BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006
33
1. Nhận định
1.1. Giáo dục đại học ở Việt Nam.
Lối học ở Việt Nam chúng ta từ xưa đến nay là quá chú trọng vào từ chương. Phương
pháp dạy học ở nhà trường là thuyết minh hàng loạt kiến thức qua các bài giảng, giáo
trình, sách giáo khoa. Hệ quả của cách dạy như vậy là đưa đến phương pháp học tập bằng
cách lắng nghe, ghi chép, cố nhớ để lập lại các kiến thức đ
ã thu nhận được. Và để đáp ứng
lối học này, về phương diện tâm lý, người học phải vận dụng trí nhớ rất nhiều. Người
quản lý giáo dục để kiểm soát, đánh giá được năng lực tiếp nhận kiến thức của người học,
đã tổ chức các kỳ thi cuối khóa, tốt nghiệp, với những đề thi gợi lại trí nhớ. Kết quả,
phương pháp dạy, học, thi cử này đã đưa đến một nền giáo dục hoàn toàn từ chương.
1.2. Giáo dục đại học ở các nước phát triển.
1.2.1. Phương pháp dạy và học: Trên thế giới ngày nay, tại nhiều nước phát
triển, người ta đã thay đổi lại lối học và cách dạy. Phương pháp dạy học là nêu vấn đề
để đem ra nghiên cứu thảo luận. Cách dạ
y này đưa đến phương pháp học tập là buộc
người học phải tự đi sưu tầm tài liệu trong các thư viện, trong các trung tâm thông tin,
tự thực hành trong các xưởng trường, tự mày mò thí nghiệm trong các phòng thí
nghiệm. Và để thảo luận, báo cáo được các điều đã tìm thấy, về phương diện tâm lý,
người đọc phải vận dụng được óc phân tích, so sánh, phê bình đánh giá các thông tin
để đi đến tổng hợp cho mình một nhận
định.
1.2.2. Phương pháp đánh giá: Người dạy để kiểm soát, đánh giá được khả năng
tìm tòi, suy nghĩ, nhận định của người học, tổ chức các buổi thảo luận; nhận xét người
học thông qua cách trình bày suy luận của họ, công trình tìm tòi nghiên cứu của họ
qua các bài báo cáo nộp hàng tuần, khóa luận cuối khóa học. Từ đó đánh giá được khả
lòng, Lập lại
Trí nhớ (Ký ức) Kỳ thi (Gợi lại
trí nhớ)
Từ chương
Thư viện, Phòng
thí nghiệm,
Xưởng trường
Ðặt vấn đề,
Nêu tình
huống, Phân
công tìm
hiểu,Thảo luận
Tìm tòi, quan
sát, So sánh,
nghiên cứu tình
huống,Thảo
luận, báo cáo
Óc tò mò, nhận
xét Phân tích, suy
luận, Ðối chiếu,
phê bình, Tổng
hợp, sáng tạo
Công trình
đóng góp
trong suốt
khóa học
(Assignment)
Sưu tầm,
ương pháp học tập, một phương pháp khảo sát vấn đề.
Và đấy cũng là hình ảnh sống động của lớp học theo tín chỉ mà sự đóng góp của thư
viện đại học cho lớp học này là tối cần thiết. Một tín chỉ tiêu biểu cho 15 giờ học lên lớp
nhưng sinh viên phải có thêm từ 30 đến 45 giờ nghiên cứu, sưu tầm học hỏi trong thư
viện, trong phòng thí nghiệm, tạ
i xưởng trường hay đi thực hành ngoài xã hội. Những
điều sinh viên học hỏi, sưu tầm, nghiên cứu tại thư viện, trong phòng thí nghiệm và
xưởng trường sẽ đào sâu kiến thức, suy luận và phương pháp làm việc của họ về một môn
học. Do đó những điều họ lãnh hội được về một môn học sẽ có tính sâu sắc chứ không hời
hợt như những kiế
n thức tiếp nhận được qua lối học từ chương.
