn.
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đặt ra cho mình hàng loạt những nhiệm vụ quan trọng sau đây:
+ Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết các
quy luật phát triển của khoa học hiện đại.
+ Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ
năng thực hành sáng tạo của họ.
+ Nghiên cứu những quan điểm tổng quát, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức, đồng thời
xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, với tư cách là con đường, cách thức
và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể, đây là vấn đề trung tâm của phương pháp luận.
+ Phương pháp luận khẳng định phương pháp nghiên cứu khoa học không những nằm trong lôgíc
nhận thức mà còn nằm trong cấu trúc nội dung một công trình khoa học. Cho nên Phương pháp luận
nghiên cứu khoa học một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài, mặt khác còn
tìm ra cấu trúc lôgic nội dung của các công trình khoa học đó.
+ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý nghiên
cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng chính các thành tựu
khoa học, nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao.
Tóm lại Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức
khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học,
cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa
học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy.
II. Ý nghĩa của việc nghiên cứu hoàn thiện và nắm vững phương pháp luận nckh
3

1. Khoa học hiện đại có kết cấu bởi nhiều thành phần, trong đó có ba bộ phận chủ yếu và quan

năng xã hội của khoa học cũng như chính sách của chính phủ đối với nghiên cứu khoa học. Khoa
học, do vậy, đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học khác nhau
A- KHOA HỌC
I. Khoa học là gì?
Trong các từ điển cũng như trong các tài liệu chuyên môn khác nhau, khoa học được giải
thích theo nhiều cách khác nhau.
Một số tài liệu chuyên khảo về phương pháp luận nghiên cứu khoa học chỉ hướng mối quan
tâm từ giác độ phương pháp luận nghiên cứu và chỉ giới hạn trong phạm vi những gì cần thiết cho
công việc của người làm nghiên cứu khoa học. Trên hướng tiếp cận này, chắt lọc những ý tưởng cốt
4

lõi trong khái niệm khoa học mà các tác giả khác nhau đã đề cập, khoa học có thể được xem xét
theo một số giác độ sau:
1. Xét theo kết quả của quá trình tích luỹ trí thức của nhân loại thì KHOA HỌC LÀ
MỘT HỆ THỐNG TRI THỨC VỀ THẾ GIỚI KHÁCH QUAN:
Ngay từ khi xuất hiện, để tồn tại con người phải lao động, cùng với lao động con người nhận
thức thế giới xung quanh. Nhận thức trước hết để thích ứng, tồn tại cùng với môi trường, sau đó để
vận dụng những điều đã biết vào cuộc sống làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn. Hoạt động nhận
thức phát triển theo dòng lịch sử và kết quả nhận thức ngày một phong phú, trở thành một hệ thống
tri thức về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quá trình nhận thức của con người được thực hiện với nhiều trình độ, bằng các phương thức
khác nhau và tạo ra hai hệ thống tri thức về thế giới.
a. Tri thức thông thường:
Trong cuộc sống đời thường, con người tiếp xúc với thiên nhiên với xã hội, phải giải quyết
những công việc thực tế hàng ngày, bằng các giác quan, con người tri giác, cảm nhận về bản thân,
về thế giới xã hội xung quanh, từ đó mà có những kinh nghiệm sống. những hiểu biết về mọi mặt.
Đó chính là tri thức thông thường. Tri thức thông thường được tạo ra từ phép quy nạp đơn giản,
không có mô hình lý thuyết, do vậy nó chưa chỉ ra được bản chất bên trong, chưa phát hiện được
các quy luật của những sự vật, hiện tượng và chưa thành một hệ thống vững chắc.
Tri thức thông thường được con người sử dụng, trao đổi với nhau, truyền đạt cho nhau, mỗi

Từ những phân tích trên chúng ta có thể đồng tình với định nghĩa sau đây: khoa học là hệ thông tri
thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy. về những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư
duy, hệ thống tri thức lấy được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn
xã hội". (Đại bách khoa toàn thư Liên Xô. Quyển XIX, tr.241, bản tiếng Nga).
Phân tích toàn diện khái niệm khoa học ta thấy:
Đối tượng của khoa học là những hình thức tồn tại khác nhau của vật chất đang vận động và
cả những hình thức phản ánh chúng vào ý thức của con người. Nói cách khác đối tượng của khoa
học là thế giới khách quan và cả những Phương pháp nhận thức thế giới.
Nội dung của khoa học bao gồm:
+ Những tài liệu về thế giới do quan sát, điều tra, thí nghiệm mà có.
+ Những nguyên lý được rút ra dựa trên những sự kiện đã được thực nghiệm chứng minh.
+ Những qui luật, những học thuyết được khái quát bằng tư duy lý luận.
+ Những Phương pháp nhận thức sáng tạo khoa học.
+ Những qui trình vận dụng lý thuyết khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội.
Chức năng của khoa học là:
+ Khám phá bản chất các hiện tượng của thế giới khách quan: Giải thích nguồn gốc phát sinh,
phát hiện ra các qui luật vận động và phát triển của các hiện tượng ấy.
+ Hệ thống hoá các tri thức đã khám phá được tạo thành các lý thuyết, học thuyết khoa học.
+ Nghiên cứu ứng dụng những thành quà sáng tạo khoa học để cải tạo thực tiễn.
Động lực của sự phát triển khoa học là nhu cầu thực tiễn của cuộc sống con người. Nhu cầu
thực tiễn gợi ý cho mọi đề tài và đồng thời là mục tiêu phải giải quyết của mọi đề tài khoa học.
Thực tiễn vừa là nguồn gốc nhận thức vừa là tiêu chuẩn để xác minh tính chân thực, vừa là mục tiêu
giải quyết của mọi lý thuyết khoa học. Xét trên giác độ xã hội thì:
a) KHOA HỌC LÀ MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI.
Theo quan điểm triết học các được trinh bầy trong Từ điển Triết học của Rozental, khoa học
tồn tại như một hình thái xã hội.
Toàn bộ cuộc sống của xã hội loài người bao gồm hai lĩnh vực: lĩnh vực vật chất (tồn tại xã
hội) và lĩnh vực tinh thần (ý thức xã hội). Tồn tại xã hội là tất cả những gì đang diễn biến xung
quanh chúng ta. Ý thức xã hội là kết qua sự phản ánh tồn tại xã hội vào bộ não con người. Sự phản
ánh này được thực hiện với nhiều mức độ khác nhau như: ý thức sinh hoạt đời thường, tâm lý, ý

