BÀI 4: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
Nguyễn Dữ
Câu 1: Tóm tắt truyện:
Vũ Thị Thiết là người con gái ở Nam Xương, có nhan sắc và đức hạnh nên Trương Sinh
đem vàng cưới nàng về làm vợ. Biết TS vốn tính đa nghi nên Vũ nương hết sức giữ gìn khuôn
phép. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì hoạ chiến tranh xảy đến. TS phải đi lính, VN ở nhà
nuôi con và mẹ già. Khi mẹ già mất, nàng lo liệu ma chay tế lễ đàng hoàng như với mẹ đẻ của
mình. Năm sau giặc tan, TS về nhà gặp lại vợ can. Khi chàng bế con, bé Đản có nói có một
người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng
bao giờ bế Đản cả. TS đã cố chấp đa nghi nên chàng đẽ đẩy vợ mình đi đến chỗ tự vấn ở bến
Hoàng Giang. Sau này chàng hiểu ra thì việc đã rồi. Riêng với VN, sau khi trẫm mình xuống
bến Hoàng Giang, sống dưới thủy cung, nàng đã gặp người cùng làng là Phan Lang. Nàng đã
đưa chiếc thoa vàng về trần gian cho chàng TS để làm tin. TS đã lập đàn giải oan nhưng VN
chỉ hiện về trong chốc lát rồi lại đi.
Câu 2: Giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ
- ông chưa rõ năm sinh năm mất, là người huyện Thanh Miện, Hải Dương.
- ông là học trò của nhà triết học, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Ông sống vào nửa đầu TK thứ XVI, đây là thờ kỳ triều đình Nhà Lê bắt đầu khủng
hoàng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra một cuộc chiến
kéo dài .
- Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo quan về sống ẩn dật ở vùng
núi Thanh Hoá, đó là cách phản kháng của những người trí thức đương thời.
- Ông để lại một sự nghiệp văn học khiêm tốn nhưng có giá trị to lớ, trong nền văn học
VN, nhất là Truyền kỳ mạn lục.
- Ông được xem là một trong những người khai phá nền văn xuôi văn học dân tộc.
Câu 3: nêu ý nghĩa nhan đề TKML và xuất xứ truyện?
* TKML là loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc, truyện truyền kỳ
thường mô phỏng những cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn được lưu truyền trong dân gian,
sau đó được nhà văn sáng tạo lại, vì vậy truyện có nhiều yếu tố kì ảo nhưng vẫn giàu tình hiện
thực và giá trị nhân đạo.
Tóm lại: Tên tác phẩm TKML có nghĩa là ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ vẫn được
không có cơ sở để TS phải nghi ngờ.
- Khi tiễn chồng đi lính, nàng đã thể hiện rõ tình cảm ân cần, đằm thắm với chồng, đặc
biệt thể hiện khát vọng hạnh phúc vô bờ của một người phụ nữ bình dị, không trông mong
vinh hiển, chỉ cầu cho chồng được bình an trở về. Cảm thông sâu sắc nỗi khổ của người
chồng khi ra đi sẽ phải chịu đựng, đồng thời thể hiện nỗi nhớ nhung khắc khoải của mình.
* Khi chồng vắng nhà (khi xa chồng)
- Là người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo năm tháng.
- Thay chồng làm và lo toan mọi việc trong gia đình: là một người mẹ hiền, người con
dâu hiếu thảo, một mình vừa nuôi con vừa tận tình chăm sóc mẹ già lúc đau yếu. Khi mẹ
chồng ốm, nàng lo thuốc thang,cầu khấn thần phật, lúc nào cũng dịu dàng, ân cần “lấy lời
ngọt ngào, không khéo để khuyên lơn”. Mẹ chồng chết, nàng lo ma chay chu đáo như với
chính cha mẹ đẻ của mình.
* Khi bị chồng nghi oan:
- Lúc đầu nàng khóc và phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng của mình. Nàng đã nói đến
thân phận của mình, đến tình nghĩa vợ chồng v à khẳng định tấm lòng thuỷ chung, trong
trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình
đang có nguy cơ tan vớ.
- Sau đó, TS vẫn cố chấp không nghe, đuổi nàng đi, nàng đã phải nói lên nỗi đau đớn,
thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử bất công, bị mắng nhiếc, không có quyền được tự
bảo vệ ngay cả khi có họ hàng, làng xóm bênh vực cho. Càng đau đớn hơn khi hạnh phúc gia
đình tan vỡ, tình yêu không còn và không thể làm lại được.
