TÀI LIỆU PHỤC VỤ GIẢNG DẠY
PHẦN ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU
Đặng Thế Vĩnh
THCS Vĩnh Hậu – Hòa bình – Bạc liêu
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán
đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Việt Nam. Tỉnh có diện tích đứng hàng thứ 8
và dân số đứng hàng thứ 12 trong khu vực. Tỉnh được thành lập ngày 20-12-1899,
chính thức hoạt động từ ngày 01-01-1900. Năm 1956, tỉnh Bạc Liêu bị giải thể nhập
vào tỉnh Ba Xuyên. Năm 1964, tỉnh Bạc Liêu được tái lập. Sau 30-04-1975, tỉnh Bạc
Liêu lại bị giải thể, nhập vào tỉnh Minh Hải. Ngày 06-11-1996, tỉnh Bạc Liêu được tái
lập, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01-01-1997.
Trong lịch sử, Bạc Liêu từng có một vị trí quan trọng trong chiến lược khai
thác và xây dựng vùng Đồng bằng Sông Cửu Long của người Pháp, từng được
người Pháp lên kế hoạch xây dựng thành trung tâm hành chính của miền Tây. Vì
thế, Pháp đầu tư nhiều tiền của xây cất dinh thự và công sở tại đây. Trải qua những
biến cố lịch sử, Bạc Liêu tuy chưa trở thành một đô thị lớn như dự tính lúc đầu của
ngưười Pháp, nhưng những ngôi nhà này đã để lại dấu ấn về một thời kỳ đã qua
trong lịch sử. Hiện nay, ở Bạc Liêu vẫn còn khá nhiều dinh thự, biệt thự được xây
cất theo lối kiến trúc phương Tây như: Tòa Hành chánh, Tòa án, Dinh bố (nhà quan
chủ tỉnh), nhà Huyện Sổn, nhà Hội đồng Trạch, nhà Hội đồng Điều, nhà ông Cao
Triều Phát toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, cẩm thạch lát nền,
gạch đều được chuyên chở từ Pháp qua.
Bạc Liêu cũng nổi tiếng là vùng đất có nhiều người Hoa sinh sống qua câu ca
dao: "Bạc Liêu là xứ cơ cầu, dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu". Người Hoa
sống chan hoà, gắn bó với cộng đồng người Việt, người Khmer. Người Bạc Liêu có
phong cách phóng khoáng, đặc trưng của vùng Nam Bộ. Nói đến Bạc Liêu, người
ta thường liên tưởng đến những giai thoại về Công tử Bạc Liêu lừng danh một thuở
giàu có và chịu chơi. Vùng đất này còn gắn liền với tên tuổi của nhạc sĩ Cao Văn
Lầu và bài Dạ cổ hoài lang - đặt nền móng cho sự phát triển của nền cổ nhạc Nam
Bộ. Về kinh tế, nếu Cà Mau nổi danh với nghề dệt chiếu thì Bạc Liêu cũng được
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
m. Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội đồng, từ Đông Bắc xuống Tây
Nam. Độ dốc trung bình toàn tỉnh từ 1 - 1,5 cm/km, chia thành hai khu vực rõ rệt:
- Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có địa hình với những giồng cát biển không liên tục,
cao trung bình từ 0,4 - 0,8 m, hướng nghiêng, thấp dần vào nội địa.
- Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A là vùng trũng của tỉnh, cao trung bình từ 0,2 - 0,3 m
so với mực nước biển.
Kiểu địa hình này thuận lợi cho việc đưa nước biển vào nội đồng phục vụ nuôi trồng
thủy sản, song cũng tạo thành các vùng trũng cục bộ, đặc biệt là ở các huyện
Phước Long, Hồng Dân và Giá Rai.
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
2
Bờ biển Bạc Liêu có những bãi bồi rộng, hằng năm tiến dần ra biển với hàng
nghìn ha rừng phòng hộ. Đây là môi trường thuận lợi để nuôi trồng các loài thủy
sản có giá trị kinh tế cao như: nghêu, sò. Thềm lục địa của tỉnh có tiềm năng dầu và
khí tự nhiên.
Những năm gần đây, Bạc Liêu đang đối mặt với nguy cơ sạt lở đất ven sông.
