Lý thuyết thiết kế cơ chế - Pdf 17

Lý thuyết thiết kế cơ chế

“Lý thuyết thiết kế cơ chế” (mechanism design theory) đã đem lại
giải Nobel kinh tế năm 2007 cho 3 giáo sư người Mỹ.Đây là bài
viết của tác giả Trần Hữu Dũng trình bày cho công chúng một
cách đơn giản dễ hiểu, về một lý thuyết phức tạp khó hiểu này.

Cơ cấu là một “trò chơi”

Nhớ lại rằng theo Adam Smith thì thị trường sẽ đem người mua
và người bán lại với nhau. Vô số người bán sẽ gặp vô số người
mua, “bàn tay vô hình” sẽ “hướng dẫn” mọi giao dịch, người bán
sẽ bán hàng của họ ở giá cao nhất mà người mua chấp thuận, ai
nấy đều thoả mãn, tài nguyên sẽ được phân bố một cách hữu
hiệu nhất.

Nhưng thực tế hầu như chẳng bao giờ được như thế. Đành
rằng thị trường rất là hữu hiệu, song chúng chỉ vận hành tối hảo
trong những điều kiện vô cùng khắt khe mà thực tế ít khi (nếu có
khi nào!) hội đủ. Chẳng hạn như: người mua và người bán lắm
lúc không tìm ra nhau, hoặc một người mua tìm cách đầu cơ,
hoặc người bán chính là nhà nước (mà mục tiêu không (chỉ) là lợi
nhuận)

Rồi, nếu thông tin mà người mua hoặc người bán là “riêng tư” -
nghĩa là chỉ người ấy biết - ví dụ như chất lượng của món hàng,
hoặc mức giá tối đa mà họ có thể chấp nhận (nếu là người mua)
hoặc tối thiểu (nếu là người bán), thì thị trường có thể “thất bại”.
Thậm chí buôn bán không thể xảy ra.

Ví dụ: công ty nọ có thể nói rằng họ chỉ chấp thuận cung cấp một

Hurwicz. Nó có thể ám chỉ mọi thể chế và “luật chơi” chi phối các
sinh hoạt kinh tế, từ bộ kế hoạch trong một nền kinh tế chỉ huy,
đến tổ chức nội bộ một công ty, đến buôn bán trên thị trường

Cơ chế tìm điểm cân bằng tối hảo

Năm 1972, Leonid Hurwicz đưa vào khoa học kinh tế một ý niệm
quan trọng, đó là “sự tương thích động lực” (incentive
compatibility). Theo định nghĩa của ông, một tiến trình sẽ có tính
“tương thích động lực” khi tất cả những người tham dự tiến trình
ấy đạt được mức thoả mãn cao nhất nếu họ thành thực tiết lộ
những thông tin tư riêng của họ.

Ý niệm này, và nhất là cách nó được “toán hoá” một cách giản dị
và cực kỳ “trang nhã” trong tay Hurwicz, là nền móng của toàn bộ
lý thuyết thiết kế cơ chế.

Định vị thuyết này trong dòng tiến hoá của tư tưởng kinh tế thì có
thể nói rằng Hurwicz (một người gốc Nga, sinh năm 1917) bị ảnh
hưởng của Friedrich Hayek (Nobel 1974) lẫn đối thủ của Hayek là
Oskar Lange về tính khả thi của kế hoạch hoá tập trung.

Oskar Lange lý luận rằng những công cụ thị trường có thể được
dùng trong kế hoạch hoá tập trung. Còn Hayek thì cho rằng việc
ấy là ảo tưởng, vì kế hoạch hoá kiểu đó sẽ cần một số lượng
thông tin khổng lồ - hầu như vô tận.

Hơn nữa, thông tin, chính chúng, sẽ tiêu tốn tài nguyên. Có thể
xem công trình của Hurwicz như tiếp nối nỗ lực của Hayek để
chứng minh rằng thị trường là hữu hiệu hơn kế hoạch nhà nước

“vấn đề” - tức là loại khách hàng mà các công ty bảo hiểm không
muốn có - mà chỉ những người này biết. Nếu công ty bảo hiểm
tăng giá bảo hiểm để bù lỗ thì lại chỉ những người có sức khoẻ
kém hơn nữa mới mua, công ty lại càng thêm lỗ lã

Đóng góp nổi bật của Myerson vào thuyết thiết lập cơ chế là về
cái gọi là “nguyên tắc biểu lộ” (revelation principle), dùng toán học
để đơn giản hoá cách tính những “luật chơi” hữu hiệu nhất để
khuyến dụ các cá nhân bộc lộ những thông tin riêng tư của mỗi
người. Bài “Optimal auction design” (thiết kế đấu giá tối hảo) của
Myerson là một “hạt giống” kinh điển cho những tiến bộ sau này
trong lý thuyết ấy.

“Nguyên tắc biểu lộ” của Myerson là một bước tiến lớn cho
những phân tích về cơ chế kinh tế. Song, còn rắc rối: trong nhiều
trường hợp, một cơ chế sẽ đưa đến, không chỉ một “cân bằng”
(equilibrium) duy nhất, nhưng nhiều “cân bằng”, có cái “thật tốt”,
có cái “không tốt bằng”. Câu hỏi sẽ là: có một cơ chế nào mà mọi
cân bằng của nó đều là tối hảo? Maskin (1977) là người đầu tiên
phác thảo đáp án cho bài toán này.

Khám phá của Eric Maskin là cốt lõi của “thuyết thực thi”
(implementation theory). Cụ thể, thuyết này soi sáng vấn đề:
trong trường hợp nào thì có thể thiết kế một cơ chế mà hậu quả
chỉ gồm những “điểm cân bằng” thoả mãn tính “tương thích động
lực” của Hurwicz, nghĩa là tối hảo.

Nhiều ứng dụng

Nhìn lại, Hurwicz, Maskin, và Myerson (và những người đi sau

mà các công ty thuê người làm công, bởi những người này
(không là sở hữu chủ của công ty) sẽ dễ cộng tác với nhau hơn.

Đối với những người “quá tin” vào “thị trường”, lý thuyết này là
cần thiết như một hồi chuông cảnh tỉnh. Đành rằng thị trường là
một thể chế phân bố nguồn lực xã hội một cách “khá tốt”, hầu
như không bao giờ nó có thể vận hành tối hảo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status