Chính là thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa các giá cấp để thiết lập trật tự xã hội và cuộc đấu tranh
giữa các quốc gia để xác lập chủ quyền dân tộc, trong quản lý và bảo vệ đất nước. Chính trị được
duy trì bằng các công cụ chuyên chính. Mọi hình thái ý thức xã hội đều bị chi phối bởi ý thức chính
trị, phục túng đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền.
+ Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, tạo ra hệ thống
chân lý về thế giới. Hệ thống chân lý này được diễn đạt bằng các khái niệm, phạm trù trừu tượng,
những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, học thuyết Khoa học phản ánh thế giới bằng các
phương thức và công cụ đặc biệt. Khoa học không những hướng vào giải thích thế giới mà còn
nhàm tới cải tạo thế giới. Khoa học làm cho con người mạnh mẽ trước thiên nhiên, bắt thiên nhiên
phục vụ cho cuộc sống của mình.
Khoa học có vị trí độc lập tương dối trước các hình thái ý thức xã hội khác nhưng đồng thời
lại có mối liên hệ biện chứng với chúng. Tất cả các hình thái ý thức xã hội đều là đối tượng nghiên
cầu của khoa học. Khoa học có khả năng vạch rõ nguồn gốc, bản chất, xác định tính chính xác của
sự phản ánh hiện thực và ý nghĩa xã hội của tất cả các hình thái ý thức xã hội khác.
b) KHOA HỌC LÀ MỘT HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT
Đứng ở góc độ hoạt động, khoa học có thể được hiểu là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của
loài người, giống linh hoạt động văn hoá, nghệ thuật, khoa học, công nghệ Mỗi loạt hình hoạt
động có mục đích và phương thức riêng. Khoa học là một loại hình hoạt động có mục đích khám
phá bản chất và các qui luật vận động của thế giới để ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống xã
hội. Về thực chất, ở góc độ này, khoa học được hiểu là hoạt động nghiên cứu khoa học, là quá trình
7

phát minh sáng tạo ra tri thức mới cho nhân loại. Ta sẽ nghiên cứu phương diện này trong chương
sau.
II. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC
1. Quá trình phát triển của khoa học
Sự phát triển của khoa học gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người.
Khoa học ra đời khi xã hội đã đạt tới trình độ phát triển nhất định và gắn liền với sự xuất hiện
những nhân vật có những năng lực trí tuệ đặc biệt.
+ Ở thời cổ đại khi mới hình thành, khoa học là một thể thống nhất chưa bị phân chia, mọi

hệ biện chứng giữa khoa học và sản xuất.
Theo Anghen thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đó là: Định luật bảo toàn và biến hoá năng
lượng của R.Maye và ].Dulơ Thuyết tế bào của P-Gôrianinôp và F.Purơkinê, Thuyết tiến hoá của
S.Đacuyn, đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển khoa học.
8

