VẤN ĐỀ LUYỆN THI ĐH THỨ 14: NGUYỄN MINH CHÂU VÀ
TRUYỆN NGẮN “ CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA”
I- TÁC GIẢ
Nguyễn Minh Châu (20 tháng 10 năm 1930 - 23 tháng 1 năm 1989) là một nhà văn có
ảnh hưởng quan trọng đối với văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam và
thời kỳ đầu của đổi mới.
Tiểu sử
Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm
1950, ông học chuyên khoa và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân
Trần Quoc Tuan. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn
722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyen Minh Chau là trợ lý văn
hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa . Năm
1962, Nguyen Minh Chau về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp
chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972.
Các tác phẩm chính
• Cửa sông (tiểu thuyết, 1966)
• Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970)
• Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972)
• Miền cháy (tiểu thuyết, 1977)
• Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977)
• Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982)
• Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983)
• Bến quê (truyện ngắn, 1985)
• Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987)
• Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (1987)
• Cỏ lau (truyện vừa, 1989).
• Nguyễn Minh Châu toàn tập (NXB Văn Học, 2001)
Giải thưởng
1. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vào năm 2000
2. Tác phẩm Cỏ lau đạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam vào năm 1990
3. Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1984 - 1989 cho toàn bộ sáng tác của
Tóm tắt
Phóng viên Phùng được trưởng phòng giao nhiệm vụ đi chụp một tấm ảnh về cảnh biển
có sương để bổ sung vào bộ ảnh lịch. Anh đến một vùng biển miền Trung vào giữa tháng
bảy. Ngoài Đẩu, người đồng đội cũ giờ làm chánh án tòa án huyện, anh đã quen thân với
Phác, một cậu bé thường đi cùng ông ngoại chở gỗ từ trên rừng về bán cho xưởng đóng
tàu. Sau khoảng tuần lễ chưa chụp được bức ảnh ưng ý, tình cờ anh thấy cảnh một chiếc
thuyền ngoài xa, trong làn sương sớm tạo nên một khung cảnh “từ đường nét đến ánh
sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Phùng nhanh chóng
bấm liên thanh một hồi, thu vào chiếc máy ảnh của anh “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại
cảnh”.
Tuy nhiên, khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng chứng kiến một cảnh tượng nghiệt ngã : hai
vợ chồng người dân chài bước vào bờ, rồi người chồng đánh vợ tới tấp bằng chiếc thắt
lưng, rồi Phác, chính là đứa con của cặp vợ chồng kia, xông vào ngăn cản, đánh lại bố.
Cảnh tượng này những ngày sau đó lại tiếp diễn, chỉ khác là lần này khi lão đàn ông vừa
rời khỏi thuyền thì có thêm đứa con gái cũng bơi vào bờ, rượt theo em nó và giành được
con dao găm thằng bé giấu trong cạp quần. Phóng viên Phùng đánh nhau với lão đàn ông
và bị thương nhẹ. Tòa án triệu tập người đàn bà đến.
Tại đây, chánh án Đẩu vì căm giận người đàn ông vũ phu nhiều lần đánh vợ, đã khuyên
người đàn bà bỏ chồng. Nhưng không ngờ người đàn bà đã van xin Đẩu bắt tội, bỏ tù bà
cũng được, đừng bắt bà bỏ chồng. Sau đó, chị kể lại cuộc đời, gia cảnh của mình, lí do
chị không muốn bỏ chồng vì gia đình họ cần một người đàn ông để chèo chống lúc phong
ba và nuôi cả một đàn con. Người đàn bà chấp nhận sống nhẫn nhục trong sự ngược đãi
của chồng là vì những đứa con. Qua đó, chánh án Đẩu vỡ lẽ ra nhiều điều trong cách nhìn
nhận cuộc sống còn phóng viên Phùng lại hiểu thêm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và
cuộc đời.
Tấm ảnh của Phùng trong năm ấy và nhiều năm về sau vẫn còn được treo ở nhiều nơi,
nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Nhưng cứ mỗi lần Phùng nhìn bức ảnh, những
ám ảnh, trăn trở về hình ảnh người đàn bà vùng biển lại đến với anh.
Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong
tác phẩm
nhối. Gióng lên một tiếng chuông báo hiệu điều ác, Nguyễn Minh Châu đã đấu tranh cho
cái thiện. Tư tưởng nhân đạo của truyện chính là ở điểm ấy.
