NGUYỄN MINH CHÂU VÀ TRUYỆN NGẮN
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA I- TÁC GIẢ
Nguyễn Minh Châu (20 tháng 10 năm 1930 - 23 tháng 1 năm 1989) là
một nhà văn có ảnh hưởng quan trọng đối với văn học Việt Nam trong giai
đoạn chiến tranh Việt Nam và thời kỳ đầu của đổi mới.
Tiểu sử
Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành
chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa và sau đó gia nhập quân
đội, học ở trường sỹ quan lục quân Trần Quoc Tuan. Từ
năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722,
706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyen Minh Chau là trợ
lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học
trường Văn hóa . Năm 1962, Nguyen Minh Chau về công tác tại phòng
Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được
kết nạp vàoHội nhà văn Việt Nam năm 1972.
Các tác phẩm chính
Cửa sông (tiểu thuyết, 1966)
Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970)
Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972)
Miền cháy (tiểu thuyết, 1977)
Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977)
Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982)
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983)
Bến quê (truyện ngắn, 1985)
Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987)
Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (1987)
cũng như những vấn để phức tạp của cuộc sống, kể cả bi kịch số phận con
người.[1]
Tóm tắt
Phóng viên Phùng được trưởng phòng giao nhiệm vụ đi chụp một tấm ảnh
về cảnh biển có sương để bổ sung vào bộ ảnh lịch. Anh đến một vùng biển
miền Trung vào giữa tháng bảy. Ngoài Đẩu, người đồng đội cũ giờ
làm chánh án tòa án huyện, anh đã quen thân với Phác, một cậu bé thường
đi cùng ông ngoại chở gỗ từ trên rừng về bán cho xưởng đóng tàu. Sau
khoảng tuần lễ chưa chụp được bức ảnh ưng ý, tình cờ anh thấy cảnh một
chiếc thuyền ngoài xa, trong làn sương sớm tạo nên một khung cảnh “từ
đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và
toàn bích”. Phùng nhanh chóng bấm liên thanh một hồi, thu vào chiếc máy
ảnh của anh “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh”.
Tuy nhiên, khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng chứng kiến một cảnh tượng
nghiệt ngã : hai vợ chồng người dân chài bước vào bờ, rồi người chồng
đánh vợ tới tấp bằng chiếc thắt lưng, rồi Phác, chính là đứa con của cặp vợ
chồng kia, xông vào ngăn cản, đánh lại bố. Cảnh tượng này những ngày
sau đó lại tiếp diễn, chỉ khác là lần này khi lão đàn ông vừa rời khỏi
thuyền thì có thêm đứa con gái cũng bơi vào bờ, rượt theo em nó và giành
được con dao găm thằng bé giấu trong cạp quần. Phóng viên Phùng đánh
nhau với lão đàn ông và bị thương nhẹ. Tòa án triệu tập người đàn bà đến.
Tại đây, chánh án Đẩu vì căm giận người đàn ông vũ phu nhiều lần đánh
vợ, đã khuyên người đàn bà bỏ chồng. Nhưng không ngờ người đàn bà đã
van xin Đẩu bắt tội, bỏ tù bà cũng được, đừng bắt bà bỏ chồng. Sau đó, chị
kể lại cuộc đời, gia cảnh của mình, lí do chị không muốn bỏ chồng vì gia
đình họ cần một người đàn ông để chèo chống lúc phong ba và nuôi cả
một đàn con. Người đàn bà chấp nhận sống nhẫn nhục trong sự ngược đãi
của chồng là vì những đứa con. Qua đó, chánh án Đẩu vỡ lẽ ra nhiều điều
trong cách nhìn nhận cuộc sống còn phóng viên Phùng lại hiểu thêm về
mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.