Theo kết quả khảo sát năm 2008 của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm
cứu nạn Bạc Liêu, toàn tỉnh có gần 15 km bờ sông có nguy cơ sạt lở cao, đe dọa
cuộc sống của trên 3.000 hộ dân. Các huyện Giá Rai, Đông Hải là điểm “nóng” về
tình hình sạt lở gây hậu quả nghiêm trọng. Các điểm “đen” sạt lở chủ yếu nằm dọc
các cửa sông tiếp giáp với kinh xáng Cà Mau - Bạc Liêu, gồm khu vực hạ lưu cống
Nọc Nạng (thị trấn Giá Rai), khu vực cầu Hộ Phòng (thị trấn Hộ Phòng), khu vực
cầu Láng Trâm, cầu Nhàn Dân, cầu Cây Gừa và cầu Sư Son (xã Tân Phong) Khu
vực 4, thị trấn Gành Hào (huyện Đông Hải) cũng có hàng trăm hộ dân sống trong
vùng nguy cơ sạt lở cao. Khu vực này cứ mỗi năm đất lún xuống tự nhiên ít nhất
0,5 m. Nhiều hộ phải bỏ ra số tiền không nhỏ để bổ sung nền đất phía dưới nhà sàn
và gia cố nhà cửa. Các huyện Phước Long và Hồng Dân cũng có nhiều điểm sạt lở.
Theo thống kê, hai huyện có 372 hộ dân đang sinh sống trong khu vực tiềm ẩn
nguy cơ mất trắng tài sản với tổng chiều dài các đoạn bờ sông cần báo động gần
cho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh là nước mặt và nước ngầm.
- Nước mặt: tỉnh có các con kênh dẫn nước ngọt từ sông Hậu về, cung cấp chủ yếu
cho sinh hoạt và sản xuất ở khu vực phía Bắc quốc lộ 1A.
- Nước ngầm: thị xã Bạc Liêu và các huyện phía Nam quốc lộ 1A chủ yếu sử dụng
nước ngầm trong sinh hoạt và sản xuất. Theo đánh giá của các nhà khoa học, Bạc
Liêu có trữ lượng nước ngầm khá lớn. Hiện tại, tỉnh đang khai thác sử dụng ở độ
sâu từ 80 - 100 m. Đây là tầng nước dễ bị nhiễm phèn, cần được quan tâm bảo vệ.
Chế độ thủy văn của tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều biển Đông và
một phần bán nhật triểu biển Tây. Do đó, phần phía Bắc quốc lộ 1A có điều kiện
nuôi trồng thủy sản, làm muối, phá triển rừng ngập mặn.
Hiện nay, nguồn nước mặt và nước ngầm của Bạc Liêu đang có nguy cơ bị ô
nhiễm do nuôi trồng thủy sản quá mức và sử dụng hoá chất trong sản xuất nông
nghiệp. Tỉnh cần có quy hoạch sử dụng hợp lý các nguồn nước, hình thành các hệ
thống cấp thoát nước, tránh để nước thải chưa xử lý lan ra gây ô nhiễm môi
trường.
Tài nguyên thiên nhiên
+ Đất đai
Các nhóm đất
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
4
Bạc Liêu có diện tích tự nhiên không lớn, khoảng 258.410 ha, đứng thứ 8 ở
khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Hằng năm, một phần lớn diện tích được bồi
đắp lấn ra biển và một phần nhỏ diện tích bị sạt lở. Khu vực từ Gò Cát - Đông Hải
đến giáp ranh huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng được bồi đắp nhiều nhất. Tốc độ
lấn biển có năm lên tới 60 - 80 m. Hiện nay, vùng ven biển Bạc Liêu đã hình thành
một bãi bồi rộng 1 - 2 km, dài khoảng 40 km từ thị xã Bạc Liêu đến Gò Cát.
Đất đai chia thành các nhóm chính sau:
- Nhóm đất mặn: chiếm khoảng 38,44% diện tích.