- Cuối cùng, vì quá tuyệt vọng, nàng tắm gội cho sạch rồi chạy ra bến sông Hoàng
Giang ngửa mặt lên trời mà than như một lời nguyền xin thần sông chứng giám cho nỗi oan
khuất, cho tấm lòng trong sạch của mình. Lời than ấy còn thể hiện nối thất vọng đến tột cùng,
nối đau đớn không có gì diễn tả nổi của một người phụ nữ phẩm giá nhưng đã bị đẩy đến cái
chết bức tử.
2
Câu 7: Phân tích số phận nhỏ nhoi, đầy bi kịch của VN?
- VN là một người phụ nữ đẹp người đẹp nết nhưng lại là con nhà nghèo, nàng không có
vị thế cao trong xã hội nên phải chịu những oan ức (thân phận…)
chàng Trương có cớ để phân tích thêm một bước mới.
- Từ đó Trương Sinh xử sự hồ đồ và độc đoán chàng không đủ bình tĩnh để nghe những
lời phân trần của cô, không tin cả những nhân chứng bênh vực nàng, cũng không nhất quyết
không nói ra duyên cớ cho vợ có cơ hội minh oan.
- Cuối cùng nút thắt câu chuyện càng chặt, kịch tính đạt đến cao trào, Trương Sinh trở
lên Vũ phu thô bạo mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ
Nương. Cái chết đó khác nào bức tử, một sự bức tử hợp lý tự nhiên diễn ra cho số phận Vũ
Nương qua cách dẫn dắt của Nguyễn Dữ.
- Và rồi một lần nữa “cái bóng” xuất hiện, “cái bóng” của Trương Sinh đã mở nút cho
câu chuyện, Vũ Nương được giải oan và Trương Sinh cảm thấy day dứt vì những việc mình
đã đối xử với vợ.
3
=> Cách dẫn dắt tình tiết thắt nút và mở nút rất hợp lý nó làm câu chuyện trở lên hấp
dẫn.
* Nhận xét về những lời trần thuật và lời thoại.
- Ngôi kể: kể theo ngôi thứ 3. người kể dấu mình.
- Lời thoại: có đối thoại, có độc thoại.
=> Tất cả những lời trần thuật và lời thoại ở trên đều góp phần làm nổi bật vẻ đẹp trong
tính cách của Vũ Nương.
Câu 9: Phân tích cái hay của chiếc bóng trên vách.
Chiếc bóng trên vách là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong “Chuyện người con gái
Nam Xương”. “Cái bóng” thứ nhất là của Vũ Nương vì nhớ chồng nên đã chỉ “Cái bóng” của
mình trên vách cho đứa con và nói là Cha nó. Đã là đầu mối trực tiếp dẫn đến sự nghi ngờ của
Trương Sinh với Vũ Nương, chính nó mà Trương Sinh đã hiểu lầm, đánh đập vợ mình buộc
nàng phải tìm đến cái chết.
* “Cái bóng” thứ hai là của Trương Sinh nó cũng là đầu mối giải toả sự nghi ngờ của
Trương Sinh và Vũ Nương sau khi nàng đã mất, “Cái bóng” đã làm Chàng cảm thấy day dứt
vì những hành động của mình trước kia.
* “Cái bóng” xuất hiện hai lần trong truyện, là những mắt xích quan trọng vừa làm câu
chuyện triển khai hợp lí, có thắt nút có mở nút, vừa làm câu chuyện có kịch tính hấp dẫn tự
lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho
thiếp”.
- Lời thoại 2: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất.
Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết
bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi
vọng phu kia nữa”.
- Lời thoại 3: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay
buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ
tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm Ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ.
Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm
cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.
* Ý nghĩa của từng lời thoại.
- Lời thoại 1: Thể hiện lúc đầu tiên khi bị chồng nghi oan. Đây là lời đối thoại của Vũ
Nương với chồng mình. Nàng khóc phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, cầu xin
Trương Sinh đừng nên nghi oan đến tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng chung thuỷ,
trong trắng, nghĩa là nàng hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan
vỡ.
