Tiểu luận: Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế Việt Nam - Pdf 17

Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt

Tiểu Luận
Xuất khẩu hàng
hóa với tăng trưởng
kinh tế Việt Nam

1
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
Phần I: Lời Nói Đầu.
Như chúng ta đã biết một đặc trưng của một nền kinh tế đóng là
không có các hoạt động của ngoại thương. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hóa là một lĩnh vực quan trọng của ngoại thương mà qua đó ta biết được
nền kinh tế nước nhà sẽ trao đổi với nửa còn lại của thế giới những gì.
Quy mô và cơ cấu hàng xuất khẩu của một quốc gia thể hiện năng lực sản
xuất và các lợi thế của nền kinh tế đó.
Với xu hướng ngày càng hội nhập rộng sâu của các nền kinh tế vào nền
kinh tế thế giới cho nên việc chúng ta nghiên cứu về tính hình xuất nhập
khẩu hàng hóa của việt nam trong thời gian qua từ năm 2006-2009 là một
việc làm hết sức quan trọng mà qua đó chúng ta biết được nền kinh tế của
chúng ta đã và đang hội nhập sâu rộng với mức độ nào và xu hướng sẽ đi
đến đâu.
Để biết được những điều trên thì đòi hỏi người nghiên cứu phải có một
kiến thức tổng quát và sâu rộng về một nền kinh tế mở và phương pháp
thu thập, sử lý số liệu hợp lý mới có thể nhìn nhận và đưa ra nhận xét
cũng như những kiến nghị giải pháp hợp lý được.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi được sự trợ giúp rất nhiệt
tình của GS.TS: Ngô Thắng Lợi. Cùng với những chuyên gia kinh tế
tương lai của lớp kinh tế phát triển 49A yêu dấu này.
Do đề tài mang tính thời sự cho nên không thể tránh khỏi những thiếu sót
mong thầy giáo các bạn góp ý.

phẩm hay dịch vụ phục vụ cho đời sống xã hội.
Công nghệ góp phần nâng cao năng xuất lao động của xã hội và giúp xã
hội giảm sự tiêu hao nguồn lực.
Tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực
của tự nhiên bao gồm đất đai, không khí, nước, các loại năng lượng và
3
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
những khoáng sản trong đất… con người có thể khai thác và sử dụng
những lợi do tài nguyên thiên nhiên ban tặng để thỏa mãn những nhu cầu
của mình.
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nhân tố nguồn lực đầu vào
của quá trình sản xuất. Nếu xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài
nguyên, đất đai thì sẽ không có sản xuất và không có sự tồn tại của con
người. Tuy nhiên đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế thì tài nguyên
thiên nhiên chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ.
Nếu nghiên cứu theo phía cầu thì:
GDP=C+I+G+EX-IM
Trong đó:
C: là tiêu dùng của dân cư
I: tiêu dùng của doanh nghiệp
G: tiêu dùng của chính phủ
EX: xuất khẩu
IM: nhập khẩu
Nếu nghiên cứu theo phía tổng cầu thì ta thấy được EX tác động như thế
nào đến GDP của một nền kinh tế.
Sự tăng lên của EX tác động trực tiếp và gián tiếp vào GDP và tạo nên tăng
trưởng.
Tác động trực tiếp: tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa một năm được
cộng trực tiếp vào GDP của một năm.
Tác động gián tiếp: yếu tố EX tác động đến C,I,G. Làm nên sự ảnh hưởng

RICARDO do hai nhà kinh tế học HECKSHER và OHLIN.
Lý thuyết H-O này phát biểu rằng chính sự sắn có về nguồn lực quyết
định sự khác biệt về chi phí so sánh.
Lợi ích của việt nam khi có ngoại thương:
Khi có ngoại thương (xuất khẩu) thì điểm C phản ánh khả năng tiêu dùng
vượt ra khỏi giới hạn của đường sản xuất PPF.
5
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
1.2.3 Vai Trò Của Xuất Khẩu Hàng Hóa Tới Tăng Trưởng
Kinh Tế.
Xuất khẩu tác động đến tăng trưởng:
Xuất khẩu có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng vai trò là
cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, như một tác nhân quan trọng thúc đẩy
sản xuất phát triển, góp phần tăng trưởng kinh tế chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và là chìa khóa mở ra con đường đi đến thịnh vượng thúc đẩy kinh tế
phát triển. Ngược lại khi kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy xuất
khẩu phát triển ở trình độ cao hơn
Xuất khẩu ảnh hưởng tích cực tới nhập khẩu bởi nguồn vốn nhập khẩu
chủ yếu là do hoạt động xuất khẩu m từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Xuất khẩu có tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tếm thúc đẩy sản xuất
ổn điịnh và phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế
Xuất khẩu đóng vai trò là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kĩ thuật,c
ông nghệ từ thế giới bên ngoài tạo ra những tiền đề kinh tế, kĩ thuật nhằm
cải tao và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. góp phần hiện đại hóa
nền kinh tế, tạo ra năng lức sản xuất mới, là động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế
B
C
A
Thép