đình, nhưng Nguyễn Minh Châu đã báo động những vấn đề xã hội nhức
nhối. Gióng lên một tiếng chuông báo hiệu điều ác, Nguyễn Minh Châu đã
đấu tranh cho cái thiện. Tư tưởng nhân đạo của truyện chính là ở điểm
ấy.[4]
Ngoài ra, giá trị nhân đạo còn được thể hiện qua việc xây dựng nhân vật
người đàn bà.[5] Hình ảnh người đàn bà vùng biển xấu xí, nhẫn nhục vẫn
toát lên vẻ đẹp của tình mẫu tử, một vẻ đẹp đầy nữ tính, vị tha của người
phụ nữ ở một miền biển còn nghèo đói, lạc hậu. Như vậy ngòi bút nhân
đạo của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện nhưng khát khao hạnh phúc bình
dị của người lao động. Dẫu nghiệt ngã những phận đời, dẫu còn nhiều
nghịch lý, nhưng ẩn chìm trong những trang văn của Nguyễn Minh Châu
vẫn là chất nhân văn lấp lánh.[5]
Một số nhận xét
“
…Vậy nên, có thể nói hình tượng “chiếc thuyền ngoài xa” đích thực là một
ẩn dụ nghệ thuật hoàn toàn có dụng ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Giải mã hình tượng ẩn dụ đó, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp mà nhà
văn muốn truyền đi, rằng cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của
nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng
con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ
thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con
người và cuộc đời thì phải tiếp cận với đời, đi vào bên trong cuộc đời và
sống cùng cuộc đời.[6]
”
“
…Trong truyện ngắn tuyệt vời của Nguyễn Minh Châu, một người chụp
ảnh lịch năng nổ và mệt mỏi vì công việc, nhận thêm một việc rõ ràng là
bất khả : chộp cho được bí ẩn của màn sương mù dâng lên trên mặt nước
trong một tấm ảnh có phần hoàn chỉnh… Cuối cùng anh đã thành công với
một bức ảnh như vậy, chỉ để nhận ra hàng triệu người ca tụng vẻ đẹp tác
chủ nghĩa lãng mạn, vị trí lí tưởng mà quên mất hiện thực. Đó là bài học
của người nghệ sĩ nhiếp ảnh [9]
”
Trích đoạn tác phẩm
Những cảm nghĩ của Phùng trước cảnh chiếc thuyền ngoài xa :
“
Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh
"đắt" trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một
danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương
mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu
vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên
chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn
qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra
dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường
nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn
bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì
bóp thắt vào? Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp
chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám
phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc
trong ngần của tâm hồn.[10]
”
Đoạn văn kết thúc truyện ngắn thể hiện quá trình tự ý thức của Phùng :
“
Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của
tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ
thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy
hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ
bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà
ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn
với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa
Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học sau 1975. Trong nhà
trường, hai tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã được đưa bộ sách cải
cách trước đây ( Bức tranh ở cấp trung học cơ sở và Mảnh trăng cuối
rừng ở cấp trung học phổ thông) và lần thay sách này, giáo viên và học
sinh lại được tiếp cận hai tác phẩm khác- Bến quê ở cấp trung học cơ sở
và Chiếc thuyền ngoài xa ở trung học phổ thông.
Hầu như các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương
trình trung học phổ thông đều mang những nhan đề vừa cụ thể lại vừa có ý
nghĩa biểu tượng. Nếu như Mảnh trăng cuối rừng vừa là một hình ảnh
thực được miêu tả trong truyện và trở đi trở lại nhiều lần, thành hình ảnh
nổi bật và bao trùm toàn bộ khung cảnh của câu chuyện, vừa mang ý nghĩa
biểu tượng cho nữ nhân vật chính- Nguyệt thì “ Chiếc thuyền ngoài xa”
cũng có phần giống như thế
1- Chiếc thuyền ngoài xa là chiếc thuyền thực hay chiếc thuyền trong
bức ảnh nghệ thuật?
Truyện gồm 5 phần. Phần đầu nói về chiếc thuyền thực tại một vùng đầm
phá ven biển miền Trung và phần cuối hoàn toàn nói về chiếc thuyền trong
bức ảnh nghệ thuật, một trong 12 cảnh tĩnh vật thể hiện chủ đề thuyền và
biển cho một cuốn lịch năm mới.
Phần vào chuyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh. Nguyên là
người trưởng phòng của nhân vật “ tôi” ( tên là Phùng - nhân vật người kể
chuyện) “là người sâu sắc , lại cũng lắm sáng kiến”, anh ta đã đề xuất yêu
cầu “ Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ
thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”.
