Tiểu Luận
Thực trạng chính sách và
giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài trong lĩnh
vực nông nghiệp
Mục Lục
Mục Lục 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
A.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.Lý do lựa chọn đề tài 4
2.Phương pháp nghiên cứu 4
3. Phạm vi nghiên cứu 4
B. NỘI DUNG 6
I. Sơ lược về đầu tư trục tiếp nước ngoài 6
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG 6
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
2.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh 6
3. Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI 7
3.1 Các yếu tố điều tiết vĩ mô 8
3.1.1 Các chính sách 8
3.1.2 Luật đầu tư 8
3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng khác 8
II.Thực trạng ĐTNN trong lĩnh vực Nông nghiệp 10
1. Tỉ trọng ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thấp so với các ngành KTQD khác
10
2. Phân bổ ĐTNN không đồng đều giữa các vùng, miền 10
3. Xu thế đầu tư trong nông nghiệp ở Việt Nam 11
4- Cơ cấu ĐTNN trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư : 15
5. Các chính sách thu hút FDI vào lĩnh vục nông nghiệp ở Việt Nam thời gian qua 16
5.1 Chính sách đất đai 16
xây dựng cac nha may sản xuất chế biến tại cac khu công nghiệp, khu chế xuất.
Từ năm 1991 đến nay chúng ta đa tiến hành đầu tư phát triển các khu công
nghiệp, tạo điều kiện vật chất cơ sở hạ tầng tốt nhất cho cac nhà đầu tư nước
ngoài khi đầu tư vào nước ta. Đến nay tinh đó phần lớn lượng FDI đầu tư vào
lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, chứ không nhiều các nhà đầu tư quan tâm tới lĩnh
vực nông nghiệp cho dù Việt Nam là một quốc gia có nên nông nghiệp lâu đời và
đang là một trong những quốc gia xuất khẩu các mặt hàng nông sản hàng đầu thế
giới : Lúa , gạo, cà phê, hạt điều…Không những tỷ lệ các nhà đầu tư vào nông
nghiệp ít mà chúng lại đang có xu hướng giảm đi.
Việc thu hút FDI thông qua các khu công nghiệp, khu chế xuất đã mang
lại những kết quả đang kể cho việc phat triển kinh tế nước ta, song bên cạnh đó
còn có những vấn đề tồn tại đối với việc thu hút FDI vào nông nghiệp.
Được sự định hướng của cô và theo chương trình môn Chính sách phát
triển kinh tế xã hội trong bài này em xin đưa ra môt số thông tin về thực trạng
và các chính sách nhằm thu hút vốn FDI vào nông nghiệp của nước ta, từ đó đưa
ra hướng đi, giải pháp cho vấn đề.
Bài viết chỉ được thưc hiện trong một thời gian ngắn nên không thể tránh
khỏi sai sót,kính mong cô và các bạn góp ý để vấn để em đưa ra càng hoàn thiện
hơn.
Sinh viên: Hoàng Văn Tiến
A.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.Lý do lựa chọn đề tài
Trong thời gian qua, dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào lĩnh vực nông
lâm nghiệp còn hết sức hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như thế
mạnh của Việt Nam và ngày càng có xu hướng giảm sút. Mặt khác, so với hoạt
động ĐTNN trong các lĩnh vựckhác, hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực
này còn rất hạn chế. Do vậy, báo cáo nghiêncứu này được thực hiện với mục đích
đánh giá thực trạng ĐTNN trong lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời đưa ra kiến
nghị về phương hướng, giả
2.Phương pháp nghiên cứu
đó đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng vào thực tế ở
Việt Nam. Ví dụ như có sự nhầm lẫn giữa hợp đồng hợp tác kinh doanh với các dạng
hợp đồng khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam.(như hợp đồng gia công sản phẩm, hợp đồng mau thiết bị trả chậm
vv ). Lợi dụng sơ hở này, mà một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn sự quản lý của
Nhà Nước. Tuy vậy hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm .Các sản phẩm kỹ
thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác
nhau. Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần xu
hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.
2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiền bên
nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vón, cùng kinh doanh, cùng
hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh
được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp
nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư
nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba hình
thức đầu tư (trong đó hình thức hợp tác kinh doanh chiếm 17%, Doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18%).