động xuất khẩu. bởi lẽ , các ngành này tao ra đầu vảo cho hoạt động xuất
khẩu hàng hóa CN, NN phát triển các sản phẩm làm ra ngày càng đa
7
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
dạng, chất lượng sản phẩm được nâng cao … ảnh hưởng tích cực tới
nguồn cung cho xuất khẩu, khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu được
nâng cao, thúc đẩy xuất khẩu phát triển
Nền kinh tê tăng trưởng và phát triển, theo đó cơ sở hạ tầng của nền kinh
tế được cải thiện, các dịch vụ hỗ trợ phục vụ hoạt động xuất khẩu hàng
hóa cũng được nâng cao, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, khuyến
khích xuất khẩu.
2. Các Chiến Lược Về Xuất Khẩu Hàng Hóa.
1.3 Chiến Lược Xuất Khẩu Sản Phẩm Thô
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô: dựa chủ yếu vào việc sử dụng
rộng rãi các nguồn tài nguyên sẵn có và các điều kiện thuận lợi của đất
nước. Sản phẩm xuất khẩu thô là những sản phẩm nông nghiệp và các
sản phẩm khai khoáng .
Điều kiện áp dụng : Chiến lược này sử dụng chủ yếu ở các nước đang
phát triển trong điều kiện trình độ sản xuất còn thấp, đặc biệt là trình độ
của ngành công nghiệp và khả năng tích lũy vốn của nền kinh tế còn hạn
chế.
Mục tiêu: tạo sức bật cho nền kinh tế khi nền kinh tế đang ở trình độ
thấp.
1.4 Chiến Lược Hướng Ngoại
Chiến lược hướng ngoại: Tận dụng lợi thế so sánh và sự sẵn có về
nguồn lực để sản xuất những mặt hàng xuất khẩu.
Điều kiện áp dụng: có sự sẵn có về nguồn lực trong nước, có quan hệ
thương mại quốc tế tốt để tìm kiếm thị trường.
Mục tiêu: giải phóng sức sản xuất đang dư thừa, tạo động lực tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

(triệu
USD)
Tỷ lệ
(%)
2006 39.8 22.7 44.89 22.1 5.09 12.8
2007 48.56 21.9 62.68 39.6 14.12 29.1
2008 62.7 29.1 80.7 28.6 18.00 28.7
2009 56.58 -9.7 68.89 -14.7 12.31 21.8
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nếu không tính năm 2009 (do tác động mạnh của khủng hoảng), tăng
trưởng xuất khẩu năm 2007 và 2008, nhất là năm 2007, tuy có tăng nhưng
không thể hiện mức độ bứt phá so với các năm trước và như kỳ vọng sau
9
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
khi nước ta gia nhập WTO. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân
hàng năm trong hai năm 2007-2008 là 25,5% và trong ba năm 2007-2009
là 12,8% trong khi tăng trưởng xuất khẩu bình quân hàng năm giai đoạn
trước khi gia nhập WTO 2004-2006 cũng đã đạt 25,5%.
4. Các Mặt Hàng Xuất Khẩu Chính
Xuất khẩu trong giai đoạn 2007-2008 tăng là do giá trên thị
trường thế giới tăng cao. Cụ thể, một vài mặt hàng như than đá, hạt tiêu,
gạo, giá tăng gấp 2 lần so với năm 2006, trong khi khối lượng xuất khẩu
của nhiều mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông sản và nhiên liệu tăng
thấp. Năm 2009,chỉ có ba mặt hàng trong số các mặt hàng nông sản xuất
khẩu chính của Việt Nam là hạt tiêu, gạo và hạt điều có khối lượng xuất
khẩu tăng hơn so với năm 2008.(Bảng 2).
Bảng 2: Thay đổi kim ngạch, giá và lượng xuất khẩu của một số mặt
hàng (%).
Bảng 3: Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng thời kỳ
2004-2009 (%)