- Nhóm đất phèn: chiếm khoảng 51,78% diện tích.
dùng
Đất ở Diện
tích
Tỷ lệ
%
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
5
muối
(nghìn
ha)
Diện
tích
(nghìn
ha)
Tỷ
lệ
%
Diện
tích
(nghìn
ha)
Tỷ lệ
%
Diện
tích
(nghìn
ha)
Tỷ lệ
Đất chuyên
dùng
Đất ở
Diện tích
(nghìn
ha)
Tỷ lệ
%
Diện tích
(nghìn
ha)
Tỷ lệ
%
Diện tích
(nghìn
ha)
Tỷ lệ
%
Diện
tích
(nghìn
ha)
Tỷ lệ
%
Cả nước 33.121,2 9.436,2 28,5 14.514,2 43,8 1.433,5 4,3 611,9 1,8
Đồng bằng
Sông Cửu
Long
4.060,4 2.567,3 63,2 349,0 8,6 224,9 5,5 109,3 2,7
Bạc Liêu 258,4 98,2 38,0 4,8 1,9 10,9 4,2 4,4 1,7
Thế mạnh du lịch của Bạc Liêu là du lịch sinh thái, du lịch biển với những
cảnh quan thiên nhiên độc đáo như vườn chim, vườn nhãn… kết hợp với những di
tích lịch sử - văn hoá, kiến trúc cổ. Bạc Liêu có 27 di tích lịch sử văn hoá đã được
xếp hạng cấp quốc gia, nhiều danh thắng rất hấp dẫn du khách. Hiện tại, ở trung
tâm thị xã Bạc Liêu còn khoảng gần 30 căn biệt thự lớn nhỏ kiểu Tây nằm tập trung
ở hai bên bờ sông. Đó là cụm nhà của gia tộc Trần Trinh, tòa hành chánh, tòa án,
dinh tham biện, nhà Huyện Sổn, nhà Hội đồng Điều, nhà Cao Triều Phát Toàn bộ
vật liệu xây dựng những ngôi nhà này như thép đúc, cửa, cẩm thạch lát nền đều
được chở từ Pháp sang. Lối kiến trúc cũng mang đậm phong cách phương Tây
trong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Đa số các ngôi nhà đều có nhiều
cửa sổ, khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, rợp bóng cây xanh, phần trước đối xứng
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
7
nhau, mái lợp ngói. Mái ngói hình bát giác, các xà nối ngang như ở chùa. Các ngôi
nhà có nét đường bệ, nền đúc cao, quét vôi vàng. Bên trong nhà thường là những
hành lang, vòm trần cao vút. Vì vậy, quần thể kiến trúc nhà Tây ở Bạc Liêu mang
một sắc thái riêng, khác hẳn những ngôi biệt thự Pháp ở Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt…
Với những tìm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, Bạc Liêu có
điều kiện để phát triển du lịch. Doanh thu ngành du lịch trong những năm qua tăng
bình quân 4,7%/năm. Số khách đến địa bàn tăng trung bình 9,6%/năm, mức lưu trú
đạt bình quân 1,3 ngày đêm/lượt khách. Theo số liệu thống kê của tỉnh, năm 2007,
Bạc Liêu đón được 220.000 lượt khách và doanh thu đạt 240 tỷ đồng. Năm 2008,
doanh thu đạt 300 tỷ đồng, tăng 16,7% và số lượt khách đến Bạc Liêu là 280.000
tăng 27,2% so với năm 2007, trong đó khách quốc tế khoảng 8.000 và 85.000 lượt
khách sử dụng dịch vụ lưu trú.
Kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 là: Đẩy mạnh công
tác xúc tiến, quảng bá du lịch; xây dựng tour, tuyến hợp lý; đầu tư cơ sở hạ tầng
cho các dự án khu, điểm du lịch trọng điểm để du lịch Bạc Liêu tạo đà bứt phá. Tỉnh
đã tập trung đầu tư xây dựng Khu du lịch Nhà Mát với quy mô gần 100 ha ngay tại
Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Phan Quốc Hưng.
- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với
nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh
Bạc Liêu hiện nay là ông Nguyễn Văn Út.
- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề
hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và
các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ
tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Võ Anh Dũng. Ông Dũng được bầu làm Chủ tịch
UBND tỉnh Bạc Liêu tại kỳ họp bất thường ngày 06-08-2009 của HĐND tỉnh khoá
VII thay thế cho ông Cao Anh Lộc
Dân cư quy mô
Bạc Liêu là tỉnh có quy mô dân số nhỏ, đứng thứ 12 trong số 13 tỉnh thành vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, dân số tỉnh Bạc
Liêu năm 2008 là 829.300 người, cao hơn tỉnh Hậu Giang. Dân số tăng dần qua
các năm. Theo các tài liệu cũ, vào năm 1910, dân số Bạc Liêu là 87.400 người. Sau
20 năm, vào năm 1930, dân số tỉnh là 231.000 người, tăng gấp 2,64 lần. Năm
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
9
1970, dân số Bạc Liêu là 293.200 người. Sau 30 năm, vào năm 2000, dân số tỉnh là
745.200 người, tăng gấp 2,5 lần so với năm 1970. Năm 2004, dân số Bạc Liêu là
793.500 người. Năm 2008 là 829.300 người, tăng gấp 1,045 lần năm 2004.