- Lời thoại 2: Đây là lời đối thoại của Vũ Nương với chồng. Vũ Nương đã nói lên nỗi
đau đớn thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử bất công, bị mắng nhiếc và đuối đi, không
có quyền được tự bảo vệ ngay cả khi có họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng.
Hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng vun đắp đã tan vỡ, tình yêu không còn
“bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió” và cả nỗi đau khổ
chờ chồng mòn mỏi trước đây cũng còn có thể làm lại được nữa.
- Lời thoại 3: Đây là lời độc thoại, nàng nói một mình, nói với thần sông khi những lời
phân trần của mình bị chồng bỏ ngoài tai. Lời độc thoại này như một lời than, lời nguyền để
xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất và tiết sạch giá trong của nàng.
Lời thoại đã thể hiện nỗi thất vọng đến tột cùng nỗi đau cùng cực của một người phụ nữ
phẩm giá nhưng bị nghi oan nên bị đẩy tới chỗ tận cùng là cái chết thật đau thương.
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH
___ Phan Đình Hổ___
=> Như vậy bọn quan lại nhà chúa vừa tham lam vơ vét đầy túi lại được tiếng mẫn cán
trong việc nhà chúa.
Câu 4. Cảnh khu vườn trong phủ chúa ở một số câu văn hoặc một số từ ngữ.
“Trong phủ, tuỳ chỗ, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non.
Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào
như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”.
* Nhận xét về cách miêu tả trong đoạn văn.
- Cảnh thực của khu vườn nhà chúa được miêu tả rất là rộng toàn những thứ quý, thứ
hiếm trong thiên hạ và được bày vẽ tô điểm như của tự nhiên vốn sẵn có. Nhưng những âm
thanh trong vườn lại gợi ra một cảm giác ghê rợn.
- Cảnh vật ở khu vườn được tác giả tô đậm ở màu sắc dị dạng cổ quái đến bất thường, ở
âm thanh gợi cảm giác ghê rợn, báo hiệu cái mà tác giả gọi là triệu bất tường.
- Cảnh vật ấy không hề nói lên sự bình yên phồn thực mà đã gợi nên sự tan tác đau
thương, gợi những điềm gở chẳng lành, nó như báo trước sự suy vong tất yếu của một triều
đại chỉ biết lo đến chuyện ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi xương máu của dân lành.
Câu 5. Kết thúc văn bản tác giả kể lại chuyện.
6
- Tác giả đã kể lại sự việc đã từng xảy ra ngay tại gia đình mình. Bà mẹ của tác giả đã
phải sai người chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý trong vườn nhà mình để tránh gặp tai hoạ.
* Chuyện ấy có ý nghĩa.
Chi tiết chân thực này có sức mạnh rất lớn trong việc miêu tả hiện thực, đồng thời tỏ
thái độ bất bình và phê phán kín đáo mà nhà văn gửi gắm qua tác phẩm. Cách miêu tả các thứ
cây quý rất đẹp, rất được trân trọng này nhằm tạo nên sự tương phản rõ rệt với việc đành phải
chặt bỏ vì bọn hoạn quan đê tiện của nhà chúa. Cảm xúc của tác giả đó là thái độ bất bình phê
phán cũng được gửi gắm kín đáo qua đó.
Câu 6. Nhận xét về NT miêu tả trong văn bản.
- Tác giả miêu tả các sự vật sự kiện, con người một cách cụ thể tỉ mỉ và công phu: các
nội thần thì bịt khăn mặc áo đàn bà, bọn nhạc công ngồi trên gánh chuông chùa Trấn Quốc
hay dưới bóng cây bến được Cây đa cổ thụ to, cành lá rườm rà, rễ dài đến vài trượng…
- Các sự việc đưa ra đều rất cụ thể khách quan chân thực được liệt kê có khi lại miêu
BÀI 5
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
(Hồi thứ 14)
-Ngô gia văn phái-
Câu 2. Giới thiệu đôi nét về nhóm tác giả Ngô gia văn phái.
- Đây là tên gọi của một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả, Thanh Oai
nay thuộc Hà Tây.
- Nhóm tác giả này gồm 2 tác giả chính.
7
+ Ngô Thì Chí: Sinh năm 1753 - mất năm 1788 em ruột của Ngô Thì Nhậm, Ông viết 7
hồi đầu của tác phẩm “Hoàng Lê Nhất Thống Chí”.
+ Ngô Thì Du: (1772 – 1840) là Anh Em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, Ông viết 7 hồi
tiếp.