Cũng ở thời kỳ này, cùng với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng phát triển. Cuộc đấu
tranh thắng lợi giữa chủ nghĩa duy vật trước chủ nghĩa duy tâm. Quan điểm lịch sử và phép biện
chứng duy vật được phát hiện là những cống hiến hết sức to lớn lao cho nhân loại.
Chủ nghĩa Mác ra đời là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của cả khoa
học xã hội và khoa học tự nhiên, như một .đặc điểm nổi bật nhất của thời kỳ này. Chủ nghĩa Mác là
sự thống nhất giữa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
+ Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của khoa học.
Phép duy vật biện chứng thâm nhập vào mọi lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Khoa học tự
nhiên bắt đầu được nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm với những thủ đoạn kỹ thuật tinh vi.
Khoa học phân hoá mạnh thành các ngành, các lĩnh vực, các bộ môn riêng, chúng nghiên cứu
rất sâu và rất đa dạng, đồng thời các ngành khoa học lại thâm nhập vào nhau tạo thành các khoa học
trung gian, liên ngành.
Khoa học đã trở thành bộ máy lớn thạnh có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Thành tựu của khoa học được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất làm cho công nghiệp phát triển. Công
nghiệp hoá bắt đầu diễn ra trên qui mô toàn thế giới.
+ Ở thế kỷ XX khoa học phát triển như vũ bão, lượng thông tin tăng nhanh, với tốc độ lớn,
phạm vi rộng.
Đây là thời kỳ phát triển nhanh nhất của khoa học trong lịch sử nhân loại.
Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động vào mọi mặt của đời sống xã hội.
Khoa học làm cho nền sản xuân hiện đại phát triển nhanh có hàm lượng trí tuệ cao, sản phẩm
phong phú, cháu lượng tốt thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người. khoa học và công nghệ là
đặc trưng của thời đại, là một biểu hiện rực rỡ nhất của nền văn minh trong toàn bộ lịch sử con
người.
2. Quy luật phát triển của khoa học

nhau của chúng. Đây là xu hướng hiện thực của sự phát triển khoa học hiện đại, nó đang diễn ra hết
sức mạnh mẽ. Nội dung của quá trình này là sự tách một bộ môn khoa học mới ra khỏi một bộ môn
khoa học đang tồn tại. Bản chất quá trình phân hoá các khoa học để hình thành một bộ môn khoa
học có đối tượng nghiên cứu hẹp hơn. Phần hoá là sự biểu hiện của phát triển khoa học và chính
phân hoá lại là con đường để khoa học phát triển mạnh mẽ hơn.
Khoa học phân hoá thành các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Môi lĩnh vực chọn cho mình
một đối tượng, một phần trong khách thể rộng lớn. Sự phân hoá này cứ kéo dài mãi tạo ra hệ thống
các bộ môn khoa học chúng nghiên cứu các đối tượng rất đẹp. Do vậy tri thức khoa học trở nên hết
sức toàn diện và cũng hết sức sâu sắc
Lịch sử khoa học đã chứng minh cho quy luật này. Trong thời kỳ cổ đại, như mọi người đều
biết, triết học là khoa học duy nhất chứa đựng và tích hợp những tri thức khoa học đầu tiên về tự
nhiên và về xã hội, cho nên chỉ có một loại hình quan hệ phục tùng của mọi ngành tri thức trước
triết học. Triết học biến thành một "khoa học của các khoa học". "khoa học bên trên các khoa học".
Từ thời Phục hưng, quan niệm này của triết học đã bị lung lay bởi sự phát triển của chính bản
thân khoa học tự nhiên: các khoa học tự nhiên bắt đầu tách khỏi triết học từ trước đến nay vốn được
coi là khoa học duy nhất. Sau này, đến lượt khoa học xã hội (kinh tế học, chính trị học, ực sử,
.v:v ) cũng tiếp tục phân lập để trở nên những bộ môn khoa học độc lập. Ví dụ:
Triết học → Triết học; Lôgic học; Thiên văn học; Toán học; .v.v
Toán học → Số học; Đại số học; Hình học; Lượng giác; v.v
Hình học → Hình học; Hình học giải tích; Hình học vi phân; v.v
Vật lý → Vật lý lý thuyết; Vật lý thống kê; Cơ học; Nhiệt học; .v.v
Ngày nay khoa học đã phân ra thành trên 2000 bộ môn khác nhau. Khoa học đang nghiên cứu
các khía cạnh của thế giới. Có những lĩnh vực khoa học nghiên cứu các thành phần nhỏ bé nhất của
vật chất linh: hạt nhân nguyên tử, tế bào, gieo Có những lĩnh vực khoa học nghiên cứu cả không
gian vũ trụ bao la.
c) Quy luật tích hợp của các lĩnh vực khoa học
Một điều dễ nhận thấy là khoa học càng phân nhanh để đi vào nghiên cứu theo chiều sâu, thì
một bộ môn khoa học hẹp lại không thể bao quít nổi các đối tượng phức tạp có tính hệ thống cao.
Do vậy, khi cần nhận thức những đối tượng phức tạp lại đòi hỏi một sự phối hợp giữa các ngành và
các bộ luôn khoa học khác nhau tạo thành những liên ngành để cùng nghiên cứu.

gắn bó mật thiết với nhau. Mục đích của khoa học chính là cuộc sống, nghiên cứu khoa học chính là
làm tăng chất lượng cuộc sống. Nhu cầu cuộc sống là động lực thúc đẩy quá trình nghiên cứu và
trình độ phát triển của cuộc sống là điều kiện cho sự phát triển của khoa học.
Lịch sử phát triển khoa học và công nghệ cho thấy nhịp độ ứng dụng các thành tựu khoa học
mỗi ngày một nhanh hơn, điều đó đem lại hiệu quả rất lớn làm phát triển nhanh cả khoa học và chất
lượng cuộc sống. Khoa học được ứng dụng vào sản xuất tạo ra công nghệ mới, ứng dụng vào cuộc
sống xã hội tạo ra quy định quản lý mới làm nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Để chứng minh cho quy luật này ta có thể dẫn ra những con số thống kê sau đây; về thời gian
ngày một rút ngắn kể từ lúc phát minh lý thuyết đến khi áp dụng thành công vào quá trình sản xuất
tạo ra sản phẩm.
Tên phát minh sáng chế Năm phát hành Năm sản xuất Thời gian
11