Bạc Liêu là tỉnh nhỏ, diện tích hẹp, dân số thấp. Theo thông tin từ Tổng cục
Thống kê, mật độ dân số của tỉnh năm 2008 là 321 người/km
2
, đứng thứ 10 ở khu
vực Đồng bằng Sông Cửu Long, cao hơn các tỉnh Long An, Kiên Giang và Cà Mau.
Dân cư Bạc Liêu phân bố không đều giữa các huyện và thị xã. Theo số liệu từ Niên
giám Thống kê năm 2004, thị xã Bạc Liêu có mật độ dân số 796 người/km
2
2009, dân số nữ của Bạc Liêu là 429.382 người, chiếm 50,15% dân số toàn tỉnh.
- Về dân tộc, trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có nhiều dân tộc cùng cư trú. Trong
đó, người Kinh chiếm 89,5% dân số, người Hoa chiếm 2,5%, người Khmer chiếm
7,9%, còn lại là các dân tộc khác. (Số liệu thống kê năm 2003).
+ Người Khmer sống rải rác ở các huyện trong tỉnh, song đông nhất là ở huyện
Vĩnh Lợi, huyện Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu. Họ sống bằng nghề nông và một ít
làm nghề nuôi trồng thủy sản. Người Khmer ở Bạc Liêu có nét văn hoá riêng rất
đặc sắc. Chùa Khmer là nơi tập trung đầy đủ các nét đẹp văn hoá của người
Khmer, bao gồm tín ngưỡng và nghệ thuật kiến trúc.
+ Người Hoa sống tập trung ở thị xã Bạc Liêu, giỏi nghề buôn bán. Đồng thời, họ
cũng đã nhen nhóm nền công nghiệp chế biến ở Bạc Liêu ngay từ buổi ban đầu.
Trong phát triển kinh tế, người Hoa luôn thể hiện tính tiên phong, mạnh dạn đầu tư
vào những ngành nghề cho lợi nhuận kinh tế cao, nhất là các ngành dịch vụ. Hoạt
động văn hoá của người Hoa cũng rất phong phú. Tinh thần đoàn kết, tương thân
tương ái trong cộng đồng người Hoa luôn được đề cao. Đó là sự tương trợ của
những người trong tộc họ, các tổ chức từ thiện, hội tương tế, với những việc làm
thiết thực như: giải quyết việc làm, giúp vốn làm kinh tế, đóng góp xây dựng nhà
tình nghĩa, tình thương, ủng hộ đồng bào bị thiên tai.
Về độ tuổi lao động, nguồn lao động của tỉnh dồi dào và thường xuyên gia
tăng do dân số trẻ. Năm 1999, số người trong độ tuổi lao động (tính từ 15 đến 59
tuổi) của tỉnh là 440.100 người, chiếm 59,8% dân số; năm 2002, con số này là
478.700 người; năm 2004, con số này là 489.700 người, chiếm 61,7% dân số toàn
tỉnh. Năm 2004, số lao động có việc làm là 401.400 người, chiếm 81,9% số người
trong độ tuổi lao động. Phần lớn lao động Bạc Liêu hoạt động trong lĩnh vực Nông -
Lâm - Ngư nghiệp, chiếm 74,6% số lao động năm 2001, trong khi đó, tỷ lệ lao động
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
11
trong ngành Công nghiệp - Xây dựng là 8,1% và ngành Thương mại - Dịch vụ là
18,4%. Những năm gần đây, cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế đã chuyển
Toàn tỉnh hiện có 64 trường Mầm non, 154 trường Tiểu học, 67 trường THCS, có
85 trường Trung học. Có trên 9.200 giáo viên từ bậc học Mầm non đến THPT. Toàn
tỉnh có 31 xã, phường, thị trấn, 7/7 huyện, thị được công nhận chuẩn quốc gia về
PCGDTHCS. Đến thời điểm này các chỉ tiêu phổ cập đúng độ tuổi và THCS đều đạt
và vượt tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục & Đào tạo qui định: 96,93% đối tượng tốt nghiệp
lớp 9 ; 81,35% đối tượng từ 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS, trẻ em 6 tuổi vào
lớp 1 đạt 99,10%, trẻ em 11-14 tuổi tốt nghiệp Tiểu học đạt 90,79%. 31/61 xã,
phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
Y tế
Năm 2004, toàn tỉnh có 68 cơ sở y tế, trong đó có 1 bệnh viện tỉnh, 6 bệnh
viện huyện, 3 phòng khám đa khoa khu vực, và 58 trạm y tế xã phường. Tổng số
giường bệnh là 1.167 giường. Toàn tỉnh có 1.307 cán bộ y tế, trong đó 435 người
có trình độ bác sĩ và trên đại học, 100% trạm y tế xã trong tỉnh đều có bác sĩ.