Suốt năm tháng ròng làm việc khá thông đồng bén giọt, tổ nhiếp ảnh nghệ
thuật đã mang về không biết cơ man nào là ảnh nhưng cũng chỉ có 11 bức
được lọt vào cặp mắt xanh của viên trưởng phòng “ sâu sắc nước đời”.
Một bức ảnh thiếu hụt oái oăm kia được trưởng phòng tin cẩn giao cho “
tôi” phải săn tìm cho được. Mà là tấm ảnh chụp có “ sương biển” giữa mùa
tháng bảy – dường như thường “ chỉ có bão táp với biển động”. Thật là
“Tôi” đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như đặt hàng của
trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và ‘ tôi” đã có thể ung dung “
nhảy lên tàu hoả trở về”. Nếu khéo liên hệ một tí, ta dễ thấy nếu như “ tôi”
về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt ( trong Mảnh trăng cuối rừng) xuống
xe ở cầu Đá Xanh.
Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của bức ảnh nghệ
thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế nào. Và nếu nghĩ sâu
xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho bộ môn lí luận nghệ thuật
khái quát về công phu lao động của nghệ sĩ.
Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh và
bức ảnh không chỉ có tuổi thọ ngang với một cuốn lịch năm mà “mãi mãi
về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia
đình sành nghệ thuật”. Mở và kết truyện như vậy cho thấy, chiếc thuyền
trong “ chiếc thuyền ngoài xa” là chiếc thuyền vừa có thực trong đời ,
vừa là chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật và nó cũng chính là một
chi tiết nghệ thuật đắt, không dễ trong đời cầm máy “ tôi” đã có được may
mắn thứ hai.
2- Tại sao lại là “chiếc thuyền ngoài xa” ?
Theo dòng kể của ‘ tôi” rõ ràng chiếc thuyền được chụp trong một cự li
tương đối gần – “ một chiếc thuyền lưới vó…đang chèo thẳng vào trước
mặt tôi”- nhà nghệ sĩ nhìn rõ cả “những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa
hai chiếc gọng vó”. Người thưởng thức bức ảnh thông thường chắc không
ai không cảm nhận chiếc thuyền đang được chụp trong một cự li gần như
thế . Thế nhưng vì sao tác giả lại đặt nhan đề truyện là “ chiếc thuyền
ngoài xa”?
Trở lại luận điểm ban đầu về đầu đề văn bản : Nhan đề là nội dung cô
đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề
phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn
của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố
nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút
Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên “ tôi” nán lại thêm mấy hôm và
chính lần này “ tôi” mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi làm việc giữa Đẩu
– người đồng đội cũ của “ tôi” , giờ là Chánh án toàn án huyện- và người
phụ nữ khốn khổ kia , ‘ tôi mới vỡ ra nhiều lẽ . Thì ra nếu chiếc thuyền
chụp được là “ từ xa” thì cái cảnh “ tôi” chứng kiến cũng chỉ là bề nổi của
cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì sao người phụ nữ phải cam chịu một bề,
không chống trả những trận “đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu
theo nghĩa nào đó là không chịu “ giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra
đã đưa hai người cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được
mệnh danh là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác:
-“ Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú.
Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên
các chú đâu có hiểu cái việc của các người làm ăn lam lũ , khó nhọc…”
- “ Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão ách tôi ra đánh, cũng như đàn ông
thuyền khác uống rượu. giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ…Sau
này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”
- “ Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như
thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn
ông …Cũng có khi biển động sóng gió chứ?”.
- ‘ Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ
nó- vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà
thuận vui vẻ”.
Cái vòng luẩn quẩn của những kiếp người cần lao quả thật đầy bất ngờ đối
với “ tôi”, vốn đã trải qua mấy năm chiến đấu tại mảnh đất này, đã giải
phóng mảnh đất này và hiện đang là nhà báo từng dong ruổi nhiều nơi! Và
“ tôi” cũng nhận ra rằng vì sao ông lão ( cha người phụ nữ) làm nghề sơn
tràng “ ở tận trên miền rừng A So” và thằng cháú ngoại lại hay xuất hiện ở
miệt biển này và tại sao trong buổi sáng chia tay “ tôi” ông lão luôn “đặt
hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền”. Vậy ,
với tất cả những điều ấy, “chiếc thuyền nghệ thuật” của “tôi” nói được cái
1.“ Chiếc thuyền ngoài xa” ra đời ba năm trước thời điểm 1986 - mốc mà
bất cứ một nhà văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là
năm khai sinh và tái sinh con đường nghệ thuật của mình, ít nhất là về tư
thế cầm bút, họ được tự do.