+ Còn lại 3 hồi cuối có thể do một người khác viết vào.
Câu 3. Trình bày hiểu biết về tác phẩm “Hoàng Lê Nhất Thống Chí”.
* Ý nghĩa nhan đề tác phẩm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí là ghi chép lại sự thống nhất
của vương triều nhà Lê.
* Tác phẩm.
- Tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm 17 hồi ghi chép về sự thống nhất của vương triều
nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh trả lại Bắc Hà cho vua Lê.
- Tác phẩm đã tái hiện lại một cách chân thực và sinh động, giai đoạn lịch sử đầy biến
động của xã hội phong kiến Việt Nam khoảng 30 năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế
kỷ XIX.
- Đây là giai đoạn mà các tập đoàn phong kiến thối nát cực độ sự trành giành quyền lực
của các phe phái diễn ra quyết liệt dữ dội dẫn đến cuộc nổi dậy như bão táp của nhân dân Tây
Sơn. Quang Trung - Nguyễn Huệ thống nhất đất nước đánh tan giặc xâm lược Xiêm La và
Mãn Thanh. Cơ nghiệp Tây Sơn tan rã và nhà Nguyễn ra đời.
- Đây là tác phẩm viết về những sự kiện lịch sử chịu ảnh hưởng của lối tiểu thuyết
chương hồi Trung Quốc. Tác phẩm viết bằng văn xuôi chữ Hán có quy mô lớn nhất và đạt
được những thành công xuất sắc về mặt NT.
ai cũng muốn đuổi chúng đi.
- Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu quả
cảm chống giặc ngoại xâm của ông cha ta từ ngàn xưa như Trưng Nữ Vương, Đinh Tiên
Hoàng, Lê Đại Hành.
- Quang Trung đã dự kiến việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho mọi người phủ
Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính vừa chí tình vừa nghiêm
khắc, Ông đã kêu gọi quân lính “đồng tâm hiệp lực dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ ăn
ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết ngay tức khắc, không tha một ai”.
* Quang Trung còn là người sang suốt trong việc xét đoán bề tôi, cách dùng người, điều
đó thể hiện rất rõ qua cách xử trí với các tướng sĩ tại Tam Điệp. Qua những lời nói ta thấy rõ
Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì: “Quân thua tại tướng”
nhưng Ông hiểu lòng họ, sức mình ít, không địch được quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên
đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không
bị trừng phạt mà còn được ngợi khen. Đối với Ngô Thì Nhậm, Ông đánh giá rất cao và sử
dụng như một vị quân sư “Đa mưu túc trí”. Việc Sở và Lân rút chạy, Quang Trung cũng đoán
là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã
tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao. Điều này
chứng tỏ Ông rất hiểu sở trường, sở đoảng của các tướng sĩ, khen chê đúng người, đúng
việc… khiến tất cả quân tướng nể phục.
* Quang Trung có ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng.
- Điều này thể hiện rất rõ ở chỗ, mới khởi binh đánh giặc, chưa dành được tấc đất nào,
vậy mà vua Quang Trung đã nói như đinh đóng cột là “Phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.
- Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và
kế hoạch đối với địch trong 10 năm tới, đối với địch, thường chỉ biết “thắng việc binh đao thì
không thể dứt ngay được”. Nếu mười năm năm nữa ta đã được yên ổn mà nuôi dưỡng lực
lượng, bấy giờ, nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng.
- Ông cho khao quân ăn tết sớm, và hẹn sẽ chiếm lại Thăng Long ngày mồng 7 năm tới.
Và trong thực tế sau đó, chiến thắng đã đến sớm hơn cả ngày hẹn.
* Ông là người có tài thao lược hơn người.
- Ngày 25 tháng chạp bắt đầu xuất quân ở Phú Xuân (Huế) thì ngày 29 đã tới Nghệ An.
- Cả một đội quân binh hùng tướng mạnh chỉ giễu võ dương oai thế mà khi vào trận lại
hèn nhát, đầu hàng, mệnh ai nấy chạy “đêm ngày đi gấp không dám nghỉ ngơi”.
* Số phận thảm bại của vua tôi Lê Chiêu Thống.
- Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì mưu lợi riêng của dòng
họ mà đem vận mệnh của dân tộc đặt vào tay kẻ thù.