Năm 2007, toàn tỉnh có 71 cơ sở y tế, trong đó có 7 bệnh viện, 2 phòng khám khu
vực, 61 trạm y tế xã phường. Tổng số giường bệnh trực thuộc sở Y tế tỉnh là 1.410
giường, trong đó có 1.110 giường ở các bệnh viện, 30 giường ở các phòng khám
đa khoa, 262 giường ở các trạm y tế phường xã. Tổng số cán bộ ngành y trực
thuộc Sở Y tế là 1.709 người, trong đó có 387 bác sĩ, 780 y sĩ, 358 y tá và 184 nữ
hộ sinh.
Vấn đề khó khăn hiện nay là các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh hầu như chưa được
trang bị hệ thống xử lý rác thải. Mỗi ngày các cơ sở này thải ra hàng trăm kg chất
thải y tế dạng rắn và hàng chục khối chất thải dạng lỏng. Hầu hết đều được chôn
lấp sơ sài hoặc đổ thẳng ra sông rạch. Theo khảo sát của ngành y tế Bạc Liêu, tại
thời điểm tháng 07-2009, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàn
tỉnh đều không có hệ thống xử lý nước thải y tế đúng quy định của ngành. Tuy
nhiên, để đầu tư hệ thống xử lý khá tốn kém nên hầu hết chấp nhận phạt khi có
đoàn kiểm tra. Sở Tài nguyên - Môi trường Bạc Liêu đã nhiều lần kiểm tra, cảnh
báo. Kết quả kiểm tra cho biết: trừ Bệnh viện Đa khoa tỉnh, các cơ sở y tế còn lại
đều vi phạm.
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
vững, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng phát triển, trong đó tốc độ tăng GDP
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
14
bình quân 12%/năm, cơ cấu GDP khu vực nông nghiệp khoảng 39,5%, công
nghiệp 33%, dịch vụ 27,5%; Giá trị xuất khẩu tăng từ 151 triệu USD (năm 2005) lên
360 triệu USD (năm 2010); Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xóa đói
giảm nghèo, giải quyết việc làm Theo quy hoạch, kinh tế biển sẽ là mũi nhọn kinh
tế của Bạc Liêu trong những năm tới, dự kiến năm 2020, kinh tế biển sẽ chiếm 50%
GDP của tỉnh.
Các khu vực kinh tế
Nông - Lâm - Ngư nghiệp
Nông - Lâm - Ngư nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
Bạc Liêu. Trước năm 1997, ngành chỉ độc canh cây lúa, vì vậy chưa mang lại hiệu
quả kinh tế cao. Sau khi tái lập tỉnh, ngành đã chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang
luân canh đa cây đa con trên cùng một diện tích. Trong nội bộ ngành cũng có sự
chuyển dịch cơ cấu rõ rệt, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngư
nghiệp.
Từ năm 1997 - 2005, diện tích đất trồng lúa của Bạc Liêu giảm gần 70 ngàn ha do
chuyển dịch sang nuôi tôm, nhưng sản lượng lúa vẫn giữ mức ổn định 550 - 600
ngàn tấn/năm, vừa bảo đảm an ninh lương thực vừa xuất khẩu. Nông dân thay đổi
tập quán canh tác, không còn độc canh cây lúa nữa mà kết hợp giữa trồng lúa với
nhiều loại cây con khác mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, nhất là từ khi có sự
chuyển đổi các mô hình: lúa - cá, lúa - màu, lúa - tôm, lúa - cua, mô hình VACB
(vườn - ao - chuồng - bioga). Các mô hình này cho thu nhập từ 30 - 50 triệu
đồng/ha, trừ chi phí cũng còn lãi từ 20 - 25 triệu đồng/ha và quan trọng nhất là bảo
vệ được môi trường sinh thái bền vững so với sản xuất độc canh cây lúa hoặc độc
canh con tôm.