[4]
Ngoài ra, giá trị nhân đạo còn được thể hiện qua việc xây dựng nhân vật người đàn bà.
[5]
Hình ảnh người đàn bà vùng biển xấu xí, nhẫn nhục vẫn toát lên vẻ đẹp của tình mẫu tử,
một vẻ đẹp đầy nữ tính, vị tha của người phụ nữ ở một miền biển còn nghèo đói, lạc hậu.
Như vậy ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện nhưng khát khao hạnh
phúc bình dị của người lao động. Dẫu nghiệt ngã những phận đời, dẫu còn nhiều nghịch
lý, nhưng ẩn chìm trong những trang văn của Nguyễn Minh Châu vẫn là chất nhân văn
lấp lánh.
[5]
Một số nhận xét
“
…Vậy nên, có thể nói hình tượng “chiếc thuyền ngoài xa” đích thực là một ẩn
dụ nghệ thuật hoàn toàn có dụng ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Giải mã
hình tượng ẩn dụ đó, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp mà nhà văn muốn
truyền đi, rằng cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật
nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta
cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu
muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì
phải tiếp cận với đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.
[6]
”
“
…Trong truyện ngắn tuyệt vời của Nguyễn Minh Châu, một người chụp ảnh
lịch năng nổ và mệt mỏi vì công việc, nhận thêm một việc rõ ràng là bất khả :
chộp cho được bí ẩn của màn sương mù dâng lên trên mặt nước trong một
tấm ảnh có phần hoàn chỉnh… Cuối cùng anh đã thành công với một bức ảnh
người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ đơn giản hóa, không nhận
ra cái thực tế khắc nghiệt, hoặc nói như Ăng-ghen là một thứ chủ nghĩa lãng
mạn, vị trí lí tưởng mà quên mất hiện thực. Đó là bài học của người nghệ sĩ
nhiếp ảnh
[9]
”
Trích đoạn tác phẩm
Những cảm nghĩ của Phùng trước cảnh chiếc thuyền ngoài xa :
“
Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh "đắt"
trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa
thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như
sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng
người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum
khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt
lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt
cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa
và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên
bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? Chẳng biết ai đó lần đầu đã
phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi
tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá
thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.
[10]
”
Đoạn văn kết thúc truyện ngắn thể hiện quá trình tự ý thức của Phùng :
“
Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn
còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy
là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng
của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu
phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách
nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất
nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan
đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản.
Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu có vinh
dự là người “ thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và
tài năng nhất” ( Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học sau
1975. Trong nhà trường, hai tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã
được đưa bộ sách cải cách trước đây ( Bức tranh ở cấp trung học cơ
sở và Mảnh trăng cuối rừng ở cấp trung học phổ thông) và lần thay
sách này, giáo viên và học sinh lại được tiếp cận hai tác phẩm khác-
Bến quê ở cấp trung học cơ sở và Chiếc thuyền ngoài xa ở trung học
phổ thông.
Hầu như các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu
trong chương trình trung học phổ thông đều mang những nhan đề
vừa cụ thể lại vừa có ý nghĩa biểu tượng. Nếu như Mảnh trăng cuối
rừng vừa là một hình ảnh thực được miêu tả trong truyện và trở đi trở
lại nhiều lần, thành hình ảnh nổi bật và bao trùm toàn bộ khung cảnh
của câu chuyện, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho nữ nhân vật
chính- Nguyệt thì “ Chiếc thuyền ngoài xa” cũng có phần giống như
thế
1- Chiếc thuyền ngoài xa là chiếc thuyền thực hay chiếc
thuyền trong bức ảnh nghệ thuật?
Truyện gồm 5 phần. Phần đầu nói về chiếc thuyền thực tại một
vùng đầm phá ven biển miền Trung và phần cuối hoàn toàn nói về
chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật, một trong 12 cảnh tĩnh vật
thể hiện chủ đề thuyền và biển cho một cuốn lịch năm mới.
Phần vào chuyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh.
gì bóp thắt vào? (…) . Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình
vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái
khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.”. Và tuyệt tác đã ra đời trong
sự hưng phấn nghệ thuật - “ cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập
tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”.