Máy hơi nước
Máy chiếu bóng
Phim ảnh
Radio
ôtô
Điêzen
Máy bay
Vô tuyến điện
Tranzitor
Pin mặt trời
Laze
1680
1756
1832
1867
1868
1878

12 năm

5 năm
2 năm
6 tháng Do quy luật ứng dụng nhanh các thành tựu của khoa học vào sản xuất đã làm thay đổi hàng
loạt những tiêu chỉ trong sản xuất.
1- Rút ngắn thời gian đổi mới công nghệ sản xuất. Nếu trước đây một thế hệ máy tồn tại từ 10
đến 12 năm thì nay còn 2 đến 3 năm, thậm chí còn ngắn hơn nữa.
2- Sản phẩm hàng hoá thường xuyên cải tiến mẫu mã và chất lượng ngày càng được nâng cao.
Các thế hệ sản phẩm mới luôn xuất hiện trên thị trường, thí dụ hàng điện từ, tin học, ô tô, xe máy
thế hệ mới
3- Cơ cấu hoá thành sản phẩm hàng hoá đã thay đổi, nếu trước đây giá thành chủ yếu do
nguyên, vật liệu và sức lao động giản đơn tạo ra, thì ngày nay có những mặt hàng tỷ trọng chất xám
chiếm từ 60 đến 70% và còn cao hơn nữa.
4- Sản xuất hàng hoá rất chú trọng tới người tiêu dùng đặc biệt là phục vụ cho nhu cầu thẩm
mỹ cá nhân.
III. TRƯỜNG PHÁI KHOA HỌC VÀ BỘ MÔN KHOA HỌC.
1. Trường phái khoa học.
Khoa học luôn đưa ra những phát hiện mới về quy luật phát triển của tự nhiên xã hội và chính
con người các hiện tượng mới đó có thể đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau và cùng một sự vật
hoặc vùng một hiện tượng. Ví dụ. các hiện tượng kinh tế được xem xét trên giác độ chính trị (Kinh
tế học chính trị hoặc được xem xét trên giác độ xã hội (kinh tế học xã hội). Thường khi cá giải thích
sau có tác dụng bổ khuyết cho các phát hiện trước, đội khi. thậm chí chủ định các phát hiện trước.
Các khuynh hương khác nhau đó được gọi là trường phái khoa học.
Như vậy có thể xem trường phái khoa học là một hướng tiếp cận nghiên cứu theo một góc
nhìn xác định và bởi một hệ phương pháp luậ xác định. Trường phái khoa học xuất hiện là so sự
phát triển ngày càng sâu rộng của khoa học, do sự xuất hiện các gó nhìn khác nhau đối với đối

nhận một trường phái.
1- Bộ môn khoa học
Sự xuất hiện một bộ môn khoa học thường dẫn tới sự thừa nhận hoặc không thừa nhận. Để có
thể đi tới thừa nhận hoặc không thừa nhận, không chỉ dựa trên cơ sở tranh cãi cảm tính, mà phải dựa
trên cơ sở những tiêu chí. Dựa trên cơ sở của những tiên chí Về một bộ môn khoa học, người
nghiên cứu sẽ tự kiểm tra một trường phái hoặc một mộ môn khoa học mà mình đề xướng, hoặc
xem xét phân tích những trường phái hoặc bộ môn khoa học do các đồng nghiệp đề xướng. Trên đại
thể, tiêu chí để xem xét một bộ luôn khoa học có thể bao gồm như sau:
+ Có một đối tượng nghiên cứu.
Điều kiện tiên quyết để trở thành một bộ môn khoa học là phải có một đối tượng nghiên cứu.
đôi tượng nghiên cứu là bản thân sự vật hoặc hiện tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của bộ
môn khoa học. Đương nhiên, một sự vật hoặc hiện tượng có thể lệ đối tượng nghiên cứu của những
bộ môn khoa học khác nhau, nhất là thững vấn đề nằm ở vị trí giáp ranh giữa các bộ môn khoa học.
+ Có một hệ thống lý thuyết.
Chỉ khi hình thành được một hệ thống lý thuyết, một bộ môn khoa học mới khẳng định được
vị trí trong hệ thống khoa học. Hệ thống lý thuyết của một bộ môn khoa học bao gồm các phạm trù,
khái niệm, tiêu đề, qui luật, định luật, định lý,vv…
13

