Hành trình từ “chuyên chính vô sản” đến “làm chủ tập
thể” và “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” - 1 Trên đất nước ta, đó là một hành trình gian truân với cái giá phải trá khá đắt.
Nhưng là những bước thuận theo quy luật vận động của cuộc sống, và là sự trở lại
với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là hành trình của nhận thức nhằm chứng minh
thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, quy luật của cuộc sống mạnh hơn những giáo
điều xơ cứng, tuy có sức trì kéo, kìm hãm nặng nề sự phát triển, nhưng không thể
ngăn chặn được sự phát triển đó. Và rồi, cái gì cần đến, cũng đã đến.
Trên đất nước ta, đó là một hành trình gian truân với cái giá phải trả khá đắt.
Nhưng là những bước thuận theo quy luật vận động của cuộc sống, và là sự trở lại
với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là hành trình của nhận thức nhằm chứng minh
thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, quy luật của cuộc sống mạnh hơn những giáo
điều xơ cứng, tuy có sức trì kéo, kìm hãm nặng nề sự phát triển, nhưng không thể
ngăn chặn được sự phát triển đó. Và rồi, cái gì cẩn đến, cũng đã đến.
I. Về chuyên chính vô sản
Quả thật chuyên chính vô sản là khái niệm đã chi phối hoạt động của các Đảng
Cộng sản trong một thời gian rất dài nhất là khi Đảng đã nắm chính quyền. Một
khái niệm có ảnh hưởng tác động đến sinh mệnh của triệu triệu con người. Khái
niệm ấy gắn liền với giai cấp và đấu tranh giải cấp, được xem là động lực của phát
triển. Người ta từng cho rằng đây là một khái niệm then chốt trong tư duy lý luận
của học thuyết C.Mác. Tuy vậy, đã đến lúc phạt thật sự tường minh trong cách
nhận định và phân tích về khái niệm quan trọng vốn có một diễn biền khá phức
tạp. Làm sáng tỏ điều này là một nhu cẩu trực tiếp của việc đẩy tới sự nghiệp đổi
mới một cách toàn diện và triệt để.
Vì đổi mới là nhằm vứt bỏ những công thức, những giáo điều của một thời cứ ngỡ
như là "thiên kinh địa nghĩa" song đã bị cuộc sống bác bỏ hoặc vượt qua, những gì
mà qua khảo nghiệm khách quan và nghiêm khắc của thực tiễn, lý luận ấy đã tỏ rõ
sự bất cập, sai lầm hoặc thiếu hoàn chỉnh. Do vậy phái bổ sung sức sống mới,
nhằm hình thành những luận điểm mới, phạm trù mới giúp hoàn chinh một lý luận
phiếu, lập ra Chính phủ cách mạng và chế độ cách mạng. Quan điểm trên chịu ảnh
hướng khá rõ của phái tả trong cách mạng tư sản Pháp 1789. Và chiến lược đó đã
không thực hìện đuợc!
2. Lần thứ hai thuật ngữ chuyên chính vô sản được dùng là sau thất bại của Công
xã Paris. Từ tổng kết sự thất bại đó, C.Mác nêu lên nhưng bài học về vẫn để hình
thành Nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản, không giống với bất kỳ một hình
thức Nhà nước nào đã có trước đó, một hình thái Nhà nước báo hiệu sự tiêu vong
của Nhà nước. Nếu xem xét thật kỹ thì trong những nội dung này có mang màu
sắc ảo tưởng, vì kinh nghiệm của Công xã Paris còn quá nghèo nàn. Cần nhớ rằng,
Công xã paris chỉ tồn tại có 72 ngày (từ 18/3/1871 đến 28/5/1871). Tuy nhiên, nếu
đọc kỹ "Nội chiến ở Pháp" thì sẽ hiểu rõ chuyên chính vô sản theo quan niệm của
C.Mác, là một hình thức Nhà nước cách mạng đã không còn thuần túy là Nhà
nước nữa, mà đã nằm trong cái logic của Nhà nước dần dần tự tiêu vong.
