Hành trình từ “chuyên chính ừ vô sản” đến “làm chủ tập thể” và “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” - Pdf 17

Hành trình từ “chuyên chính vô sản”
đến “làm chủ tập thể” và “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”
Tương Lai
Báo Người đại biểu nhân dân
Trên đất nước ta, đó là một hành trình gian truân với cái giá phải trá khá đắt. Nhưng là những
bước thuận theo quy luật vận động của cuộc sống, và là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó
cũng là hành trình của nhận thức nhằm chứng minh thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, quy luật
của cuộc sống mạnh hơn những giáo điều xơ cứng, tuy có sức trì kéo, kìm hãm nặng nề sự phát
triển, nhưng không thể ngăn chặn được sự phát triển đó. Và rồi, cái gì cần đến, cũng đã đến.
Trên đất nước ta, đó là một hành trình gian truân với cái giá phải trả khá đắt. Nhưng là những bước
thuận theo quy luật vận động của cuộc sống, và là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là hành
trình của nhận thức nhằm chứng minh thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, quy luật của cuộc sống mạnh
hơn những giáo điều xơ cứng, tuy có sức trì kéo, kìm hãm nặng nề sự phát triển, nhưng không thể ngăn
chặn được sự phát triển đó. Và rồi, cái gì cẩn đến, cũng đã đến.
I. Về chuyên chính vô sản
Quả thật chuyên chính vô sản là khái niệm đã chi phối hoạt động của các Đảng Cộng sản trong một thời
gian rất dài nhất là khi Đảng đã nắm chính quyền. Một khái niệm có ảnh hưởng tác động đến sinh mệnh
của triệu triệu con người. Khái niệm ấy gắn liền với giai cấp và đấu tranh giải cấp, được xem là động lực
của phát triển. Người ta từng cho rằng đây là một khái niệm then chốt trong tư duy lý luận của học
thuyết C.Mác. Tuy vậy, đã đến lúc phạt thật sự tường minh trong cách nhận định và phân tích về khái
niệm quan trọng vốn có một diễn biền khá phức tạp. Làm sáng tỏ điều này là một nhu cẩu trực tiếp của
việc đẩy tới sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện và triệt để.
Vì đổi mới là nhằm vứt bỏ những công thức, những giáo điều của một thời cứ ngỡ như là "thiên kinh địa
nghĩa" song đã bị cuộc sống bác bỏ hoặc vượt qua, những gì mà qua khảo nghiệm khách quan và
nghiêm khắc của thực tiễn, lý luận ấy đã tỏ rõ sự bất cập, sai lầm hoặc thiếu hoàn chỉnh. Do vậy phái bổ
sung sức sống mới, nhằm hình thành những luận điểm mới, phạm trù mới giúp hoàn chinh một lý luận
phản ánh được thực tiễn đang vận động. Nhờ đó, làm cho lý luận gần kết được với thực tiễn, gắn với
chân lý hơn, có tác động thúc đẩy sự phát triển. Quả thật là,"vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người
có thé đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà một vấn đề thực
tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phái chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực
và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình", điều mà C.Mác đã căn dặn. Hãy vận dụng quan điểm

Thật ra, đây chỉ là một tiên đoán. Mà là một tiên đoán chưa có bao nhiêu căn cứ lý luận cũng như thực
tiễn. Trong thực tiễn, thời C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ có duy nhất 53 ngày công xã trong một thành phố
là Paris, ngoài ra không có thực tiễn nào khác về cách mạng vô sản thắng lợi và thiết lập chuyên chính
vô sản cả. Nói nôm na thì "chưa có bột để gột nên hồ", hoặc là quá ít bột, chưa thể đủ "gột" nên bất cứ
thứ "hồ" gì! Thực tế lịch sử đã chứng minh sự phân tích của C.Mác về tình thế khủng hoảng và cách
mạng vào giữa thế kỷ XIX là không đúng. Và C.Mác đã sớm nhận ra điều đó.
3. Khái niệm "chuyên chính vô sản" trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chuyển đổi và
mở rộng nội dung của nó ra. Cùng với thời gian và diễn biến rất phức tạp, việc nhận cho ra đâu là tư
tưởng lý luận của chính C.Mác là điều hết sức cần thiết vì nó tránh được những ngộ nhận sai lầm.