Hướng phát triển sắp tới Bạc Liêu sẽ tiếp tục đầu tư 600 - 630 tỷ đồng vốn từ
nội lực cho phát triển nông - lâm - ngư nghiệp, tập trung chủ yếu cho các lĩnh vực
cùng kỳ
Bảng thống kê thành tựu 10 năm trồng trọt của tỉnh Bạc Liêu
Danh
mục
Diện tích gieo trồng (ha)
Sản lượng lúa
bình quân đầu
người
(kg/người/năm)
Lúa Màu
Cây
hằng
năm
Cây lâu
năm
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
16
1997 152.00 989 159.451 13.204 708,97
2006 145.762 467 160.658 11.735 825,69
Tốc độ
tăng
trưởng
giảm giảm
giảm 116,48%Số lượng vật nuôi của tỉnh qua các năm
Danh
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
17
Ngư nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của
Bạc Liêu. Ngày 10-10-2008, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu phê duyệt đề án phát
triển kinh tế biển đến năm 2020. Theo đó đến năm 2020 kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu
sẽ phấn đấu đạt các chỉ tiêu:
- Tổng sản lượng thủy sản: 250.000 tấn, trong đó: sản lượng nuôi trồng: 130.000
tấn, sản lượng khai thác: 120.000 tấn.
- Năng lực sản xuất thủy sản: ổn định đội tàu khai thác hiện có đến năm 2010, đến
năm 2020 có 80% tàu có công suất 90 CV trở lên
- Diện tích nuôi trồng thủy sản: 62.823 ha
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ biển: 550 triệu USD
- Kinh tế biển chiếm 50% GDP của tỉnh vào năm 2020
Giai đoạn 2010, tỉnh xác định thủy sản vẫn là ngành kinh tế mũi nhọn tiếp đến là
phát triển du lịch và dịch vụ ven biển. Tỉnh sẽ ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh hệ thống
cảng cá khu neo đậu tránh trú bão; đầu tư phát triển sản xuất muối theo chiều sâu
và công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đảm bảo muối nguyên liệu
cho công nghệ; phối hợp với các Bộ, Ngành Trung ương tiến hành khảo sát, điều
tra tài nguyên biển, quy hoạch sản xuất vùng biển; đầu tư xây dựng hệ thống quan
trắc, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển.
Giai đoạn 2011 - 2020, tỉnh ưu tiên đầu tư phát triển các khu kinh tế tổng
hợp ven biển gắn với các khu đô thị; hình thành và phát triển kinh tế hàng hải gồm:
xây dựng cảng thương mại, xây dựng đội tàu vận tải biển, sửa chữa đóng tàu biển;
tổ chức sản xuất, nuôi trồng một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở vùng biển
thích hợp; tiếp tục đầu tư phát triển dịch vụ và du lịch biển; đầu tư phát triển một số
nghề biển như: năng lượng gió, năng lượng sóng, thủy triều, khai thác khoáng sản
vùng đáy biển, dầu khí.
Trên thực tế, giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh đã không ngừng gia tăng
qua các năm. Theo thông tin từ Website tỉnh, giá trị sản xuất thủy sản năm 1997 là
khẩu thủy sản giảm mạnh.
Những năm gần đây, phong trào nuôi các loại thủy sản mới ở Bạc Liêu (như
cua, cá kèo, cá bống tượng, cá chình, ba ba, cá thác lác cườm ) xuất hiện ngày
một nhiều. Ở các vùng phía Bắc tỉnh, có nguồn nước ngọt quanh năm từ sông Hậu
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
19
đổ về, nghề nuôi thủy sản trên sông phát triển khá mạnh. Mô hình nuôi cá lóc trong
mùng (màn) trên sông được nhiều người áp dụng vì vốn đầu tư ít nhưng cho hiệu
quả kinh tế cao. Người nuôi chỉ đầu tư vài triệu đồng mua cá giống, vải màn, cây
làm cọc để bao cá, sau đó thả cá, thả chà (cắm nhiều cây có nhánh khô, để làm
chỗ cho cá tránh, trú bớt ánh nắng gay gắt) và chăm sóc cá. Nuôi từ 3-3,5 tháng, cá
sẽ đạt trọng lượng từ 300 - 700 gram/con. Đây là hình thức nuôi trồng mới, đem lại
thu nhập đáng kể cho người dân.