12
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
Bên cạnh đó cũng phải kể đến năng lực cạnh tranh của Việt
Nam trên các thị trường đã tăng. Bảng 6 cho thấy năng lực cạnh tranh của
hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ tính theo năng lực cạnh
tranh thực. Sau khi gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của các hàng hóa
sử dụng công nghệ thấp ( theo phân loại của UNCTAD và OECD) tiếp
tục tăng, trong khi các ngành sử dụng nhiều nguyên liệu và sản phẩm
nguyên liệu thô lại giảm đáng kể. Điều này có cho thấy Việt Nam tiếp tục
phát huy được lợi thế cạnh tranh (giá nhân công rẻ ) của mình. Năng lực
cạnh tranh của các hàng hóa sử dụng công nghệ cao và trung bình của
Việt Nam cũng đã tăng lên sau khi gia nhập WTO, mặc dù nhìn về tổng
thể tính cạnh tranh của các mặt hàng này vẫn còn thấp.
Bảng 6: Năng lực cạnh tranh của các nhóm hàng hóa trên thị trường
Hoa Kỳ ( Phân loại hàng hóa theo HS-6).
Bảng 7: Số lượng các mặt hàng có năng lực cạnh tranh (RCA ≥ 1) tại
các thị trường chính
13
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
Ở bảng 7, xét về số lượng các mặt hàng có chỉ số RCA >= 1 ( tức là
năng lực cạnh tranh ) ở các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật
Bản sau khi gia nhập WTO, số lượng các mặt hàng có tính cạnh tranh đã
tăng lên tương đối cao, kể cả các mặt hàng sử dụng công nghệ cao. Ví dụ
trên thị trường Hoa kỳ, số mặt hàng sử dụng công nghệ cao có tính cạnh
tranh đã tăng từ 61 mặt hàng năm 2006 lên đến 86 mặt hàng năm 2009.
Con số này trên thị trường Nhật Bản và EU-15 tương ứng là 92 lên 117
và 80 lên 100 mặt hàng (năm 2008). Số lượng các mặt hàng có tính cạnh
tranh ở các nhóm hàng khác cũng tăng đáng kể.
6. Các Vụ Kiện Thương Mại
Càng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn thì khả năng bị khởi kiện liên

hơn. Cụ thể trước đây chỉ mặt hàng có kim ngạch lớn như thủy sản, da
giầy mới bị kiện, nhưng nay, ngay cả những mặt hàng có kim ngạch chỉ
15
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
vài chục triệu USD (như lò xo, giường ngủ…) cũng phải đối mặt với các
vụ kiện. Trong 3 tháng đầu 2009, Việt Nam phải đối mặt với 2 vụ kiện
chống bán phá giá. Vụ thứ nhất Canada áp dụng với sản phẩm giày không
thấm nước. Vụ thứ hai Mỹ kiện Việt Nam về mặt hàng túi nhựa đựng
hàng hóa bán lẻ. Trong vụ kiện về mặt hàng túi nhựa PE, Mỹ đồng thời
kiện cả chống bán phá giá và chống trợ cấp. Vụ việc này có nguy cơ trở
thành một tiền lệ xấu đối với các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào
thị trường rộng lớn này. Cũng trong hai tháng vừa qua, riêng Ấn Độ đã có
tới 3 quyết định áp thuế chống bán phá giá cuối cùng đối với hàng hóa
Việt Nam.
7. Nguyên Nhân Và Hạn Chế
Trong giai đoạn từ 2006 đến này và đặc biệt là 3 năm sau gia nhập
WTO, khối lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt
Nam như sản phẩm gỗ, giày dép, dây điện và cáp điện vẫn chưa thấy có
sự biến đổi mạnh so với thời kỳ trước đó, thậm chí có xu hướng chững
lại. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch của các sản phẩm này đều thấp hơn so
với giai đoạn trước khi gia nhập WTO. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
bình quân hàng năm trong hai năm 2007-2008 của các sản phẩm dây điện
và dây cáp điện giảm xuống còn 19,1%/năm, thấp hơn nhiều so với mức
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu 42,7%/năm trong các năm 2004-2006.
Qui mô xuất khẩu còn nhỏ, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu
người thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Xuất khẩu
bình quân đầu người năm 2007 của Singapore là 60.600 USD, Malaysia
5.890 USD, Thái Lan 1.860 USD, Philippin 546 USD, và Việt Nam 570
USD (năm 2008 là 730 USD, năm 2009 là 666 USD).
Bảng 8 cho thấy danh mục các mặt hàng xuất khẩu chính gần