Với Lênin, ông từng xác định: "Lịch sử thế giới nhất định sẽ đi tới chuyên chính vô sán, nhưng tuyệt
nhiên sẽ không phải đi theo những con đường bằng phẳng, giản đơn, thắng tắp”. Cho nên, với ông,
chuyên chính vô sản là nội dung chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, dân
quyền, dân sinh, dân chủ cửa cả thời đại quá độ, mở rộng ra trên căn bản tư tưởng C.Mác, là đấu tranh
vừa bạo lực vừa hòa bình, vừa hành chính, vừa giáo dục, tuyên truyền
Có nghĩa là, với V.I Lênin, nội dung của chuyên chính vô sản bao quát toàn bộ các vấn đề của thời đại
chứ không phái chỉ có đóng khung trong vấn đề Nhà nước. V.I Lênin cho rằng Nhà nước Chuyên chính
vô sản ngay từ khi mới thành lập đã là vừa là Nhà nước, vừa không còn là Nhà nước nguyên nghĩa, đã
bước ngay vào quá trình tự tiêu vong của Nhà nước. Điều này không diễn ra trong thực tế.
Vào cuối đời, những năm 1923 và 1924, V.I Lênin nhiều lần vạch rõ những lệch lạc, suy thoái của chính
quyền Xô Viết, nhất là tệ quan liêu và tham nhũng. V.I Lênin đã chỉ rõ: "Trên lời nói thì bộ máy Chính
quyền Xô viết là bộ máy chính quyền của tất cả quần chúng lao động, nhưng trên thực tế thì mọi người
chúng ta không còn ai xa lạ rằng còn xa lạ mới được như thế". Có một sự thật hết sức có ý nghĩa là,
chính vào những năm đó, Lênin đã nhận thức ra và tuyên bố rõ: quan niệm của chúng ta về chủ nghĩa xã
2
hội phải thay đổi về cơ bản! Đáng tiếc là con người với bản lĩnh sáng tạo và dám thẳng thắn chỉ ra
những sai lầm và tìm cách khắc phục ấy đã chưa kịp thực hiện ý chính của mình.
4. Đến J.Stalin thì chuyên chính vô sản chỉ còn là Đảng trị, Đảng trở thành "siêu Nhà nước", Đảng mới
chính là Nhà nước. Với J.Stalin, hệ thống chính trị chuyên chính vô sản gồm: Đảng là hạt nhân trưng
tâm lãnh đạo toàn bộ hệ thống còn Nhà nước, Công đoàn và các đoàn thể quần chúng là những dây
chuyền chuyền tải giữa Đảng và nhân dân. Và như thế là nhân dân ở ngoài hệ thống chính trị. Nhà nước

mới đặc biệt là sự thiếu dân chủ và không dân chủ, đã dần dần làm mất lòng tin của nhân dân Xô Viết và
của cả 20 triệu Đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô. Và đó chính là nguyên nhân cơ bản đẩy tới sự sụp đổ
của hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
Ở Trung Quốc, tuy chủ trương thực hiện nhân dân dân chủ chuyên chính của bốn giai cấp chứ không
dùng "chuyên chính vô sản"nhưng sai lầm của mô hình Mao-ít với lý thuyết cũng tương tự như lý thuyết
của J.Stalin đã dẫn ra ở trên, là càng đi sâu vào xây dựng CHXH thì đấu tranh giai cấp càng gay gắt, mở
đường cho những cuộc trấn áp phản dân chủ rồi những cuộc đấu tố trong cái gọi là "đại cách mạng văn
hóa" mà thực chất là các cuộc thanh trừng lẫn nhau trong nội bộ thế lực cầm quyền mà hậu quả là mấy
3
chục triệu người chết, trong đó có cả những “khai quốc công thần"! Trong một Hội thảo khoa học tại Hà
Nội năm 2005, một học giả Trung Quốc chỉ ra rằng: trong lịch sử Đảng cộng sản Trung Quốc đã có 14
Đại hội có những cuộc đấu như vậy. Mao từng nói: “đấu tranh với người là niềm vui lớn ". Chính lời nói
này đã đem tai họa đến cho người dân Trung Quốc.