Rất cần chú ý thành phần phụ chú “ do cái đẹp tuyệt đỉnh của
ngoại cảnh vừa mang lại” trong lời kể chuyện. Niềm hạnh phúc của
người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của
cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc
thuyền giữa biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mĩ,
thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh
khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời
Như thế , xét riêng về công vụ, nhiệm vụ của “tôi” lúc này đã
hoàn thành. “Tôi” đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như
đặt hàng của trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và ‘ tôi” đã
có thể ung dung “ nhảy lên tàu hoả trở về”. Nếu khéo liên hệ một tí,
ta dễ thấy nếu như “ tôi” về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt ( trong
Mảnh trăng cuối rừng) xuống xe ở cầu Đá Xanh.
Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của
bức ảnh nghệ thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế
nào. Và nếu nghĩ sâu xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho
bộ môn lí luận nghệ thuật khái quát về công phu lao động của nghệ
sĩ.
Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với
bức ảnh và bức ảnh không chỉ có tuổi thọ ngang với một cuốn lịch
năm mà “mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều
nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Mở và kết truyện
như vậy cho thấy, chiếc thuyền trong “ chiếc thuyền ngoài xa” là
chiếc thuyền vừa có thực trong đời , vừa là chiếc thuyền trong
bức ảnh nghệ thuật và nó cũng chính là một chi tiết nghệ thuật đắt,
thuật kia, thì anh ta đã phải chứng kiến một cảnh đời cay cực, ngang
trái mà không một người bình thường nào có thể ngoảnh mặt làm
ngơ , nói chi đến nghệ sĩ vốn được coi là những con người đa cảm,
đa mang!
Là nghệ sĩ và đã từng là một người lính , chứng kiến cảnh
thằng con – Phác- vì thương mẹ mà đánh lại cha, khi thì bằng chính
chiếc thắt lưng của lính nguỵ mà người cha của nó dùng để đánh mẹ
nó , khi thì định dùng cả “ám khí” là một con dao găm lận ‘ trong cạp
quần đùi”, “ tôi” đã không khoanh tay ngồi nhìn vì “ bất luận trong
hoàn cảnh nào, tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn
bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo
chio hắn đánh” . Và hậu quả là ‘ tôi” đã bị thương vì người chồng kia
chống trả quyết liệt để tự vệ. Vậy cái cảnh thơ mộng đẹp đẽ mà “ tôi”
thu được vào ống kính Pratica và cái cái cảnh đời ngang trái mà
trong tư cách cựu chiến binh “ tôi” đã chứng kiến và tham dự cái nào
cận nhân tình hơn? Do đó ảnh chụp chiếc thuyền thơ mộng kia
chẳng phải là kết quả của lối tiếp cận hiện thực từ xa ư? Chiếc
thuyền ngoài xa được chụp trong cự li gần là với ý nghĩa như vậy đó!
Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên “ tôi” nán lại thêm
mấy hôm và chính lần này “ tôi” mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi
làm việc giữa Đẩu – người đồng đội cũ của “ tôi” , giờ là Chánh án
toàn án huyện- và người phụ nữ khốn khổ kia , ‘ tôi mới vỡ ra nhiều
lẽ . Thì ra nếu chiếc thuyền chụp được là “ từ xa” thì cái cảnh “ tôi”
chứng kiến cũng chỉ là bề nổi của cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì
sao người phụ nữ phải cam chịu một bề, không chống trả những trận
“đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu theo nghĩa nào đó là
không chịu “ giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra đã đưa hai người
cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được mệnh danh
là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác:
-“ Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn
ảnh “thuyền và biển” kia đã nói được gì đâu. Và đó là cách để nhà
văn Nguyễn Minh Châu bộc lộ thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực
ở bề sâu ẩn kín chứa đầy những nghịch lí , mâu thuẫn của đời sống
hậu chiến tranh và đó cũng là đặc điểm nổi bật mới mẻ của phong
cách Nguyễn Minh Châu, người tiên phong tinh tường và tài ba trên
hành trình đổi mới văn học nước nhà. Có thể hiểu “ Con thuyền
ngoài xa” là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời
sống. Chính khát vọng muốn tìm đến cái đẹp, cái hài hoà, muốn làm
cho con người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ giản
đơn hoá không nhận ra cái thực tế khắc nghiệt thì suy cho cùng cũng
chỉ là một kiểu “ lướt nhẹ trên bề mặt cuộc sống” chứ đâu đã là thứ
nghệ thuật “ là tiếng đau khổ…thoát ra từ những kiếp lầm than”
( Nam Cao- Trăng sáng).