Trong hệ thống lý thuyết chia một bộ nôn khoa học bao giờ cũng có hai bộ phận một bộ phận
là cơ sở lý thuyết riêng đặc trưng cho bộ môn khoa học được xem xét; còn một bộ phận là những cơ
sở lý thuyết được thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác.
+ Có một hệ thống phương pháp luận:
Tuỳ thuộc đối tượng nghiên cứu, một bộ môn khoa học được đặc trưng bồi một hệ thống
phương pháp luận nghiên cứu. Phương pháp luận nghiên cứu của một bộ môn khoa học cũng bao
gồm hai bộ phận: Một bộ phận phương pháp luận riêng và một bộ phận phương pháp luật được
thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác. Đây là điểm đáng lưu ý trong nền khoa học hiện đại.
+ Có mục đích ứng dụng.
Mỗi bộ môn khoa học có những mục đích ứng dụng xác định. Trừ trường hợp những nghiên
cứu cơ bản chưa biết trước mục đích ứng dụng, thậm chí có thể nói có những trường hợp nhà

triển của thế giới với chất và phù hợp với nhận thức của loài người. Tri thức có sau xuất phát từ tri
14

thức có trước và bao hàm tri thức có trước như một yếu tố tất yếu. Nguyên tắc phân loại như vậy
được gọi là nguyên tắc phối thuộc.
Sự phân loại các khoa học theo nguyên tắc phối thuộc vừa là chú ý tới quy luật phát triển của
vật chất, vừa là chú ý tới tính kế thừa biện chứng của sự phát triển của khoa học, điều đó vừa có ý
nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Cách phân loại UNESCO:
Các chuyên gia của UNESCO phân khoa học thành 5 lĩnh vực:
1) Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác.
2) Khoa học kỹ thuật.
3) Khoa học nông nghiệp.
4) Khoa học về sức khoẻ.
5) Khoa học xã hội và nhân văn.
Mỗi cách phân loại có đặc điểm riêng và chúng được sử dụng tuỳ theo mục đích tổ chức
nghiên cứu, ứng dụng hay quản lý khoa học.
B- CÔNG NGHỆ
I. Khái niệm về công nghệ:
Do quy luật tự nhiên của sự phát triển khoa học và sự gắn bó mật thiết giữa khoa học và sản
xuất xã hội, Khoa học phát triển đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng về kỹ thuật và công nghệ
sản xuất. Khoa học đã làm cho sức sản xuất tăng gấp bội và đã đạt được những thành tựu rực rỡ
chưa từng có trong lịch sử loài người.
Trong những ngày đầu công nghiệp hoá, người ta sử dụng rất phổ biến thuật ngữ kỹ thuật
(Technique) với ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại công việc hay công cụ được sử dụng
trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất. Thí dụ: kỹ thuật bôi trơn chống ăn mòn kim loại trong
các chi tiết máy.
Khi xuất hiện thuật ngữ công nghệ sản xuất, lúc đầu nó được hiểu là quy trình kỹ thuật dùng
trong dây chuyền sản xuất, về sau khái niệm công nghệ sản xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn và
dần dần ổn định như ngày nay.

nhân tính toán, thiết kế đến khâu nhập vật liệu gia công, lắp ráp, kiểm tra thành phẩm và nhập kho.
Con người đứng bên cạnh dây chuyền làm nhiệm vụ chỉ huy, điều chỉnh và kiểm tra chung, từ đó
xuất hiện thuật ngữ công nghệ cao.
Công nghệ cao là một khái niệm nói về một nền sản xuất ở trình độ tinh xảo nhất với những
đặc điểm sau đây:
+ Hệ thống thiết bị được thiết kế tự động hoàn toàn, máy móc có kết cấu phức tạp nhưng vận
hành đơn giả?
+ Bí quyết của quy trình kỹ thuật sản xuất hết sức tinh vi.
+ Máy móc, thiết bị sản xuất tiêu thụ rất ít năng lượng, nguyên vật liệu sản xuất được sử dụng
rất tiết kiệm và nguyên liệu tái tạo được sử dụng nhiều nhất.
+ Năng xuất lao động rất cao, sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt.
+ Nhà máy được thiết kế khép kín, phế thải được tinh lọc, không gây ô nhiễm môi trường.
Nền sản xuất với công nghệ hiện đại có hàm lượng trí tuệ rất cao. Nếu trước đây hiệu quả
kinh tế dựa chủ yếu vào vốn đầu tư và sức lao động đơn giản, nặng nhọc chiếm tới 60 đất 70% cơ
cấu giá thành, thì ngày nay trong sản phẩm công nghệ cao chất xám chiếm 70% đến 75% cơ cấu ấy.
Có những mặt hàng như: điện tử, tin học, dược phẩm Nguyên liệu chiếm 1-3% giá thành, sức lao
động 12%, còn lại dành cho đầu tư kiến thức mua bí quyết công nghệ, thực hành thí nghiệm, sản
xuất thử.
II. Chuyển giao công nghệ
Cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt thế giới.
Thang giá trị xã hội được đo bằng trí tuệ. Trí tuệ đã trở thành sàn phẩm cao cấp có giá trị và
giá trị sử dụng. Sản phẩm trí tuệ có mối giao lưu trên thị trường hiện đại và bản thân nó cũng tạo ra
thị trường có sức cạnh tranh mạnh mẽ. Các nhà tương lai học khẳng định: Tương lai sẽ thuộc về dân
tộc nào có tiềm lực trí tuệ cao, chứ không thuộc về những nước giàu có tài nguyên, bởi vì trí tuệ con
người là cơ sở thật sự cho mọt sự phát triển khoa học và kinh tế - xã hội.
16