Trong phong trào cộng sản quốc tế, trong những người cộng sản, trong các nước XHCN một thời, đã có
không ít ý kiến cho rằng quan niệm và thực tiễn chuyên chính vô sản chứa đựng nhiều bất ổn cần phải
được nhìn nhận lại. Những ý kiến ấy đã bị lên án nặng nề, bị gạt bỏ, bị trấn áp để suốt gần nửa thế kỷ, từ
năm 19/9, khi thành lập "Quốc tế cộng sản", đến cuối những năm 60 của thế kỷ XX, các Đảng cộng sản
trên thế giới đểu coi chuyên chính vô sản là lý luận kinh điển và chủ trương cơ bản. Cho đến cuối thập
kỷ 1960, nhiều Đảng cộng sản lớn như Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Ý rồi đến những Đảng
cộng sản trung bình và nhỏ đã có chính quyền hoặc chưa nắm được chính quyền, đều lần lượt từ bỏ
chuyên chính vô sản. Có Đảng lẳng lặng từ bỏ, có Đảng giải thích rằng cụm từ "chuyên chính vô sản" dễ
gây phản cảm, không được tán thành bởi nhiều người tiến bộ và yêu nước.
Và rồi, cho dù bị quyết liệt ngăn chặn, cản trở bới những thế lực bảo thủ, giáo điều tìm thấy sự duy trì
"chuyên chính vô sản" phù hợp với việc bảo vệ lợi ích và quyển lực đang có của họ, mô hình sai lầm ấy
đã bị vứt bỏ. Cuộc sống không chấp nhận cả lý thuyết và thực tiễn "chuyên chính vô sản" kiểu
"Stalinnit".
5. Thật oái oăm, khái niệm "chuyên chính vô sản" mà một thời được tiếp thu và vận dụng ở một số nước
XHCN, trong đó có nước ta, lại rơi vào đúng cái nội dung kiểu "Stalinnit" ấy!
Ở ta, vấn đề "chuyên chính vô sản" quả thật đã từng giữ vị tri "then chốt” trong tư duy của Đảng cầm
quyền. Những ngộ nhận về nội dung của "chuyên chính vô sản” theo quan điềm Stalin đã đầy tới những

không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Chỉ ra điều ấy vì Hồ Chí
Minh hiểu rằng ở Việt Nam, "cuộc đấu tranh giai cấp” không diễn ra giống như ở phương Tây".
Bằng tầm nhìn ấy, Hồ Chí Minh đã hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm trong cải cách ruộng đất,
chỉnh đốn tổ chức theo sự dẫn dắt của quan điểm phóng đại tinh thần cách mạng nằm trong nội dung của
"chuyên chính vô sản" được tác động của đường lối kiểu "Stalinnít" hoặc "Mao ít" cố sức cường điệu và
"phóng đại tinh thần cách mạng", đưa tới những hệ lụy đau đớn. Cần phải có sự nghiêm túc và sòng
phẳng đối với những sai lầm và hệ lụy ấy.
6. Tóm lại, C.Mác và Ph.Ăngghen có một số ý tưởng về "chuyên chính vô sản", nhưng không có và
không thể có lý luận về "chuyên chính vô sản”. Những ý tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen có điều đúng
nhưng cũng có nhiều điều không đúng do đánh giá sai tình hình chủ nghĩa tư bán, và do khái quát hóa
quá vội vàng từ một kinh nghiệm quá ngắn ngủi và không thành công của Công xã Paris (mà về điểm
này, về sau C. Mác và nhất là Ph.Ăngghen đã có tự phê bình).
Vì thế, khẳng định rằng chuyên chính vô sản là vấn đề chú yếu, cũng như khắng định giá tri thặng dư là
hòn đá tảng của học thuyết Mác là những ý kiến của những người học trò của C. Mác chứ C.Mác không
hề khẳng định như vậy. Ở đây có những lý do, những động cơ rất khác nhau của sự khẳng định ấy mà
trong một bài viết ngắn chưa thể nói kỹ.
Chính vì thế, ý tưởng về "làm chủ tập thể” là một cố gắng tìm tòi, bứt phá nhằm vượt ra khỏi mô hình
"chuyên chính vô sản” trên hành trình trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về “Nhà nước pháp quyền”.
II. Về “làm chủ tập thể”
1. Phạm trù làm chủ tập thể hình thành trong suy tư về vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý
của Nhà nước nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện được quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của
mình. Phải biết tước bỏ những cách hiểu dung tục, thô thiển để nhìn vào chiều sâu triết lý và sự vận
động của lịch sử hướng tới một hình thái xã hội mới ra đời ngay trong lòng xã hội hiện tồn. Đó là khi
bằng cách mạng giành lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân trong một Nhà nước
dânchủ, thì không thể áp dụng hình thái "Nhà nước chuyên chính vô sản" được nữa. Hạt nhân của triết lý
làm chủ tập thể chính là sự khẳng định "'quyền hành và lực lượng đều nơi dân” và đấy cũng là cốt lõi
của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính Hồ Chí Minh là người đầu tiên nói đến quyền làm chủ của nhân dân.
