Trường ĐH Mỏ-Địa Chất. Tiểu luận: Tìm hiểu và phân loại đá.
Định nghĩa chung về đá: Đá là tổ hợp có quy luật của các loại khoáng vật.
Các loại đá được phân loại theo thành phần khoáng vật, nguồn gốc thành tạo. Theo nguồn
gốc thành tạo có thể phân ra: macma, đá trầm tích và đá biến chất. I/Đá mácma:
Đá mácma hay magma là những loại đá được thành tạo do sự đông nguội và kết tinh
của những dung thể magma (dung thể silicat) nóng chảy được đưa lên từ những phần sâu
của Vỏ Trái đất. Dựa vào vị trí thành tạo của khối magma khi đông nguội mà người ta
phân ra: Magma xâm nhập và magma phun trào.
SV:Dương Công Đức.
MSSV:0921020213. Lớp:ĐCCT-ĐKT B-K54.
1
Trường ĐH Mỏ-Địa Chất. Tiểu luận: Tìm hiểu và phân loại đá.
1.Phân loại.
Đá mácma được phân ra hai loại: xâm nhập và phun trào.
* Đá xâm nhập thành tạo ở độ sâu > 1,5km so với bề mặt địa hình của trái đất, chịu áp
lực lớn hơn của các lớp bên trên và nguội dần đi mà thành. Nó có cấu trúc tinh thể lớn,
đặc chắc, cường độ cao, ít hút nước. Đá xâm nhập chủ yếu sử dụng trong xây dựng là
granit, điorit, gabro
* Đá phun trào được thành tạo ở độ sâu dưới 1,5km cho tới bề mặt Trái đất. Do nguội
nhanh trong điều kiện nhiệt độ và áp suất thấp, các khoáng vật không kịp kết tinh, hoặc
chỉ là kết tinh một phần nên có kích thước tinh thể bé, chưa hoàn chỉnh, hoặc tồn tại ở
dạng vô định hình. Mặt khác, các chất khí và hơi nước không kịp thoát ra, để lại nhiều lỗ
rỗng, làm cho đá nhẹ, có loại nổi trên mặt nước.
Căn cứ vào hàm lượng oxyt silic, Đá mácma còn được chia ra các loại:
* Magma axit (Si2O > 65%)
* Magma trung tính (Si2O: 65 - 52%)
* Magma mafic (SiO2: 52 - 45%)
trên cấu tạo, và thành phần hóa học và khoáng vật hay còn gọi là tướng biến chất. Chúng
có thể được tạo ra dưới sâu trong lòng đất bởi nhiệt độ và áp suất cao hoặc được tạo ra từ
các quá trình kiến tạo mảng như va chạm giữa các lục địa, và cũng được tạo ra khi khối
mác ma có nhiệt độ cao xâm nhập lên lớp vỏ của Trái đất làm các đá có trước bị biến đổi.
1.Cấu tạo đá biến chất.
Sự hình thành các lớp nằm trong các đá biến chất được gọi là sự phân phiến. Các lớp
này được hình thành do lực nép ép theo một trục trong quá trình tái kết tinh, và đồng thời
tạo ra các khoáng vật kết tinh dạng tấm như mica, clorit có mặt phẳng vuông góc với lực
tác dụng. Cấu tạo của đá biến chất được chia thành hai loại là cấu tạo phân phiến và cấu
tạo không phân phiến.
• Đá có cấu tạo phân phiến là sản phẩm của sự biến dạng đá có trước theo một mặt
phẳng, đôi khi tạo ra các mặt cát khai của khoáng vật: ví dụ slat là đá biến chất có
cấu tạo phân phiến từ đá phiến sét.
• Đá có cấu tạo không phân phiến không có hoa văn (dải) theo từng lớp và được
hình thành do ứng suất tác dụng từ nhiều phía hoặc không có các khoáng vật phát
triển đặc biệt như phyllit có hạt thô, diệp thạch có hạt thô hơn, gơnai hạt rất thô,
và đá hoa.
2.Một vài loại đá biến chất:
• Đá gơnai(gneiss) hay đá phiến ma: đá gơnai là do đá granit (đá hoa cương)tái kết
tinh và biến chất dưới tác dụng của áp lực cao thuộc loại biến chất khu vực, tinh
thể hạt thô, cấu tạo dạng lớp hay phân phiến - trong đó những khoáng vật như
thạch anh màu nhạt, fenspat và các khoáng vật màu sẫm, mica xếp lớp xen kẽ
nhau trông rất đẹp. Do cấu tạo dạng lớp nên cường độ theo các phương khác cũng
SV:Dương Công Đức.
MSSV:0921020213. Lớp:ĐCCT-ĐKT B-K54.
3
Trường ĐH Mỏ-Địa Chất. Tiểu luận: Tìm hiểu và phân loại đá.
khác nhau, dễ bị phong hoá và tách lớp. Đá gơnai dùng chủ yếu để làm tấm ốp
lòng bờ kênh, lát vỉa hè.
• Đá hoa: là loại đá biến chất tiếp xúc hoặc biến chất khu vực, do tái kết tinh từ đá
đọng lại thành từng lớp. Dưới áp lực và trải qua các thời kỳ địa chất, chúng được gắn kết
lại bằng các chất keo thiên nhiên tạo thành đá trầm tích.
1.Quá trình thành đá.
Đá trầm tích được thành tạo chủ yếu bởi các quá trình sau:
• do phong hóa các đá gốc và sau đó lắng đọng thành đá trầm tích cơ học;
• do nước, băng gió tích tụ và gắn kết các hạt trầm tích;
• do sự lắng đọng được hình thành bởi cá hoạt động có nguồn gốc sinh vật
• do mưa tuyết từ các dụng dịch hình thành nên.
Bốn giai đoạn trong quá trình hình thành nên đá trầm tích cơ học bao gồm: phong hóa
hay bào mòn do tác động của sóng nước hay gió, vận chuyển các vật liệu trầm tích theo
dòng nước hay gió, lắng đọng, hay trầm tích và nén ép hay thành đá khi các vật liệu trầm
tích được tích tụ lại và bị ép chặt vào nhau tạo nên đá trầm tích.
2.Đặc điểm.
Do được hình thành trong các điều kiện như trên nên đá trầm tích có các đặc điểm chung
là:
• Có tính phân lớp rõ rệt, chiều dày, màu sắc, thành phần, độ lớn của hạt, độ cứng
của các lớp cũng khác nhau.
• Cường độ nén theo phương vuông góc với các lớp luôn luôn cao hơn cường độ
nén theo phương song song với thớ.
• Đá trầm tích không đặc, chắc bằng đá mácma (do các chất keo kết thiên nhiên
không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại). Vì thế
cường độ của đá trầm tích thấp hơn, độ hút nước cao hơn. Một số loại đá trầm tích
khi bị hút nước, cường độ giảm đi rõ rệt, có khi bị tan rã trong nước. Đá trầm tích
rất phổ biến, dễ gia công nên được sử dụng khá rộng rãi.
3.Phân loại.
Căn cứ vào điều kiện tạo thành, đá trầm tích được chia làm 3 loại:
a.Đá trầm tích cơ học.
Đá trầm tích cơ học được hình thành từ sản phẩm phong hoá của nhiều loại đá, thành
phần khoáng vật rất phức tạp. Có loại hạt rời phân tán như cát sỏi, đất set; có loại các hạt
rời bị gắn với nhau bằng chất gắn kết thiên nhiên như sa thạch, cuội kết. Đá trầm tích cơ