Thật ra, đây chỉ là một tiên đoán. Mà là một tiên đoán chưa có bao nhiêu căn cứ lý
luận cũng như thực tiễn. Trong thực tiễn, thời C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ có duy
nhất 53 ngày công xã trong một thành phố là Paris, ngoài ra không có thực tiễn
nào khác về cách mạng vô sản thắng lợi và thiết lập chuyên chính vô sản cả. Nói
nôm na thì "chưa có bột để gột nên hồ", hoặc là quá ít bột, chưa thể đủ "gột" nên
bất cứ thứ "hồ" gì! Thực tế lịch sử đã chứng minh sự phân tích của C.Mác về tình
thế khủng hoảng và cách mạng vào giữa thế kỷ XIX là không đúng. Và C.Mác đã
sớm nhận ra điều đó.
3. Khái niệm "chuyên chính vô sản" trong phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế đã chuyển đổi và mở rộng nội dung của nó ra. Cùng với thời gian và diễn biến
rất phức tạp, việc nhận cho ra đâu là tư tưởng lý luận của chính C.Mác là điều hết
sức cần thiết vì nó tránh được những ngộ nhận sai lầm.
Với Lênin, ông từng xác định: "Lịch sử thế giới nhất định sẽ đi tới chuyên chính
vô sán, nhưng tuyệt nhiên sẽ không phải đi theo những con đường bằng phẳng,
giản đơn, thắng tắp”. Cho nên, với ông, chuyên chính vô sản là nội dung chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, dân quyền, dân sinh, dân
chủ cửa cả thời đại quá độ, mở rộng ra trên căn bản tư tưởng C.Mác, là đấu tranh
hiện đại.
Sai lầm và nguy hiểm nhất là chủ rương của J.Stalin khẳng định rằng, sau khi Liên
Xô đã kết thúc thời kỳ quá độ, xây dựng thành công CHXH năm 1936, thì từ đó về
sau, đấu tranh giai cấp trong xã hội Xô Viết ngày càng gay gắt. Những cuộc trấn
áp và khủng bố rất tàn khốc đã diễn ra sau năm 1936.
Liên bang Xô Viết dưới thời J.Stalin đã có những thành tựu vĩ đại, những chiến
công hiển hách trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, những bước dẫn đầu rất
ngoạn mục về xây dựng kinh tế, phát triển khoa học và công nghệ, sáng tạo văn
hoá, văn học nghệ thuật, nâng cao phúc lợi xã hội cho nhân dân, giúp đỡ rất nhiều
và có hiệu quả cho nhiều nước, nhiều dân tộc, có cống hiến lớn lao cho cả loài
người.
Tuy nhiên, chuyên chính vô sản thời J.Stalin đã phạm những sai lầm và cả những
tội ác. Đã từng có đến 70% ủy viên và ủy viên dụ khuyết BCHTW của Đảng được
bầu tại Đại hội năm 1934 bị bắt, bị bỏ tù và bắn chết, tức là 98 trên tổng số 139 ủy
viên! Đã từng có những sự cưỡng bức nặng nề và cá những sự chuyên chính tàn
bạo với công dân, nông dân, đặc biệt là đối với trí thức. Nhiều nhà khoa học lỗi lạc
bị vô hiệu hoá, thậm chí bị tù đày, bị thủ tiêu, nhiều ngành khoa học có ý nghĩa
lớn đối với sự phát triển của đất nước và con người như xã hội học, tâm lý học,
điều khiển học, di truyền học bị xem là những "khoa học tư sản", đồng nghĩa với
việc cấm hoạt động, xây dựng, phát triển. Đây sẽ là lý do cơ bản khiến cho nền
khoa học vốn một thời ở trình độ cao của thế giới dần dần trở thành lạc hậu, không
bắt kịp với sự phát triển chung của loài người. Hệ lụy nặng nề nhất là sự bóp nghẹt
tự do và dân chủ khiến cho đời sống tinh thần của xã hội lâm vào khủng hoăng
nặng nề.