dạng hóa, giảm chi phí vận chuyển, tiếp thị quảng cáo để có giá cạnh
tranh trong xuất khẩu. Các doanh nghiệp cần phải tìm mọi cách để giảm
bớt các chi phí, giảm giá thành sản phẩm để thu hút thêm đơn hàng, vừa
khai thác khách hàng truyền thống vừa tìm kiếm khách hàng mới, và vấn
đề này cần có sự giúp đỡ đắc lực từ phía Nhà nước.
Tiếp đó, cần có giải pháp nâng cao giá trị hàng xuất khẩu. Thực tế cho
thấy, hàng nông sản nước ta như hạt tiêu, điều, gạo, cà phê… xuất khẩu
với khối lượng lớn nhưng giá trị xuất khẩu không cao. Thứ trưởng Bộ
Công thương Nguyễn Thành Biên cho rằng, thực tế này đòi hỏi các Hiệp
hội ngành hàng và doanh nghiệp phải liên kết với nhau để có đơn hàng
lớn, tránh thiệt hại về giá khi xuất khẩu. Đồng thời, để khắc phục tình
trạng suy giảm về giá xuất khẩu tại một số thị trường thì chính sách điều
tiết phải rất linh hoạt. Các cơ quan quản lý và các tổ chức hiệp hội ngành
hàng phối hợp cụ thể hơn để giữ được giá xuất khẩu và ổn định thị
trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, cần có giải pháp tăng năng lực xuất khẩu
cho các doanh nghiệp, đầu tư cho công nghệ, nâng cao giá trị sản phẩm
18
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
xuất khẩu và xây dựng thương hiệu đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và có
biện pháp phòng vệ trước các rào cản thương mại của các thị trường nhập
khẩu khó tính như: thuế chống bán phá giá, các tiêu chuẩn về kỹ thuật, an
toàn vệ sinh thực phẩm. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, xây dựng nhóm thị
trường trọng điểm xuất khẩu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính xuất
nhập khẩu, tư vấn về cách vượt rào cản thương mại đối với một số mặt
hàng xuất khẩu chủ yếu… Xây dựng chính sách phát triển ngành công
nghiệp phụ trợ trong nước để hạn chế nhập khẩu nguyên phụ liệu, giảm
tỷ lệ nhập siêu, hạn chế xuất khẩu các sản phẩm thô, chưa qua tinh chế.
Các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp cần làm tốt công tác xúc tiến
xuất khẩu. Theo các chuyên gia, đây là nhân tố quan trọng nhất trong quá

tìm mọi cách thâm nhập thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ hàng của Trung
quốc ra nước ngoài. Tại sao Trung quốc không phê phán các nhà XK
Trung quốc bán hàng ra nước ngoài thấp hơn giá của Việt nam?
Xét về mặt phát triển kinh tế mà nói kinh tế phát triển được là phụ
thuộc vào thị trường tiêu thụ. Khi nhà sản xuất bán được hàng, kích thích
họ tiếp tục sản xuất, và từ đó kéo theo nhu cầu tiêu dùng đối với các sản
phẩm khác, kích thích các ngành khác sản xuất. Nếu hàng không bán
được, sản xuất sẽ bị đình lại, và cũng làm ảnh hưởng đến các ngành sản
xuất khác.
Vì vậy chính sách đẩy mạnh xuất khẩu trong giai đoạn này là hợp lý, dù
rằng chúng ta có bán thấp hơn giá sản phẩm tương tự của nước khác,
nhưng số lượng sẽ được tiêu thụ nhiều hơn, sẽ kích thích sản xuất của các
ngành
20
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
- Một số biện pháp đối với tín dụng xuất khẩu và đầu tư:
- Bổ sung thêm nguồn vốn cho Ngân hàng phát triển để cho các
doanh nghiệp được vay vốn tín dụng xuất khẩu. Cơ cấu nguồn vốn tín
dụng theo hướng ưu tiên cho tín dụng xuất khẩu;
- Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 151/2006/NĐ- CP ngày 20/12/2006
của Chính phủ theo hướng mở rộng danh mục mặt hàng được hưởng
chính sách tín dụng xuất khẩu là gạo, dệt may, giày dép, sản phẩm nhựa,
xe đạp, cao su, nhóm hàng cơ khí, sắt thép, các sản phẩm từ gang thép,
VLXD, túi xách, vali, ôdù…
- Rà soát quy trình, thủ tục và thời hạn cấp tín dụng nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn.
Được biết, hiện nay chính sách tín dụng xuất khẩu và đầu tư hiện
hành được quy định tại Nghị định số 151/2006/NĐ- CP ngày 20/12/2006
của Chính phủ và quy định tại Thông tư số 69/2007/TT-BTC ngày
25/5/2007 của Bộ Tài chính. Theo đó, Ngân hàng phát triển thực hiện hỗ