Thông qua hợp tác liên doanh với các đối tác Việt Nam, các nhà đầu tư
nước ngoài tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam
trên thị trường mà họ chưa quen biết trong quá trình làm ăn của họ tại Việt Nam. Mặt
khác do môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất chắc nên các nhà đầu tư nước
ngoài không muốn gánh chịu rủi ro mà muốn các đối tác Việt Nam cùng chia sẻ với
họ nếu có. Liên doanh với một đối tác ở bản địa, các nhà đầu nước goài yên tâm hơn
trong kinh doanh vì họ đã có một người bạn đồng hành.
Những năm gần đây, xu hướng của các nhà đầu tư nước ngoài giảm sự quan
tâm đến hình thức này và các dự án 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại có xu
hướng tăng lên. Đó là do sau thời gian tiếp xúc với thị trường Việt Nam, các nhà đầu
tư nước ngoài đã hiểu rõ hơn về luật pháp, chính sách và các quy định khác của Việt
trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu. Mức thuế quan cũng ảnh hưởng tới giá hành xuất
khẩu. Hạn mức (quota) xuất nhập khẩu thấp và các hàng rào
thương mại khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể không kích thích hấp
dẫn tới các nhà đầu tư nước ngoài. Chính yếu tố này làm phức tạp
thêm cho thủ tục xuất khẩu và bị xếp vào hàng rào xuất khẩu khác.
Chính sách thuế và ưu đãi. Chính sách ưu đãi thường được áp dụng để thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Chính sách kinh tế vĩ mô. Chính sách này, mà ổn định thì sẽ góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư bản xứ lẫn nước ngoài.
Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể các nhà
đầu tư thích bỏ vốn vào nước này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thì
khó có thể tiên định được của kết quả hoạt độnh kinh doanh.
3.1.2 Luật đầu tư
Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt động của các công ty nước ngoài
trên thị trường bản địa. (Luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà bản xứ). Nhiều
nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các điều kiện giống như cho các nhà
đầu tư bản xứ. ở Việt Nam, luật khuyến kích đầu tư nước ngoài triển khai còn chậm
và khônng đáp ứng được sự mong mỏi bởi mức độ ưu đãi và khuyến khích còn hạn
chế,chưa nhất quán.
3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng khác
Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trường bản địa (quy mô, dung lượng của thị
trường sức mua của dân cư bản xứ và khả năng mở rộng quy mô đầu tư).
Đặc điểm của thị trường nhân lực. Công nhân lao động là mối quan tâm hàng
đầu ở đây, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốn vào các lĩnh
vực cần nhiều lao động, có khối lượng sản xuất lớn. Trình độ nghề nghiệp và học vấn
của các công nhân đầu đàn (có tiềm năng và triển vọng) có ý nghĩa nhất định.
Khả năng hồi hương vốn đầu tư. Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới
(hồi hương) là tiền đề quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.ở một số
nước mang ngoại tệ nước ngoài phải xin giấy phép của ngân hàng trung ương
khá rườm rà.
nông, lâm, ngư nghiệp, chiếm 13,6% về số dự án và 7% về vốn đầu tư đăng ký
(Thống kê của Bộ KH&ĐT).
Trong giai đoạn 1998 - 2003, ngành nông nghiệp đã tiếp nhận 781 dự án FDI với
tổng vốn đăng ký trên 3,8 tỉ USD. Trong đó, 528 dự án đã đi vào thực hiện với tổng
vốn thực hiện trên 1,75 tỉ USD. (Thống kê của Bộ NN&PTNT).
Bình quân mỗi năm ngành NN&PTNT thu hút gần 50 dự án tương ứng khoảng
200 triệu USD. Nhìn chung, các dự án FDI trong nông nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,
chủ yếu gắn với nguồn nguyên liệu địa phương.
Năm 2003, các doanh nghiệp FDI trong ngành đang sử dụng khoảng 75.000 lao
động công nghiệp và hàng vạn lao động nông nghiệp, nộp ngân sách trên 17 triệu
USD, tạo ra kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 500 triệu USD.
Tỉ lệ vốn đưa vào thực hiện bình quân khoảng 50% tổng số vốn đăng ký.
Và giai đoạn tư năm 2003 cho tới nay
2. Phân bổ ĐTNN không đồng đều giữa các vùng, miền
Cơ cấu vốn ĐTNN còn có một số bất hợp lý. Trong lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định, nhưng ĐTNN còn quá thấp
và tỷ trọng vốn ĐTNN đăng ký liên tục giảm. ĐTNN tập trung chủ yếu vào những địa
phương có điều kiện thuận lợi như miền Đông Nam Bộ (54%), trong khi có tác động
rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc (4%), đồng bằng sông Hồng (5%), Bắc
Trung Bộ (5%), Tây Nguyên (4%) và đồng bằng song Cửu Long (13%).