Khai thác
Vùng biển Bạc Liêu có trữ lượng hơn 460.000 tấn thủy sản các loại, hàng
năm cho phép khai thác trên 100.000 tấn thủy sản với nhiều loại có giá trị kinh tế
cao, như tôm, cua, mực Đặc biệt, dọc theo bờ biển của tỉnh có 3 cửa sông lớn rất
thuận lợi cho việc khai thác hải sản, nhất là đánh bắt xa bờ, cung cấp nước mặn và
con giống cho nuôi trồng thủy sản. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, số lượng
tàu đánh bắt xa bờ sơ bộ năm 2008 của tỉnh là 350 chiếc, sản lượng thủy sản khai
thác sơ bộ năm 2008 là 75.421 tấn.
Chủ trương phát triển kinh tế biển và kinh tế thủy sản đã giúp hàng chục
ngàn lao động, nhất là nhân dân vùng biển có thêm việc làm, qua đó góp phần xóa
đói giảm nghèo. Đặc biệt, công trình cảng cá và Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghề cá
Gành Hào đã xây xong và đưa vào khai thác phục vụ cho ngư dân vùng biển… Các
ngành chức năng của tỉnh đang tiếp tục hoàn thành các thủ tục để xây dựng khu
neo đậu tàu thuyền, cảng cá ở Nhà Mát và Cái Cùng nhằm tạo động lực mới cho
sự phát triển kinh tế của tỉnh trong thời gian tới.
Công nghiệp - Xây dựng
chế biến thủy sản xuất khẩu, sản xuất muối và chế biến lương thực xuất khẩu. Cuối
năm 2008, trên địa bàn toàn tỉnh có 12 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh. Các
sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2008 gồm: thủy sản đông lạnh đạt 28.700 tấn,
xay xát đạt 357 ngàn tấn, sản xuất nước đá đạt 810 ngàn tấn, muối biển 91 ngàn
tấn, muối Iod 6 ngàn tấn, thức ăn chăn nuôi 3.620 tấn, nước máy thương phẩm
3.571 ngàn m
3
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
21
- Tiểu thủ công nghiệp bao gồm: đan lát, dệt chiếu, rèn, dệt may, chế biến đường,
các loại thực phẩm và gia vị thường dùng… hoạt động xen kẽ trong các khu dân cư
với quy mô nhỏ.
- Công nghiệp cơ khí: năm 2004, Bạc Liêu có 2 xí nghiệp sửa chữa ô tô - cơ khí và
400 cơ sở sản xuất tư nhân khác
- Công nghiệp dệt may là ngành sản xuất đã có từ lâu với các sản phẩm vải mùng,
khăn tắm nổi tiếng trong và ngoài tỉnh. Năm 2004, giá trị sản xuất của ngành này
đạt trên 1,3 tỷ VNĐ.
- Công nghiệp sản xuất gỗ tập trung nhiều ở huyện Hồng Dân. Năm 2004, giá trị
sản xuất ngành này đạt 82,6 tỷ VNĐ, chiếm 5% giá trị sản xuất công nghiệp của
tỉnh.
Các khu công nghiệp
Cả tỉnh Bạc Liêu hiện vẫn chưa có khu công nghiệp nào hoạt động. Khu công
nghiệp duy nhất trên địa bàn tỉnh có tên trong danh mục các khu công nghiệp cả
nước là khu công nghiệp Trà Kha, thuộc phường 8, thị xã Bạc Liêu. Khu Công
nghiệp Trà Kha được bắt đầu quy hoạch từ năm 1997, diện tích ban đầu là 123 ha.
Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm quy hoạch và quản lý, Ban quản lý dự án đã để
cho người dân tự do xây cất nhà ở trong phạm vi khu công nghiệp. Hiện nay, nếu
tiến hành giải toả thì chi phí đền bù quá lớn, vì thế giải pháp được các nhà quản lý
đưa ra là thu hẹp diện tích khu công nghiệp. Năm 2003, Chính phủ Việt Nam phê
- Cụm công nghiệp Phước Long - huyện Phước Long 50 ha.