Trong bài "Đạo đức công dân" đăng trên báo "Nhân dân" ngày 15/01/1955, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”.
2. Tuy vậy, do chịu ảnh hưởng của sự áp đặt mô hình Xô Viết, nên tại Đại hội II năm 1951, trong "Bàn

các Đảng đã nắm chính quyền hoặc đang đấu tranh đều đã từ bỏ.
3. Cũng chính vì thế, tại Đại hội VI, Báo cáo chính trị chỉ có một lần dùng cụm từ "chuyên chính vô
sản” trong hai câu: "Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, do giai cấp
công nhân và nhân dân lao động tổ chức thành cơ quan quyền lực chính trị. Trong thời kỳ quá độ, đó là
Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa” để " khẳng định tiếp tục thực
hiện đường lối chung của cách mạng XHCN và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN do các Đại hội
lần thứ IV và lần thứ V của Đảng". Tuy một lần nhắc lại cụm từ "chuyên chính vô sản", nhưng thực tế là
trong Văn kiện đại hội VI, lại quyết định nhiều chủ chương để phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
dân. Cụm từ "làm chủ tập thể” được nêu cao và nhắc đến hàng chục lần và cũng lần đầu, chủ trương
"dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"được Đại hội VI đưa ra.
Tại Đại hội VII, lần đầu tiên khái niệm "chuyên chính vô sản" với tư cách là bản chất của Nhà nước
XHCN đã không được nói đến nữa. Thay vào đó là khái niệm "xây dựng Nhà nước XHCN, Nhà nước
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân". Đặc biệt, đã xác định: "là tổ chức thể hiên và thực hiên ý
chí, quyền lực của nhân dân thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định
ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội trong luật pháp". Ở đây đã thấp thoáng bóng
dáng của tư duy về "Nhà nước pháp quyền".
Đến Đại hội VIII thì khái niệm Nhà nước pháp quyền được chính thức đi vào đời sống xã hội bằng sự
khẳng định: "Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền. Quản lý xã hội bằng pháp
luật…". Quả thật, đây là một sự điều chỉnh muộn màng so với hầu hết các Đảng cộng sản trên thế giới.
Đáng tiếc là sự muộn màng ấy lại đã thường xảy ra. Mà xảy ra trước hết lại là ở lĩnh vực hoạt động lý
luận ở những nhà lý luận vốn chiếm giữ những vị trí có tác động lớn đến đời sống tinh thần của xã hội.
6
Ở đây, cái bóng dáng của "chuyên chính vô sán" thể hiện khá rõ trong tệ độc quyền chân lý, áp đặt tư
duy và tùy tiện quy kết, của cái thói chỉ quen độc thoại đề "ban phát chân lý" đã bị độc quyền chiếm
dụng, mà không chịu nổi sự đối thoại bình đẳng và công khai để làm sáng tỏ chân lý khách quan, nhân
danh sự đề phòng "chệch hướng" ra khỏi quỹ đạo "xã hội chú nghĩa”.
Ấy thế mà, như Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định, các nhà sáng lập ra học thuyết Mác “chưa bao giờ
đề ra một định nghĩa có tính chất hình mẫu về chủ nghĩa xã hội khoa học, chính khoa học là ở chỗ đó".
Ông thường hay dẫn ra câu nói nổi tiếng của Gớt để cảnh báo các nhà lý luận: "Lý thuyết thì màu xám.
Còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi”.Và chính ông đã từng tự phê bình về việc "sao mà mình có thể quay

đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng của một Nhà nước pháp quyền.
3. Mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh dẫn ra những câu tiêu biểu nhất trong
Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp
1791. Những câu hay nhất thể hiện tập trung nhất khát vọng của con người, của loài người, đề từ đó, nói
về những "lẽ phải không ai chối cãi được".
7
Từ tầm cao trí tuệ của thời đại, ngay từ nhũng ngày đầu tiên của nền độc lập vừa giành lại được, Hồ Chỉ
Minh đã khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chứ! Trong hoàn cảnh cực ký phức tạp của
giặc ngoài, thù trong, Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết tổ chức tổng tuyển cứ bầu ra Quốc Hội đầu tiên của
nước Việt Nam mới, một nước dân chủ, trong đó dân là chủ, dân làm chủ! Hồ Chí Minh tin vào dân,
hiểu rõ khát vọng dân chủ của dân.