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, một số ưu đãi của Chính phủ đã được quy định
trong nghị định của Chính phủ như miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu 5 năm cho sản
xuất đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và các dự án đầu tư vào các địa
bàn có điều kiện inh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, nhưng thiếu hướng dẫn nên chưa
được áp dụng
Hình 1: Phân phối FDI theo các vung kinh tế
3. Xu thế đầu tư trong nông nghiệp ở Việt Nam
Khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi lưu lượng và cấu trúc dòng vốn FDI
toàn cầu. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới 2009 (WIR 2009) của Liên hiệp quốc, dòng
FDI sẽ giảm từ 1.700 tỷ USD trong năm 2008 xuống còn 1.200 tỷ USD trong năm
và ngày càng có xu hướng giảm, nhất là trong 3 năm gần đây. Trong 10 năm (1998 –
2008), FDI trong nông nghiệp chỉ chiếm 10,7% tổng số dự án FDI của cả nước với
966 dự án. Vốn đầu tư cho lĩnh vực này cũng rất thấp và dàn trải, chiếm khoảng
4,24% tổng vốn đầu tư FDI. “Đây là một trong những điểm yếu của chúng ta trong
việc thu hút vốn FDI, mặc dù Nhà nước luôn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào
nông nghiệp nhưng do hạn chế trong các giải pháp xúc tiến thương mại, chưa quan
tâm đầy đủ trong việc giao đất, giải phóng mặt bằng cũng như quản lý hợp đồng đầu
tư với nông dân nên các nhà đầu tư nước ngoài rất thờ ơ
Và Thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài cho thấy, trong tổng số vốn đăng ký đầu
tư của nước ngoài vào Việt Nam 8 tháng đầu năm 2010 khoảng hơn 11,5 tỷ USD thì
đầu tư vào nhóm nông, lâm, thủy sản chỉ có chiếm 1,2 %, với 10 dự án.
Trong năm 2009, mặc dù chưa có số liệu về vốn FDI giải ngân, nhưng nhìn vào tỷ
trọng 0,4% của vốn FDI đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp cũng có thể
thấy vai trò của FDI trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam đang tiếp tục suy giảm.
Điều đáng lo ngại không chỉ ở chỗ dòng FDI vào nông - lâm - ngư nghiệp ở Việt
Nam đi ngược lại xu thế chung của thế giới, và do vậy khó tận dụng được cơ hội thị
trường và lợi thế của Việt Nam, mà còn là sự không tương thích giữa tầm quan trọng
của khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta.
Trong khi nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới hơn 50% lực lượng lao động, đóng
góp khoảng 20% cho GDP và chiếm tới 7/10 măt hàng xuất khẩu chủ yếu của đất
nước và khoảng 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước thì tỷ trọng đầu tư cho
khu vực này lại giảm gần một nửa, từ 13,8% vào năm 2000 xuống chỉ còn 7,1% vào
năm 2008, chủ yếu do sự suy giảm của đầu tư nhà nước.Để thấy rõ được tỷ lệ FDI
trong lĩnh vực nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế em xin so sánh cơ cấu vốn FDI
đầu tư vào nền kinh tế Viêt Nam trong năm 2007 và 2009 dựa theo biểu đồ sau:
Biểu đồ 1 : Phân phối theo ngành và khu vực của FDI (2007)
Từ biểu đờ trên ta có thể thấy được dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông
nghiệp là rất ít so với các lĩnh vực khác.Trong khi FDI vào nghành công nghiệp chiếm
tỷ lệ cao nhất với 45% tổng đầu tư FDI vào Việt Nam với 17.855 triệu USD năm
2007 với 1445 dự án, hay BĐS là 26%,xây dựng 6% thì ngành nông nghiêp chỉ thu
sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15%. Miền Bắc và khu vực miền
Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng
vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước.