Sinh thời Stalin, rồi sau J.Stalin cho đến ngày Liên Xô sụp đổ, nguyên nhân suy
thoái dần từ bên trong, tạo thuận lợi cho lực lượng thủ địch bên ngoài, dẫn đến tan
rã không phải là do không nắm vững “chuyên chính vô sản", mà là đã thực hiện
chuyên chính vô sản một cách cực kỳ sai lầm. Ngay cả thời kỳ hàng chục năm khi
Liên Xô bỏ hẳn không dùng cụm từ "chuyên chính vô sản" và tuyên bố không thi
hành "chuyên chính vô sản " nữa, thì những hệ lụy của mô hình J.Stalin tiếp diễn
cả lý thuyết và thực tiễn "chuyên chính vô sản" kiểu "Stalinnit".
5. Thật oái oăm, khái niệm "chuyên chính vô sản" mà một thời được tiếp thu và
vận dụng ở một số nước XHCN, trong đó có nước ta, lại rơi vào đúng cái nội dung
kiểu "Stalinnit" ấy!
Ở ta, vấn đề "chuyên chính vô sản" quả thật đã từng giữ vị tri "then chốt” trong tư
duy của Đảng cầm quyền. Những ngộ nhận về nội dung của "chuyên chính vô
sản” theo quan điềm Stalin đã đầy tới những tai họa quá nặng nề có lẽ cũng không
cần phái nói nhiều ở đây. Cho đến nay, tuy khái niệm đã chính thức bị đưa ra khỏi
những đoạn nói về đường lối chung trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt
Nam, những hệ lụy của nô thì vẫn len lỏi, gây ảnh hưởng trong cách hành xử của
bộ máy chuyên chính như đã nói ở trên. Cũng không ít trường hợp, “dẫu lìa ngỏ ý
còn vuông tơ lòng trong những người đã có sự gắn kết qủa sâu với vấn đề vốn bị
ngộ nhận là then chốt nhất của học thuyết Mác.
Khắc phục cho được hệ lụy này xem ra còn phải có một cố gắng lâu dài và hết sức
nhẫn nại. Vì rằng, như Lênin đã từng cảnh báo: "Đối với một người cách mạng
chân chính thì mối nguy hiểm lớn nhất, thậm chí có thể là mối nguy hiểm duy
nhất, là phóng đại tinh thần cách mạng, là h am những giới hạn và những điều kiện
của một sự vận dụng có kết quá và thóa đáng nhữngphươngpháp cách mạng ". Cái
lối "phóng đại" này, mà lại là "phóng đại tinh thần cách mạng” xem ra không chỉ
có ở nước Nga thời Lênin! Nó được vận dụng rất phổ biến trong nhiều quốc gia
mà nước ta cũng không thoát khỏi cái vòng “kim cô" oan nghiệt đó. Đặc biệt nguy
hại là ở những nơi mà người ta cố dung tục hóa, thô thiển hóa học thuyết của
C.Mác. Rõ ràng là "phóng đại tinh thần cách mạng” không phải để cách mạng, mà
thực chất là để thoái lui, hoặc để lao vào những phiêu lưu cách mạng không có
chút nội dung cách mạng nào. Những ví dụ dễ thấy trên đất nước ta là những lúc
chịu ảnh hưởng nặng nề hoặc bị áp đặt bởi sự “phóng đại tinh thần cách mạng” có
chủ ý để cố tìm cho ra “kẻ thù giai cấp” theo đúng "chuẩn" đã được đề ra một cách
võ đoán, cực kỳ chủ quan cho đủ "tỷ lệ" mà các đội cải cách ruộng đất và chỉnh
đốn tổ chức phải thực hiện, dẫn đến chuyện "tố điêu”, "tố sai" mà hậu quả của nó
thì chúng ta đã biết.
định giá tri thặng dư là hòn đá tảng của học thuyết Mác là những ý kiến của những
người học trò của C. Mác chứ C.Mác không hề khẳng định như vậy. Ở đây có
những lý do, những động cơ rất khác nhau của sự khẳng định ấy mà trong một bài
viết ngắn chưa thể nói kỹ.
Chính vì thế, ý tưởng về "làm chủ tập thể” là một cố gắng tìm tòi, bứt phá nhằm
vượt ra khỏi mô hình "chuyên chính vô sản” trên hành trình trở lại với tư tưởng Hồ
Chí Minh về “Nhà nước pháp quyền”.