3.2. Phương pháp đánh giá: Giảng viên sẽ đánh giá năng lực tiếp thu môn học qua
việc tổng cộng số điểm của các báo cáo hàng tuần, bài trắc nghiệm cuối khóa, khóa luận
có hệ số rồi chia trung bình để có điểm đạt của bộ môn. Ðiểm đánh giá này mới thực sự
đánh giá công trình nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, tư duy sáng t
ạo của người học, chứ
không phải đánh giá trên trí nhớ của sinh viên đối với bài giảng của thầy qua các kỳ thi.
4. Trở ngại hạn chế
Chúng ta không thể áp dụng cùng một lúc việc thay đổi phương pháp giảng dạy và học
tập này cho tất cả các khoa, tất cả các cấp học, tất cả các bộ môn trong chương trình nhà
trường, vì những lý do sau đây:
- Không phải giảng viên nào cũng có thể
áp dụng được phương pháp giảng dạy mới
này.
- Ở những lớp dưới, sinh viên quá đông, không thể áp dụng được phương pháp thảo
luận; giảng viên không có đủ thời giờ, sức lực để chấm các bài báo cáo, khóa luận.
- Thư viện không có đủ tài liệu phong phú để cung cấp cho sinh viên nghiên cứu về
tất cả các cấp học, ngành học.
5. Biện pháp giải quyết
5.1. Tạm thờ
• Một lớp sẽ được giảng dạy theo phương pháp truyền thống: thuyết minh, lý
luận và đánh giá bằng bài thi viết tự luận cuối khóa học.
c. Ðánh giá: Khả năng tiếp thu của hai nhóm sinh viên sẽ
được đánh giá, so
sánh qua một bài trắc nghiệm chung cuối khóa. Các câu hỏi trắc nghiệm phải
vừa kiểm tra được kiến thức (sự kiện), vừa kiểm tra được khả năng lý luận,
phân tích, tổng hợp, sáng tạo của sinh viên. Trong bài trắc nghiệm, cũng có thể
có một phần để sinh viên viết tự luận để kiểm tra khả năng trình bày của sinh
viên.
d. Kết quả của công trình nghiên cứu
: Kết quả của cuộc thí nghiệm giữa hai
nhóm mẫu này sẽ được phân tích cặn kẽ, so sánh khách quan, đánh giá trung
thực và trình bày chi tiết trong một báo cáo khoa học và công bố trong toàn
ngành.
e. Sai số kết quả của công trình nghiên cứu: Dĩ nhiên, kết quả của cuộc thử
nghiệm này có thể ngược lại ý muốn chúng ta vì những biến số sau đây:
- Sinh viên đã quen với lối học từ chương, không tiếp nhậ
n được phương
pháp giảng dạy mới.
- Kiến thức cơ bản của hai nhóm mẫu không đồng đều nhau.
- Hai nhóm mẫu đã không được chọn lọc một cách chính xác.
- Bài kiểm tra trắc nghiệm đã không phản ánh hết mọi khía cạnh về khả năng
học tập, tiếp thu cần nghiên cứu.
BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006
36
- Vị giáo sư giảng viên dạy nhóm mẫu theo phương pháp truyền thống quá
giỏi.
Dù kết quả thế nào đi chăng nữa, công trình nghiên cứu khoa học này cũng
gióng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh lớn trong ngành giáo dục đại học ở nước ta.
ngh
ệ thông tin để sẳn sàng ứng dụng công nghệ mới trong việc quản lý và phục
vụ tài nguyên điện tử.
Thư viện đại học cần những cán bộ có lý tưởng đóng góp vào việc đổi mới
giáo dục đại học, đổi mới hệ thống thư viện đại học trong nước cho phù hợp
với đà tiến bộ của các thư viện trên thế giới hi
ện nay.
b. Phải bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên sao cho quen với phương pháp giảng
dạy đại học mới trong nhà trường, dạy học theo cách nêu vấn đề, hướng dẫn
cho sinh viên tự tìm tòi học hỏi và tự động sáng tạo.
6. Kết luận
Trên đây chỉ là một vài ý kiến thô thiển của người viết bài đóng góp vào việc đổi mới
phương pháp giảng dạy và họ
c tập ở bậc đại học, qua đó nêu bật vai trò quan trọng của
Thư viện đại học. Mong rằng những ý kiến này sẽ có một phần nhỏ nào hữu ích cho các
vị lãnh đạo giáo dục trong hiện tại và tương lai.