Nông,lâmnghiệp Số dự án Vốn đăng ký (USD) Vốn thực hiện (USD)
Nông-Lâm nghiệp 803 4,014,833,499 1,856,710,521
Thủy sản 130 450,187,779 169,822,132
Tổng số 933 4,465,021,278 2,026,532,653
Bảng 3: Cơ cấu vốn ĐTNN năm 2007 trong nông – lâm - ngư
5. Các chính sách thu hút FDI vào lĩnh vục nông nghiệp ở Việt
Nam thời gian qua
Mục tiêu của chính sách thu hút FDI của Việt Nam là thu hút vốn, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khai thác
có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm cho người lao động và mở rộng xuất
khẩu. Hoạt động thu hút FDI liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, rõ ràng, thông thoáng, bình đẳng và có khả năng
cạnh tranh với các nước khác trong khu vực và nông nghiêp giường như cũng không
là phải ngoại lê.
Thời gian qua, chính sách thu hút FDI đã được điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện
dần từng bước một cách có hệ thống, và nông nghiệp cũng đang là 1 trong các lĩnh
vực mà nhà nước quan tâm, chú trọng tới.Sau đây là một số chính sách đối với việc
thu hút ĐTNN vào kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng.
5.1 Chính sách đất đai
Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu
tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt
Nam
Đặc điểm đặc thù ở Vịêt Nam đó là: đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn
dân. Các nhà đầu tư nước ngoài không có quyền sở hữu về đất đai.
Các loại văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn với hoạt động đầu tư trực tiếp
nứơc ngoài là Luật đất đai, Luật đầu tư nước ngoài tại Vịêt Nam.
mất nhiều thời gian và cũng khó thuyết phục bên nước ngoài.
+ Một số dự án nhầm lẫn giữa việc góp vốn bằng giá trị nhà xưởng với việc góp
vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Một số dự án chỉ tính tiền thuê đất của diện tích
xây dựng nhưng không tính các diện tích khác như đường nội bộ, diện tích trồng cây
xanh…Đlà cách hiểu sai chế độ qui định.
Để tiếp tục tăng mức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài, chính sách sử
dụng đất cho các dự án đầu tư nước ngoài đã được cải thiện. Luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam hiện đã sửa đổi chính sách đất đai theo hướng khuyến khích và rõ ràng
hơn: Gía tiền thuê đất, mặt khác, mặt biến đổi với từng dự án được giữ ổn định tối
thiểu là 5 năm, khi điều chỉnh tăng thì mức tăng không vượt quá 15% của mức qui
định lần trước. Trong trường hợp doanh nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên
hợp doanh đã trả tiền thuê đất cho cả đời dự án, nếu giá tiền thuê có tăng trong thời
hạn đó thì tiền thuê đã trả không bị điều chỉnh lại.
Do Việt Nam còn thiếu qui hoạch chi tiết để phục vụ cho việc thu hút vốn đầu tư
nước ngoài cho việc tạo ra các địa điểm ổn định thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý
nghĩa quan trọng.
Tuy nhiên chính sách đất đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài, nhất là
tại khu vực nông nghiệp vẫn còn những vướng mắc nhất định:
+ Gía thuê đất của Việt Nam cao hơn so với nhiều nước trong khu vực. Nếu tính cả
chi phí đền bù, giải toả thì giá đất bị đẩy lên quá cao. Đây là yếu tố làm giảm sức cạnh
tranh để thu hút vốn đầu tư. Thời điểm tính giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn vào
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa hợp lý.
+ Việc giao đất, nhất là các dự án có đền bù và giải toả kéo dài trong nhiều trường
hợp việc giải toả này kéo dài trong một số năm thậm chí có dự án kéo dài tới 5 năm.
Thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ
hội và thời gian của các nhà đầu tư. Hiệu lực pháp luật của các qui định về đất đai
còn thấp. Luật đất đai mặc dù đã sửa đổi song thiếu những văn bản hướng dẫn chi tiết.
+ Thiếu qui hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI. Một số địa phương tự ý sử lý vấn
đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
5.2. Chính sách lao động.
cảng khẩu khác.
Luật sửa đổi, bổ xung gần đây đã khuyến khích đầu tư với mục tiêu ưu tiên hàng
đầu là hàng xuất khẩu. Vì vậy, việc tiêu thụ sản phẩm ở các dự án có vốn đầu tư nước
ngoài đã có định hướng xuất khẩu. Năm 2009, xtuất khẩu của khu vực nông thôn
chiếm 7/10 mặt hàng xuát khẩu chủ yếu của Việt Nam.Thành tựu này có được cũng
có một phần đóng góp không nhỏ của ĐTNN trong lĩnh vực mở rộng thị trường cho
sản xuất nông nghiêp.