Từ đó, có thể phát hiện ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc
thuyền ngoài xa: Khi con thuyền là đối tượng của nghệ thuật thì có
thể được chiếm lĩnh từ xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp
huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời cần phải được chiếm lĩnh ở cự li
gần. Đừng vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ
thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một
nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu
ghét , vui buồn trước cuộc đời, biết hành động để có một cuộc sống
xứng đáng với con người . Với ý nghĩa ấy, phần nào gợi ra những
liên tưởng tương đồng với truyện “ Trăng sáng” của nhà văn Nam
Cao./.
ĐỀ 2: Chiếc thuyền ngoài xa - vùng tối tâm hồn hay bi
kịch "bất khả tri" của nghệ thuật
1.“ Chiếc thuyền ngoài xa” ra đời ba năm trước thời điểm 1986 - mốc mà bất cứ một nhà
văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là năm khai sinh và tái sinh con
đường nghệ thuật của mình, ít nhất là về tư thế cầm bút, họ được tự do.
Nguyễn Minh Châu ý thức rất rõ nhu cầu của mình và nhu cầu của văn học. Ông từ giã
đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến
đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Những cảm
xúc nghệ thuật mà Phùng đón nhận trước vẻ đẹp thiên nhiên quả làm cho ta cảm động.
Nó là niềm hạnh phúc, nỗi sung sướng của kẻ luôn sẵn ý thức và trách nhiệm với con đẻ
tinh thần mà mình hằng tâm nuôi dưỡng. Phùng rơi vào trạng thái “lên đồng”, một trạng
thái cần có trước lúc sinh thành những cảm xúc sáng tạo: “trong giây phút bối rối ấy, tôi
tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá cái khoảnh
khắc trong ngần của tâm hồn”. Vào khoảnh khắc đó, Phùng hoàn toàn thành tâm với nghệ
thuật, nó vừa là cái toàn thiện, cái đạo đức, cái trong ngần, vừa là hạnh phúc…Anh được
nó nâng đỡ, ban tặng đồng thời sáng tạo nó, cảm nhận nó. Và trong chốc lát anh “bấm
liên thanh một hồi hết một phần tư cuốn phim”. “ Cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa
mang lại” trong ống kính có lẽ là cái đẹp đạo đức của thiên nhiên. Thiên nhiên, ngay cả
khi dữ dội nhất, tàn nhẫn nhất, người ta vẫn thu được khoảnh khắc rất đẹp: núi lửa, tia
chớp, sóng thần, bão cát … Thiên nhiên là bản thể tự nó. Cái gọi là “vẻ đẹp” kia chẳng
qua là một chuỗi những thỏa thuận nằm ngoài nó, do con người tạo nên.
Nhưng câu chuyện đột nhiên chuyển sang một hướng khác, sau khoảnh khắc trời cho ấy,
Phùng rơi vào một khoảnh khắc, một tình huống “hiện thực cuộc sống” ban cho. Chính từ
lúc này, Phùng vấp phải một thách đố khác, có lẽ còn nghiệt ngã hơn cả sự sáng tạo nghệ
thuật – thách đố lí giải, nhận thức hiện thực.
Trước cảnh tượng liền kề với khoảnh khắc nghệ thuật, Phùng kinh ngạc đến mức “trong
mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt
chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”. Phùng lao tới nơi người đàn ông “tấm lưng rộng
và cong như lưng một chiếc thuyền, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy
vẻ độc dữ” đang dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà “cao lớn với
những đường nét thô kệch”, “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken
két”… Nhưng Phùng đã bị cản lại bởi “bóng một đứa con nít”, đó là Phác, con trai của
cặp vợ chồng kia. Phác giật chiếc thắt lưng từ tay người đàn ông, lão “dang thẳng cánh
tay cho thằng bé hai cái tát”. Rồi lão lẳng bặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền.
Kết thúc cái cảnh tượng ấy, “bãi cát lại trở về với vẻ mênh mông và hoang sơ”, chỉ còn
Phùng, cậu bé Phác và tiếng sóng ngoài khơi, tất cả chìm vào cõi im lặng…
Người chồng vốn dĩ hiền lành, nghĩa hiệp. Sự khốn cùng, mong manh của đời sống chài
lưới đã biến ông ta thành vũ phu. Có phải là một Chí Phèo, một quĩ dữ bước ra từ cái làng
chài hẻo lánh kia không? Tại sao, dưới xã hội mới này, nơi mà “giấc mơ đại tự sự” đã lan
tỏa trong mọi không gian nhỏ hẹp của đời sống, vẫn có những mảnh đời đau đớn, tha hóa
kia?