Nguyễn Minh Châu ý thức rất rõ nhu cầu của mình và nhu cầu của văn
học. Ông từ giã chính ông, truy đuổi những cách khám nghiệm đời sống
dưới góc nhìn và phương tiện mới. Trong Bức tranh và Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành, ít nhất, sự truy đuổi ấy đã đặt Nguyễn Minh Châu
trước một thử thách triết học: sự tự nhận thức. Nhận thức không chỉ diễn
ra dưới công năng của tư duy lí trí, mà dường như còn phải diễn ra bằng
nhưng luồng xung của tiềm thức, của vùng sâu vùng sáng và vùng tối
trong tâm hồn. Cơ mà, cũng phải thấy, đôi khi ông bất lực để lí giải, lí giải
cho nhân vật và lí giải cho hiện thực. Nhân vật của ông vượt qua những
giăng bẫy hiện thực mà ông chân thật dựng nên, rơi vào trạng thái “bất khả
tri”. Sự tự nhận thức trở nên đau đớn, trở thành một vết thương sẵn sàng
thức tỉnh. Ai nào biết được khuôn mặt trong bức tranh kia là khuôn mặt gì
của thời đại, của thế hệ, của từng cá nhân; ai biết được người đàn bà tên
Quì ấy mắc một chứng bệnh cá nhân hay của thế hệ, của thời đại…?.
Không dễ dàng đưa ra kết luận, cũng như các nhân vật kia, không dễ dàng
dập tắt ngọn lửa tự nhận thức trong mình, dập tắt đồng nghĩa với thiêu rụi
sự sống.
“Chiếc thuyền ngoài xa” nằm trong mạch sáng tác đòi hỏi cả độc giả và
nhà văn phải nhận thức lại hiện thực. Hiện thực bây giờ không đơn giản là
một vết xước rớm máu trên cánh tay trắng đẹp của cô gái thanh niên xung
phong kia mà có lẽ, phải là vết xước trong tâm hồn. Ở đó, mỗi cá nhân là
một chỉnh thể, một sở hữu của vết xước, bảo toàn và chưng cất nó khiến sự
nhận thức mãi mãi không đưa ra một hệ số bằng lòng.
2. Câu chuyện bắt đầu từ việc Phùng, phóng viên ảnh, đi “săn” một tấm
hình chụp cảnh bình minh trên biển. Tấm hình kia phải là một tác phẩm
nghệ thuật, dĩ nhiên, như anh nhận thức, cần tránh lặp lại, nhàm chán và
khắc trời cho ấy, Phùng rơi vào một khoảnh khắc, một tình huống “hiện
thực cuộc sống” ban cho. Chính từ lúc này, Phùng vấp phải một thách đố
khác, có lẽ còn nghiệt ngã hơn cả sự sáng tạo nghệ thuật – thách đố lí giải,
nhận thức hiện thực.
Trước cảnh tượng liền kề với khoảnh khắc nghệ thuật, Phùng kinh ngạc
đến mức “trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi
chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”.
Phùng lao tới nơi người đàn ông “tấm lưng rộng và cong như lưng một
chiếc thuyền, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc
dữ” đang dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà “cao lớn
với những đường nét thô kệch”, “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm
răng nghiến ken két”… Nhưng Phùng đã bị cản lại bởi “bóng một đứa con
nít”, đó là Phác, con trai của cặp vợ chồng kia. Phác giật chiếc thắt lưng từ
tay người đàn ông, lão “dang thẳng cánh tay cho thằng bé hai cái tát”. Rồi
lão lẳng bặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Kết thúc cái cảnh
tượng ấy, “bãi cát lại trở về với vẻ mênh mông và hoang sơ”, chỉ còn
Phùng, cậu bé Phác và tiếng sóng ngoài khơi, tất cả chìm vào cõi im
lặng…
Có lẽ, đó là một hiện thực “quái đản”. Một hiện thực hiển nhiên mà không
thể lí giải. Người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng sự hành hạ của chồng.