Tuy nhiên, việc thúc đẩy xuất khẩu chỉ mới dừng lại ở tình trạng sản phẩm thô
lượng được qua chế biến không nhiều, do đó bên Việt Nam do đó mà giá cả, tình
hình lơị nhuận thu được từ xuất khẩu theo ý kiến chủ quan của em thì chưa đạt hiệu
quả cao. Đây là yếu tố gây thua thiệt cho bên Việt Nam –một vấn đề đang đặt ra gay
gắt hiện nay.
Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá do sản xuất nông nghiệp tạo ra vẫn
còn kém nhiều loại sản xuất ra nhưng lại không biết bán cho ai, trong khi sản phẩm
của nông nghiệp lại có tính chất bảo quản không được lâu.Đó chính là vấn đề mà hiện
nay Nhà nước và các nhà ĐTNN muốn đầu tư vào nông nghiệp quan tâm và đang tìm
hướng giải quyết
.4.Chính sách công nghệ.
Mục tiêu của chính sách công nghệ là thu hút công nghệ, máy móc, thiết bị
hiện đại của nước ngoài để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hóa đất
nước, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, thực hiện nội địa hoá
công nghệ để tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế nói chung. Điều này được khẳng
định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là thu hút công nghệ hiện đại để đầu
tư theo chiều sâu vào các cơ sở kinh tế hiện có hoặc thu hút công nghệ cao để sản xuất
hàng xuất khẩu.
Qua xem xét trên thực tế thì nhiều dự án phát huy tác dụng tốt trong chuyển giao
công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực chăn nuôi, lâm nghiệp
Tuy nhiên, công nghệ tiên tiến nhập vào chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu
cần thiết cả về số lượng, lẫn qui mô,chưa cân đối với các ngành kinh tế, nhất là ở một
số ngành then chốt có tác dụng tạo môi trường cho nông nghiệp đi lên như:Công
Trong đó đầu tư vào nông nghiệp chỉ là 758 dự án với 3,78 tỷ, chiếm 10% về tổng
số dự án và 5,6% về tổng giá trị vốn. Vốn FDI thực hiện trong nông nghiệp, nông
thôn chỉ là 1,9 tỷ.
Đầu tư vào nông nghiệp chủ yếu cho chế biến nông sản, thực phẩm 53,7% tổng số
vốn, trồng rừng và chế biến lâm sản 24,7%, chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc
12,7%, trồng trọt 8,9%. Tỷ trọng đầu tư cho ngành thấp và có xu hướng giảm, hiệu
quả hoạt động của các dự án chưa cao, chưa phát huy đầy đủ tiềm năng của đất nước.
Phân bổ không đồng đều giữa các vùng miền. Các quốc gia lớn chưa thực sự đầu tư
vào nông nghiệp, thiếu tính đa dạng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, điều này có 3 nhóm nguyên nhân
chính.
Thứ nhất, chưa có chiến lược thu hút và quy hoạch sử dụng FDI cho phát triển
nông nghiệp và nông thôn. Chưa có cơ chế chọn lựa đề xuất các dự án FDI ưu tiên
trong ngành, mong muốn của ngành chưa thể hiện thành chính sách ưu đãi. Chưa có
cơ quan của ngành theo dõi và giúp đỡ giải quyết vướng mắc trong quá trình xúc tiến
và thực hiện các dự án FDI. Chưa có cơ chế phối hợp ngành - địa phương.
Thứ hai, cơ sở hạ tầng và tay nghề ở khu vực nông thôn chưa đủ để hấp dẫn các
nhà đầu tư nước ngoài. Rủi ro khi đầu tư vào nông nghiệp và khu vực nông thôn cao.
Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn chưa đủ năng lực để chủ
động kêu gọi FDI theo ý đồ phát triển sản phẩm và thị trường của riêng mình.
Thứ ba, những nguyên nhân bắt nguồn từ thủ tục hành chính, chính sách chung
của Nhà nước. Chưa thực sự ưu đãi cho đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào khu
vực nông nghiệp và nông thôn. Chính sách đất đai, thuế và các chế độ ưu đãi đầu tư
trong nông nghiệp và các vùng nông thôn chưa rõ và chưa thống nhất.
Công tác vận động, xúc tiến ĐTNN vào lĩnh vực này còn kém hiệu quả
- Ngoài ra có thể do hoạt động sản xuất NLN nói chung và thu hút ĐTNN trong
lĩnh vực này gặp nhiều rủi ro hơn các lĩnh vực khác do chịu ảnh hưởng bởi thời tiết,
khí hậu, thiếu đảm bảo về điều kiện hạ tầng, đất đai và nguồn nhân lực. Và nền nông
nghiệp Việt Nam còn mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp, đầu tư phân
tán, thiếu tính chuyên môn
thuận lợi về lao động, đất đai, đảm bảo vệ sinh môi trường khi phát triển chăn nuôi
với quy mô lớn, đồng thời tiếp tục thu hút đầu tư sản xuất thức ăn gia súc có chất
lượng cao.