Việc ứng dụng các thành tựu khoa học đã làm rút ngắn thời gian đổi mới công nghệ. Khả
năng thay đổi công nghệ được dự tính trước. Máy móc có tính mềm dẻo, linh hoạt, phụ kiện dễ thây
thế, đảm bảo không bị lạc hậu so với công nghệ mới. Việc đổi mới cóng nghệ diễn ra nhanh chóng

có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với từng quốc gia và với cả thế giới. Với ý nghĩa văn hoá- khoa học,
chuyển giao công nghệ vừa kích thích quá trình lao động sáng tạo của các nhà khoa học, nó vừa
thúc đẩy quá trình sản xuất bằng việc ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học. Chuyển giao
công nghệ đảm bảo tính pháp lý của các chủ thể sáng tạo và quyền sử dụng hợp pháp các thành quả
khoa học ở các cơ sở sản xuất.
Với ý nghĩa kinh tế - thương mại, nó giúp mở rộng sự hợp tác giao lưu kinh tế khoa học, kỹ
thuật giữa các khu vực trong nước và quốc tế, từ đó làm rút ngắn khoảng cách sự khác biệt trình độ
phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật giữa các khu vực và tạo điều kiện để các quốc gia
cùng phát triển.
17

Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước một trong những con đường
quan trọng của chúng ta là phải nhập ngoại công nghệ tiên tiến, với chiến lược chung là: Bước đầu
thích nghi với công nghệ nước ngoài để áp dụng có kết quả vào sản xuất, dần dần,cải tiếm công
nghệ nhập ngoại để có sản phẩm tốt hơn, khi năng lực khoa học và công nghệ đủ mạnh thì vươn lên
sáng tạo công nghệ Việt Nam có sức cạnh tranh với công nghệ thế giới.
Chuyển giao công nghệ là hoạt động phức tạp có các mức độ, chiều sâu khác nhau đó là: Trao
kiến thức, trao phương tiện kỹ thuật, trao chìa khoá sau khi xây dựng nhà máy, trao chìa khoá sau
khi đã sản xuất ra sản phẩm, trao thị trường truyền thống tiêu thụ sản phẩm, mức sâu nhất là đầu tư
tư bản.
Chúng ta đang tranh thủ tối đa mọi khả năng của chuyển giao công nghệ để nhanh chóng phát
triển kinh tế tiếp kịp trình độ các nước trong khu vực.
C- KỸ THUẬT

- Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống hoặc thực tiễn
được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá trình sản xuất (kỹ thuật theo
nghĩa hẹp).
- Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chiến hệ thống hoặc thực tiễn
được sử dụng cho việc sản xuất các sản phẩm hoặc áp dụng vào mục đích quản lý, thương mai,
công nghiệp hoặc trong các lĩnh vực đời sống xã hội.


Quá trình nghiên cứu khoa học mang tính
xác xuất
Quá trình điều hành công ghệ mang tính xác
định

Hoạt động khoa học mang tính hướng
mới, không lặp lại
Hoạt động công nghệ được tập lại theo chu
kỳ

Sản phẩm khó được định hình trước Sản phẩm được định hình theo thiết kế

Sản phẩm mang đặc trưng thông tin Đặc trưng sản phẩm tuỳ theo đầu vào

Một khoa học có thể ra đời ngẫu nhiên Công nghệ ra đời tuỳ thuộc thành tựu khoa
học và sức ép của phát triển

Lao động với độ linh hoạt và độ
sáng tạo cao
Lao động bị định khuôn theo quy định mang
tính thiết chế của công nghệ

Có thể mang mục đích tự nhân Không mang mục đích tự thân

phát minh khoa học tồn tại mãi với thời
gian
Sáng chế công nghệ tồn tại tiêu vong theo
lịch sử tiến bộ kỹ thuật