Hành động vũ phu hay là sự bế tắc, hay là sự giải thoát của những con người tội nghiệp?.
“Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống
rượu…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh…”. Rõ
ràng, đây là một giải thoát trong bế tắc, một giải thoát đẫm nước mất và đau đớn.
Cả Đẩu và Phùng đều thốt lên: “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được”. Họ
không thể hiểu tại sao hai con người nhỏ bé kia lại chấp nhận sống và yêu thương bằng
kiểu lạ lùng như vậy. Dù lời kể của người đàn bà phần nào giúp họ nhận ra những ẩn ức
thẳm sâu nhưng họ vẫn dừng lại trên bờ vực của sự nhận thức hiện thực. Họ chưa thể nào
dò thấu đáy sâu của nỗi ẩn ức kia cũng như hiện thực đang diễn ra trước mặt họ.
Tình huống mà Phùng không lường trước trong chuyến đi này có phải là tình huống dựng
của nhà văn? Nhà văn đặt nhân vật và độc giả vào một tình huống phải nhận thức. Nhưng
nhân vật đã không lí giải được hiện thực, tiếng nói của quan tòa cũng trở nên lạc lõng. Họ
chấp nhận nó bằng những thỏa thuận bên ngoài. Cơn bão biển khơi lại nổi lên, biển động,
gia đình thuyền chài này rất có thể lại phải nhịn ăn, đói rách. Cái cảnh tượng thường tình
kia, sẽ lại xẩy ra. “Con sói con” - cậu bé Phác, lại phải thủ một con dao trong mình để
trấn áp người cha, trấn áp người đàn ông lầm lũi kia… Những dự cảm buồn như vết xước
trở đi trở lại trong tâm hồn. Những tâm hồn đầy vùng tối.
Phùng đã có một tấm hình để đời, được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành
nghệ thuật. Nhưng ám ảnh về cảnh tượng đằng sau bức ảnh thì không thể xóa mờ. Đằng
sau vẻ đẹp vĩnh hằng kia cũng là nỗi đau vĩnh viễn. Nghệ thuật đã che giấu, khỏa lấp cái
tha hóa, phi đạo đức? Hay nghệ thuật “bất khả tri” trước hiện thực ?. Cũng như chiếc
thuyền ngoài xa, nghệ thuật chỉ có thể nắm bắt được cái bóng của nó, cái bóng của hiện
thực. Vẻ ngoài của nghệ thuật, đôi khi như màn sương làm “mờ hóa” khả năng tri nhận ở
chúng ta. Bất khả tri trở thành niềm day dứt của người nghệ sĩ. Với người nghệ sĩ, thiên
chức là ngưỡng vọng và sáng tạo một vẻ đẹp toàn thiện nhưng sẽ là kẻ tội đồ nếu vẻ đẹp
của mình, Nguyễn Minh Châu đã giúp lớp băng hà kia có những vết nứt cần thiết. Vết nứt
để nhìn ra vùng tối, và có thể, đón nhận vùng sáng.
ĐỀ 3: PHÂN TÍCH NHÂN VẬT PHÙNG TRONG “ CHIẾC THUYỀN NGOÀI
XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU.
“Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn,
cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý
vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa
cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và
một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp” (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu
những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người, T.C Văn học, 1993, số 3,
tr.20). Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi
khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất
miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong
cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới,
Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực
đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng
nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước
hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả
chiều sâu.
Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành
tráng của mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng
không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử.
Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ
là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh
lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khoẻ khoắn tươi rói của
những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng
bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!). Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã
khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống
của những người dân chài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá
mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc
hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu).
Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự
nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng
phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn
nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng
thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông
khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú
nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn
sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu
trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh
nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự
nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”. Nhưng phản ứng của
người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con
cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó ”. Hoá ra, người cần được
thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có
phải là người làm ăn cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người
làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn
ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những
trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp
nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.Có người đã nhận định: Chiếc thuyền
ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn
bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt,
dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh. Hoá ra hành trình
tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên
chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần
trong bữa ăn trên chiếcthuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả.
Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn
sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có
thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống
nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc
chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên
trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên
trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa,
một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu). Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ
đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ
đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt
vời kia? Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen
trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh
sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao
giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn
bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có
miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt
đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa
lẫn trong đám đông.”.Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu
không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu
hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận
ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý
nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.