- Cụm công nghiệp Hồng Dân 50 ha.
- Cụm công nghiệp Ninh Quới - huyện Hồng Dân 40 ha.
- Cụm công nghiệp Châu Hưng - huyện Vĩnh Lợi 50 ha với các ngành khai thác và
chế hải sản, làm muối, xay xát, chế biến lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc,
vật liệu xây dựng.
Thương mại - Dịch vụ
Năm 1997, tổng mức bán lẻ hàng hoá của tỉnh là 1.180 tỷ VNĐ. Năm 2004,
con số này là 4.350 tỷ VNĐ. Năm 2004, toàn tỉnh có 62 chợ, trong đó có 2 chợ loại I
là chợ Bạc Liêu và chợ Hộ Phòng; 11 chợ loại II là: Hoà Bình, Vĩnh Hưng, Phước
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
23
Long, Ngan Dừa, Phó Sinh, Giá Rai, Láng Tròn, Gành Hào, Xóm Lung, Nhân Dân
và 49 chợ loại III. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hoá
và dịch vụ của tỉnh sơ bộ năm 2007 là 7.154 tỷ VNĐ (giá thực tế).
Quý I năm 2009, tổng mức lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ 2.761 tỷ đồng, bằng 24%
kế hoạch, tăng 18,4% so cùng kỳ; Chỉ số giá hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng quý I
tăng 2,38% so với tháng 12/2008 và tăng 0,78% so với tháng trước; Kim ngạch
xuất khẩu ước đạt 32,4 triệu USD, bằng 15% kế hoạch, tăng gần 5% so cùng kỳ
(chủ yếu là do xuất khẩu gạo 28.320 tấn, tăng 3,5 lần so với cùng kỳ).
Văn hoá
Người Bạc Liêu có tính thẳng thắn, nhiệt tình, hiếu khách và hào phóng.
Trong nói năng, không đôi co dài dòng, không “văn hoa mỹ tự”, mà chủ yếu là tinh
thông nghĩa lý, muốn nói gì thì nói thẳng. Không gian đất rộng, người thưa nên
cũng hình thành phong cách “ăn to nói lớn”, nói năng thật rõ, thật to để cho người
nghe hiểu rõ ý mình. Những tính cách ấy được hun đúc gìn giữ từ đời này qua đời
khác. Ngày nay, tính cách Bạc Liêu vẫn được giữ gìn và phát huy.
Bạc Liêu xưa kia nổi tiếng là đất ăn chơi với nhiều giai thoại về "công tử Bạc
sơ sài, chỉ có duy nhất 63,7 km quốc lộ 1A qua tỉnh; 160,3 km đường địa phương
nhưng chỉ có 42,2 km đường có tráng nhựa. Cả tỉnh chỉ có gần 70 km đường đá,
đất; 25 km đường bê tông xi măng nhỏ hẹp, lưu thông hàng hoá chủ yếu bằng
đường sông, 11/37 xã có thể đến trung tâm bằng xe 4 bánh, nằm chủ yếu gần quốc
lộ 1A.
Sau 10 năm tái lập Bạc Liêu đã đầu tư, xây dựng sửa chữa nâng cấp 82
tuyến đường giao thông quan trọng (đường tỉnh, huyện, đô thị) với tổng chiều dài
185,535 km và 60 cầu với tổng chiều dài 2.318 m. Giao thông nông thôn phát triển
lên 600 tuyến với tổng chiều dài 2.220 km, trong đó có 1.083 km được tráng nhựa,
839 km bê tông xi măng. Tổng mức đầu tư giai đoạn 1997 - 2006 là trên 1.190 tỷ
đồng, trong đó nhân dân đóng góp trên 286 tỷ đồng. Như vậy, năm 2007, hệ thống
đường bộ địa phương có 1.781,51 km là đường kiên cố các loại, tăng 11 lần so với
năm 1997, cả tỉnh có 30/48 xã có đường cho xe ô tô đến trung tâm, 94% số ấp có
đường cho xe mô tô lưu thông được cả trong mùa lũ.
Mặc dù hạ tầng giao thông của Bạc Liêu đã phát triển khá, nhưng năng
lực vận tải đường bộ vẫn chưa tương xứng, các tuyến đường huyết mạch nối trung
Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 –
ĐặngThế Vĩnh
25