điểm tiếp cận, những quy trình, các thao tác cụ thể để tác động vào đối tượng để làm bộc lộ bản chất
của đối tượng. Nghiên cứu khoa học còn phải sử dụng những công cụ đặc biệt, có tiêu chuẩn kỹ
thuật khắt khe trong định tính và định lượng để thí nghiệm, thực nghiệm… đo lường và kiểm định
sản phẩm sáng tạo.
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là hệ thống thông tin mới về thế giới và những giải pháp
cải tạo thế giới. Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng tới cái mới. Nhiều ý tưởng khoa học độc
đáo đi trước thời đại và có giá trị dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn.
Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, hòan thiện, bổ sung theo đà tiến bộ của xã hội lòai
người và ngày một tiệm cận tới chân lý khách quan. Mỗi lý thuyết khoa học được hình thành, phát
triển hưng thịnh, rồi lạc hậu nhường chỗ cho cái mới, cái tiến bộ, cái có triển vọng hơn.
Giá trị của nghiên cứu khoa học được quyết định bởi tính thông tin, tính ứng dụng và sự đáp
ứng nhu cầu của cuộc sống. Thông tin khoa học phải có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm
tra được bằng các phương pháp khác nhau.
Quá trình nghiên cứu khoa học: quá trình nghiên cứu khoa học diễn ra phức tạp, luôn chứa
đựng những mâu thuẫn, liên tục xuất hiện những xu hướng, các trường phái lý thuyết, các giả
thuyêt, các dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và kết cục cái nào phù hợp với hiện thực,
đem lại lợi ích cho con người là cái chiến thắng. Khoa học là cách mạng với nghĩa đó.
Nghiên cứu khoa học có chứa đựng những yếu tố mạo hiểm, bởi vì nghiên cứu khoa học
không phải lúc nào cũng thành công. Sự thành công sẽ tạo ra giá trị mới cho nhân loại và có cả
những thất bại rủi ro, đó là sự phải trả giá của nghiên cứu khoa học, nhưng chính sự thất bại đó
cũng là một thông tin có ích để đồng nghiệp không lặp lại sai lầm tương tự.
II. CHỨC NĂNG VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Chức năng của nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động phức tạp. Cùng với lịch sử phát triển của loài người, trình
độ nhận thức khoa học ngày một nâng cao. Tổng kết lịch sử phát triển khoa học người ta thấy loài
người đã trải qua mấy trình độ nhận thức sau đây:
Trình độ mô tả: Mô tả khoa học là trình bày lại những kết quả nghiên cứu một hiện tượng hay
một sự kiện khoa học làm sao cho đối tượng đó được thể hiện đến mức độ nguyên bản tối đa. Tri
thức mô tả là những tri thức thu nhận được qua quan sát, điều tra và được trình bày hệ thống ký
hiệu có tính trực quan, đồng thời là những khái niệm có liên quan đến hệ thống ký hiệu này. Mô tả

Trình độ phát hiện: Trình độ phát hiện là trình độ nghiên cứu hướng tới bản chất của các sự
kiện, hiện tượng khách quan một cách chủ động nhằm khám phá các quy luật vận động và phát triển
của chúng. Phát hiện đồng nghĩa với phát minh, với quá trình sáng tạo ra chân lý mới làm phong
phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.
Trình độ phát triển khoa học là trình độ nhận thức sáng tạo cao nhất của con người, được thực
hiện bằng những phương thức đặc biệt, với những công cụ, phương tiện tinh sảo và với những quy
trình kỹ thuật khắt khe làm cho đối tượng bộc lộ nguyên hình với những dấu hiệu bản chất, với các
quy luật vận động và phát triển khách quan.
Tri thức phát hiện tạo nên các khái niệm, phạm trù, các quy luật các lý thuyết, học thuyết mới,
những phương pháp nghiên cứu mới, những quy trình công nghệ mới, đó là những tri thức có giá trị
đối với lý luận và thực tiễn.
2. Loại hình nghiên cứu khoa học
Việc lựa chọn loại hình nghiên cứu khoa học được quyết định bởi mục tiêu nghiên cứu và
chủng loại sản phẩm thu được sau quá trình nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu
khoa học có thể rất khác nhau: hoặc là phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động
của sự vật hoặc hiện tượng; hoặc là sáng tạo nguyên lý những giải pháp phục vụ cho các hoạt động
xã hội khác nhau của con người.
21

Chủng loại sản phẩm sẽ thu nhận được sau nghiên cứu: có thể là các phát hiện, phát kiến, phát
minh, vv… cũng có thể là các giải pháp, bí quyết, sáng chế, v.v…
Tùy thuộc mục tiêu nghiên cứu và sản phẩm thu nhận sau nghiên cứu,người ta chia ra những
loại hình nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu dứng dụng hoặc triển khai.
a) Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức
mới, những giá trị mới cho nhân loại. Nghiên cứu cơ bản đi sâu khám phá bản chất và quy luật vận
động và phát triển của thế giới ở cả hai phía vi mô và vĩ mô. Tri thức sáng tạo từ nghiên cứu cơ bản
là tri thức nền tảng cho mọi quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo.
Kết quả của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật,
những định luật, định lý… Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên cứu này, người nghiên cưu đưa ra

Nghiên cứu nền tảng: nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu dựa trên các quan sát, đo đạc
để thu thập số liệu và dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá quy luật của tự nhiên. Thuộc
22

loại hình nghiên cứu nền tảng có thể liệt kê một số dạng như nghiên cứu dịch tễ học trong y; điều
tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiên như điều tra địa chất, nghiên cứu đại dương, khí
quyển, khí tượng; tổng hợp các hóa chất, nghiên cứu bản chất vật lý, hóa học, sinh học.
Nghiên cứu chuyên đề: Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống một hiện tượng đặc
biệt của tự nhiên, ví dụ trạng thái plasma của vật chất, của bức xạ vũ trụ, gien di truyền.
Những loại hình nghiên cứu cơ bản định hướng thuộc dạng này không chỉ đưa đến những cơ
sở lý thuyết quan trọng, mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa lớn lao trong kinh tế và
trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Chúng ta không nên hiểu đồng nhất giữa hai khái niệm nghiên cứu cơ bản và khoa học cơ bản
b) Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu ứng dụng là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm cách vận động những tri thức
cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới trong sản xuất, những nguyên lý mới trong quản lý
kinh tế xã hội.
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp về công nghệ có tính mới về
nguyên lý, vật liệu mới, sản phẩm mới, giải pháp hữu ích, sáng chế.
Điều quan trọng nhất để phân biệt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng là ở chỗ,
nghiên cứu cơ bản thì đưa ra những tri thức mới về bản chất, quy luật vận động và hiện tượng, còn
nghiên cứu ứng dụng đưa ra những nguyên lý mới về giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện
tượng.
Đây là một loại hình nghiên cứu phù hợp với quy luật phát triển của khoa học hiện đại, nó làm
rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi ứng dụng. Chính nghiên cứu ứng dụng đã làm cho khoa
học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản
xuất.
Nghiên cứu ứng dụng là một trong những con đường quan trọng nhất giúp cho các nước phát
triển nhanh chóng, bỏ qua giai đoạn nghiên cứu cơ bản tốn kém để tiến kịp các nước phát triển có
tiềm lực khoa học mới. Nhật Bản là thí dụ điển hình.