Người chồng đánh đập vợ tàn nhẫn như một thói quen, vô cảm và bản
năng. Những đứa con bất lực nhìn cảnh bạo lực diễn ra ở chính cha mẹ
chúng. Tất cả đều im lặng, triền miên ở ngay nơi chiến tranh vừa đi qua.
Tất cả đều diễn ra đằng sau cái vẻ đẹp đơn giản và toàn bích của thiên
nhiên. Một hiện thực quái đản xâm lấn ngay sau phút giây hạnh phúc của
người nghệ sĩ. Một nỗi đau và dìm nén nỗi đau, một bình yên và phá hoại
bình yên, một dư chấn và một khoảng lặng cứ đan cài nhau giữa muôn
trùng tiếng sóng biển. Và rồi, cũng như trong câu chuyện cổ quái đản, tất
cả đều biến mất, tất cả cứ lặp lại…
Lần thứ hai chứng kiến, Phùng trở thành người hùng, anh đánh quật gã đàn
người tội nghiệp?. “Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh,
cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu…Sau này con cái lớn lên, tôi
mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh…”. Rõ ràng, đây là một
giải thoát trong bế tắc, một giải thoát đẫm nước mất và đau đớn.
Cả Đẩu và Phùng đều thốt lên: “Không thể nào hiểu được, không thể nào
hiểu được”. Họ không thể hiểu tại sao hai con người nhỏ bé kia lại chấp
nhận sống và yêu thương bằng kiểu lạ lùng như vậy. Dù lời kể của người
đàn bà phần nào giúp họ nhận ra những ẩn ức thẳm sâu nhưng họ vẫn
dừng lại trên bờ vực của sự nhận thức hiện thực. Họ chưa thể nào dò thấu
đáy sâu của nỗi ẩn ức kia cũng như hiện thực đang diễn ra trước mặt họ.
Tình huống mà Phùng không lường trước trong chuyến đi này có phải là
tình huống dựng của nhà văn? Nhà văn đặt nhân vật và độc giả vào một
tình huống phải nhận thức. Nhưng nhân vật đã không lí giải được hiện
thực, tiếng nói của quan tòa cũng trở nên lạc lõng. Họ chấp nhận nó bằng
những thỏa thuận bên ngoài. Cơn bão biển khơi lại nổi lên, biển động, gia
đình thuyền chài này rất có thể lại phải nhịn ăn, đói rách. Cái cảnh tượng
thường tình kia, sẽ lại xẩy ra. “Con sói con” - cậu bé Phác, lại phải thủ một
con dao trong mình để trấn áp người cha, trấn áp người đàn ông lầm lũi
kia… Những dự cảm buồn như vết xước trở đi trở lại trong tâm hồn.
Những tâm hồn đầy vùng tối.
Phùng đã có một tấm hình để đời, được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các
gia đình sành nghệ thuật. Nhưng ám ảnh về cảnh tượng đằng sau bức ảnh
thì không thể xóa mờ. Đằng sau vẻ đẹp vĩnh hằng kia cũng là nỗi đau vĩnh
viễn. Nghệ thuật đã che giấu, khỏa lấp cái tha hóa, phi đạo đức? Hay nghệ
thuật “bất khả tri” trước hiện thực ?. Cũng như chiếc thuyền ngoài xa,
nghệ thuật chỉ có thể nắm bắt được cái bóng của nó, cái bóng của hiện
thực. Vẻ ngoài của nghệ thuật, đôi khi như màn sương làm “mờ hóa” khả
năng tri nhận ở chúng ta. Bất khả tri trở thành niềm day dứt của người
nghệ sĩ. Với người nghệ sĩ, thiên chức là ngưỡng vọng và sáng tạo một vẻ
đẹp toàn thiện nhưng sẽ là kẻ tội đồ nếu vẻ đẹp ấy làm che khuất và quên