bị cấm của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp một cách
thiết thực.
- Nâng cao sức cạnh tranh của DN VN:
Theo một sốphân tích tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung có khả năng cạnh tranh yếu kém.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời gian tới,
ngoài việc hỗ trợ từ phía Nhà nước như: tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật theo hướng minh bạch, ổn định, không phân biệt đối xử giữa
các loại hình doanh nghiệp; tạo lập và hoàn thiện hệ thống các loại thị
trường, nhất là các thị trường đầu vào như thị trường bất động sản, thị
trường lao động, thị trường tài chính, thị trường công nghệ…; tăng cường
đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là
cải cách các thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp… thì các
doanh nghiệp nước ta cần phải chủ động, tích cực hơn trong việc nâng
cao khả năng cạnh tranh của chính bản thân doanh nghiệp, nghĩa là cần
22
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
coi việc nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp trước hết là vấn đề
của chính doanh
nghiệp. Trong những năm tới khi quá trình hội nhập càng ngày càng sâu
rộng hơn thì những phương hướng sau đây cần được các doanh nghiệp
quan tâm thực hiện:
• Cần chú trọng nâng cao chất lượng doanh nghiệp nhằm giảm thiểu số
doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ nhiều như hiện nay, trong đócần chú ý
tới việc xây dựng chiến lược phát triển/chiến lược kinh doanh, tăng quy
mô vốn, nâng cao trình độ lao động và trình độ công nghệ của các doanh
nghiệp.
• Các doanh nghiệp cần cải thiện đáng kể về các yếu tố mang tính tác
nghiệp, vận hành và chiến lược phát triển. Yêu cầu đầu tiên là việc nâng
cao trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp. Việc áp dụng các quy trình

đoạn thị trường. Có chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm, bao gồm
cả giá trị sử dụng và giá trị cảm quan, như tính năng, công dụng, kiểu
dáng, mẫu mã, nhãn mác sản phẩm. Đồng thời cần thiết lập hoặc tham
gia vào hệ thông kênh phân phối sản
phẩm phù hợp.
• Các doanh nghiệp cũng cần tăng đầu tư cho công tác nghiên cứu và
triển khai, công tác đổi mới công nghệ. Việc tăng cường đầu tư, đổi mới
trang thiết bị, công nghệ cần gắn liền với hoạt động đào tạo, 10 nâng cao
chất lượng lao động, đảm bảo người lao động sử dụng thành thạo công
nghệ, máy móc thiết bị mới. Ngoài ra, doanh nghiệp cần chú ý tạo ra bầu
không khí lao động sáng tạo trong
doanh nghiệp và có những phần thưởng xứng đáng cho sáng kiến của
người lao động. Doanh nghiệp cũng cần chú trọng tới việc lien kết với
các cơ sở nghiên cứu khoa học và các trường trong việc đào tạo nâng cao
chất lượng lao động và cải tiến, đổi mới công nghệ.
24
Xuất khẩu hàng hóa với tăng trưởng kinh tế việt nam nhóm 08_ktpt
Những phương hướng nêu trên nếu được thực hiện tốt thì các doanh
nghiệp Việt Nam mới có thể tự đưa mình lên thang bậc cao hơn trong
chuỗi giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế. Các yếu tố đã được cải
thiện này sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam thu được lợi nhuận nhiều
hơn, bền vững hơn từ các hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ trên
thị trường trong nước và thế giới.
1.6 Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Cơ Cấu Hàng Hóa Xuất
Khẩu.
Xét về cơ cấu, hàng xuất khẩu của nước ta còn nhiều hạn chế, thể hiện ở
cả ba phương diện.
Thứ nhất, chủng loại hàng hóa còn đơn điệu, chưa có những mặt hàng
xuất khẩu mới có giá trị xuất khẩu cao.
Thứ hai, quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status