Bằng việc thực thi quyền dân chủ trực tiếp trong cuộc phổ thông đầu phiếu bầu ra Quốc hội năm 1946,
dân ta đã chứng minh với thế giới rằng, một dân tộc vừa thoát khỏi vòng nô lệ trăm năm thực dân thuộc
địa, khi đã vùng lên dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã vững bước trên
hành trình dân chủ. Vậy thì, cơ sở xã hội của Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
Là dân tộc. Với Hồ Chí Minh, dân tộc không chỉ là địa bàn ứng dụng của lý tưởng cách mạng, mà dân
tộc chính là chỗ xuất phát, mảnh đất màu mỡ và cội nguồn sáng tạo của lý tưởng cách mạng đó. Cơ sở
xã hội mới của Nhà nước ấy rất rộng lớn và không hề thay đổi phạm vi trong quá trình cách mạng. Đó là
phạm vi các giai cấp và tầng lớp không thay đổi, chỉ tăng lên về chất lượng để thành một tập hợp mới
mạnh mẽ hơn, bền chắc hơn của khối đại đoàn kết dân tộc. Trong đó, có thể có rơi rớt người này hoặc
người khác, chứ không có chuyện loại bở tầng lớp này hoặc tầng lớp khác theo kiểu sứ dụng "bạn
đường" có thời hạn để khi cần thì vứt bỏ. Trong tư tưởng và trong hành động, trong ứng xử với con
người, với đồng bào mình, Hồ Chỉ Minh tuyệt đối không có chuyện đó. Vì biết đứng trên cái nền vững
chãi ấy nên mới hình thành và xác lập được tư duy độc lập và sáng tạo, luôn gắn kết với thực tế đất
nước.
4. Qua tổ chức Tổng tuyển cử vừa nhắc ở trên, thấy rõ điều ấy trong cách vận dụng, cách thức thực hiện
dân chú đại diện và dân chủ trực tiếp. Khi dùng dân chủ đại diện, Hồ Chí Minh đã không hoàn toàn theo
chỉ dẫn của C.Mác cũng như không theo V.Lênin về mô hình dân chủ hội đồng, tức là dân chủ Xô Viết.
Qua thực tế, đã thấy rõ mô hình tháp hội đồng ấy là không ổn, vì vậy phải quay trở lại việc bầu cử theo
đơn vị hành chính dân cư. Nhận ra điều đó, Hồ Chí Minh đã chủ trương ấn hành những cuộc bầu cử theo

trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946
thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Sáu mươi năm của hành trình dân tộc,
những nền móng ban đầu của "Nhà nước pháp quyền Việt Nam" đã không được củng cố và xây đắp
thành hình hài ngày một rõ nét mà lại dần dà bị chìm đi bởi sự áp đặt của mô hình "chuyên chính vô
sản". Thế nhưng, sự vận động của thực tiễn đã trả về cho cái nền tảng ban đầu ấy sức thuyết phục và ý
nghĩa sâu sắc của tầm cao trí tuệ và bề dày văn hóa trong tư duy về Nhà nước của Hồ Chí Minh.
Khi Đại hội X của Đảng, phát triển những thành tựu của nhận thức về Nhà nước của các Đại hội VII,
VIII, IX để khẳng định rõ: "'Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN. Cần xây dựng cơ chế vận
hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân…”, thì đó
chính là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước.
Phải bằng một chặng đường hơn nửa thế kỷ, tư duy về Nhà nước pháp quyền mới được chính thức trở
thành tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng Nhà nước. Hành trình gian chuân của hơn nửa thế kỷ xây
dựng một Nhà nước thật sự là Nhà nước của dânk do dân và vì dân như Hồ Chí Minh đã đặt nền móng
chưa thể nói là đã hoàn toàn thuận buồm xuôi gió. C.Mác đã từng cánh báo: "mỗi bước tiến mới sẽ tất
yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tôi cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ,
đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hóa". Tính ngoan cố của tập quán, nhất lại là tập quán đã
được "thần thánh hóa” sẽ là sức ta kéo ghê gớm sự phát triển.
Thế nhưng sự vận động của lịch sử đã chứng minh, cuộc sống sẽ tự mở lấy đường đi cho nó bất chấp
mọi trở lực. Đó là quy luật không sao đảo ngược được.
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status