+ Những xu hướng, trường phái khoa học, những chương trình khoa học mới, những khả năng
phát triển tiềm lực khoa học quốc gia và quốc tế.
+ Những khả năng hình thành các tổ chức khoa học mới và những triển vọng của sự phát triển
tiềm lực khoa học quốc gia và quốc tế.
Nghiên cứu dự báo có ba cấp:
- Cấp 1: Dự báo cho 15-20 năm.
- Cấp 2: Dự báo cho 40-50 năm
- Cấp 3: Dự báo cho 1 thế kỷ
Mọi dự báo đều chứa đựng những thông tin giả định, tuy vậy nó có vai trò to lớn trong phát
triển cả thực tiễn và lý luận khoa học. Cuộc sống hiện thực, nhu cầu thực tế, tiềm năng của khoa
học sẽ bổ sung và sửa đổi dự báo. Số phận của dự báo chịu ảnh hưởng của sự phát triển xã hội và
những bí mật của thiên nhiên được phát hiện.
3. Ý nghĩa của việc xác định loại hình nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần bắt đầu từ việc thiết lập sự kiện, quan sát
và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu chính là cái mà người nghiên cứu phải
kiểm chứng trong toàn bộ tiến trình nghiên cứu.
Đặt giả thuyết nghiên cứu: Mỗi loại hình nghiên cứu tương ứng với nhiều loại giả thuyết
nghiên cứu. Bất cứ nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học nào, người nghiên cứu cũng cần phải đưa ra
những giả thuyết nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu sẽ được chứng minh hoặc bác bỏ sau khi được
kiểm chứng bởi chính người nghiên cứu.
- Với nghiên cứu cơ bản, người nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết về bản chất hay quy
luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng
- Với nghiên cứu ứng dụng, người nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết về hình mẫu.
Khi đã xác định được loại hình nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ định hướng được sản phẩm
nghiên cứu của mình, đưa ra được những kết luận giả định (giả thuyết nghiên cứu) để theo đuổi.
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học trước hết là một hoạt động xã hội, là một dạng nhân công lao động xã
hội. Nhưng nghiên cứu khoa học có những đặc điểm khác với các loại hình lao động khác, nhất là
24


tạo, kỹ thuật canh tác, khả năng chống chịu sâu bệnh, chế độ chăm bón, tưới tiêu, bảo vệ thực vật,
v.v
3. Tính khách quan
Tính khách quan vừa la đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn của người
nghiên cứu khoa học. Một nhận định vội vã theo cảm tính, một kết luận thiếu các xác nhận bằng
kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.
4. Tính tin cậy
Tính tin cậy là một thuộc tính của sản phẩm khoa học. Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ
một phương pháp nào đó chỉ có thể xem là tin cậy khi nó có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do
nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống
nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau.
Một kết quả ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ
tin cậy để kết luận về bản chất của sự vận động hoặc hiện tượng. Điều này dẫn đến một nguyên tắc
25

mang tính phương pháp luận của nghiên cứu khoa học, là khi trình bầy một kết quả nghiên cứu,
người nghiên cứu đã chỉ rõ các điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có). Ví dụ, khi
nói “nước sôi ở nhiệt độ 100
0
C”, thì người nghiên cứu đã phải chỉ ra điều kiện là nước nguyên chất,
đun nóng dưới áp xuất 1atm. Nếu lặp lại các điều kiện giống như thế, mọi người đều có thể đạt
được kết quả giống như những kết quả đạt được trước đó.
5. Tính rủi ro
Tính hướng mới của nghiên cứu khoa học quy định một thuộc tính quan trọng khác của
nghiên cứu khoa học, đó chính là tính rủi ro. Một nghiên cứu có thể thành công, có thể thất bại. Sự
thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiêu nguyên nhân với các mức độ khác nhau, chẳng
hạn, do thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy; do trình độ kỹ thuật của thiết bị thí nghiệm
không đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thuyết; do khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa
đủ tầm để xử lý vấn đề; do giả thuyết nghiên cứu đặt ra sai; do những tác nhân bất khả kháng,v.v…
Ngay cả những nghiên cứu đã thử nghiệm thành công vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng kỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status