+ Về trồng rừng - chế biến gỗ, ĐTNN tập trung vào các dự án sản xuất giống cây
có chất lượng, năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu trồng rừng nguyên liệu phục vụ
chế biến gỗ, lâm sản
2.Các khuyến nghị chính sách cho vấn đề
Qua nghiên cứu, một số nhóm chính sách sau được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả
thu hút ĐTNN trong ngành :
2.1 Nhóm giải pháp chung cho nền kinh tế:
Hoàn thiện cơ chế, chính sách về khuyến khích ĐTNN, gồm:
2.1.1. Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn.
Vấn đề mang tính quan trọng then chốt trong việc tổ chức nhằm thu hút
FDI là tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn. Môi trường đầu tư là tổng thể các bộ
phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt
động đầu tư. Buộc các nhà đầu tư phải tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và
phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh và đưa
đến hiệu quả cao trong kinh doanh.
Người ta có thể phân loại môi trường đầu tư theo nhiều tiêu thức khác nhau
và mỗi tiêu thức phân loại đó lại hình thành các môi trường thành phần khác
nhau:
- Căn cứ phạm vi không gian: có môi trường đầu tư nội bộ doanh nghiệp,
môi trường đầu tư trong nước và môi trường đầu tư quốc tế.
- Căn cứ vào lĩnh vực: có môi trường chính trị, môi trường luật pháp, môi
trường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội, cơ sở hạ tầng…
- Căn cứ vào tính hấp dẫn: có môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao,
môi trường đầu tư có tính trung bình, môi trường đầu tư có tính cạnh tranh thấp
và môi trường đầu tư không có tính cạnh tranh.
2.1.2. Đảm bảo các quyền cơ bản của nhà đầu tư.
Về quyền cơ bản và các đảm bảo cho các nàh đầu tư gồm:
qui định nào đó.
+ Ban hành các thể cư trú cho lao động nước ngoài hay thẻ lao động nước
ngoài cũng như những quy định về đối tượng bắt buộc phải có các thẻ đó mới
được làm việc ở nước sở tại.
+ Quy định những nghành nghề cần thiết phải sử dụng lao động nước ngoài. +
Quy định việc thết kế các chương trình đào tạo để thay thế lao động nước ngoài
bằng các lao động trong nước.
-Quyền sở hữu trí tuệ: Sự đảm bảo quyền sở hữu về sáng chế, nhãn hiệu
thương mại cũng là một điều kiện kích thích các nhà đầu tư.
-Sự ưu tiên với các nhà đầu tư chính phủ
Các khoản vay hay nguồn trợ giúp từ phía chính phủ được coi là một trong
những động lực khuyến khích đầu tư .
-Đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh bình đẳng .
Các nhà đầu tư mong muốn việc đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh bình
đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước với nước ngoài, giữa các nhà đầu tư nước
ngoài với nhau, giữa khu vực tư nhân và công cộng.Bao gồm:
+Cạnh tranh nhập khẩu: Chính sách nhập khẩu của nước sở tại cần phù hợp
và tạo điều kiện cho chính sách công nghiệp của nước đó phát triển. Các hàng
hoá sản xuất trong nước thuộc những ngành đườc coi là non trẻ nên có một thời
gian được bảo hộ để cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu.
+Cạnh tranh Chính Phủ: Các chương trình của Chính phủ về hỗ trợ các doanh
nghiệp Nhà nước không được vi phạm tính cạnh tranh. Điều này đòi hỏi Nhà
nước phải phân biệt rõ ràng những ưu đãi dành cho từng khu vực. Khu vực công
cộng không được phép xâm phạm khu vực tư nhân.
+Cạnh tranh nội địa thông qua việc đánh thuế từ các hàng rào chắn thâm nhập
vào ngành công nghiệp.Điều này liên quan đến việc tạo ra sự cạnh tranh bình
đẳng giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước.
2.1.4. Miễn giảm thuế.
- Miễn thuế vốn: Chính phủ không thu thuế trên các khoản chuyển
nhượng hay phần kiếm được từ cổ phiếu.