- Bọn họ phải chịu nỗi nhục của kẻ đi cầu cạnh, vân xin không còn tư cách của bậc quân
vương.
- Kết cục đã phải chịu chung số phận của kẻ vong quốc. Lê Chiêu Thống vội vã cùng
mấy bề tôi thân tín đưa Thái Hậu ra ngoài chạy bán sống bán chết cướp cả thuyền của dân để
qua sông, luôn mấy ngày không ăn. Khi đuổi kịp được Tôn Sĩ Nghị vua tôi chỉ biết nhìn nhau
than thở oán giận chảy nước mắt.
- Sau này khi đã chạy sang đất nhà Thanh vua tôi Lê Chiêu Thống phải cạo đầu, tết tóc,
ăn mặc giống như người Mãn Thanh và cuối cùng phải gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê
người.
* Nhận xét về lối văn trần thuật.
- Đoạn văn gồm hai cuộc thác chạy đều được miêu tả rất thành công.
+ Đoạn văn miêu tả quân tướng nhà Thanh với nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả. Ngòi bút
miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm ẩn sự sung sướng hả hê của người viết. D.c: không kịp
đóng yên, sợ mất mật.
10
+ Còn khi miêu tả vua tôi Lê Chiêu Thống đoạn văn có nhịp điệu chậm hơn. Tác giả
dừng lại miêu tả tỉ mỉ những giọt nước mắt thương cảm của người thể hiện, nước mắt tủi hổ
của vua tôi Lê Chiêu Thống. Âm hưởng có phải ngậm ngùi, chua xót.
+ Các sự kiện được ghi lại một cách trung thực, cụ thể diễn biến sự kiện được miêu tả
một cách gấp gáp khẩn trương qua từng mốc thời gian. Lối văn trần thuật kể xen kẽ tả một
cách sinh động cụ thể và gây ấn tượng mạnh, nổi tiếng là “Thanh Niên Thi Tập”
- Chữ Nôm: Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh).
Câu 3. Giá trị nội dung và nghệ thuật Truyện Kiều.
* Giá trị nội dung.
- Giá trị hiện thực:
11
+ Đối với nhân vật phản diện tác giả đã dùng bút pháp hiện thực hoá: Tú Bà, Mã Giám
Sinh.
- Ngôn ngữ tinh tế, chính xác, biểu cảm. Ngôn từ kể rất đa dạng: gián tiếp, trực tiếp,
nửa trực tiếp.
- Nghệ thuật miêu tả phong phú, cốt truyện nhiều tình tiết phức tạp nhưng dễ hiểu.
Câu 4. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.
a, Chép thuộc lòng:
“Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
………
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.
b, Bố cục của đoạn trích gồm có 3 phần.
- Phần 1: (4 câu thơ đầu). gợi tả khung cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp riêng của mùa xuân.
- Phần 2: (8 câu thơ tiếp). khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.
- Phần 3: (6 câu thơ cuối). Cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về.
c, Giới thiệu vị trí đoạn trích.
- Sau khi giới thiệu cảnh gia đình Vương Viên Ngoại gợi tả chị em Thuý Kiều, tác giả
đã gợi tả cảnh ngày xuân trong tiết thanh minh chị em Kiều đi chơi xuân.
- Đoạn trích gồm 18 câu thơ từ câu thứ 39 đến câu 56 nằm ở phần đầu: Gặp gỡ và đính
ước.
d, Giá trị nội dung và Nghệ Thuật.
Truyện Kiều phản kháng quyết liệt và gay gắt các thế lực đã đè bẹp lên nhân phẩm của
người phụ nữ. Truyện Kiều còn đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ từ hình thể đến tâm hồn.
Giá trị nhân đạo.
Niềm cảm thương sâu sắc trước những đau khổ của con người. Xây dựng nhân vật nàng
Kiều với 15 năm …của mình không phải chỉ với nàng Kiều mà còn với tất cả những người
phụ nữ sống dưới xã hội phong kiến xưa kia.
“Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Lên án tố cáo những thế lực tàn bạo.
Ông đề cao, trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ và những khát vọng chân chính của nó.
“Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”
Đề cao tình yêu đôi lứa tự do thông qua 2 nhân vật Thúy Kiều và Kim Trọng.
“Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”
Giá trị nghệ thuật.
13
Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Đối với nhân vật chính diện tác giả đã dùng bút pháp hình tượng hóa Thúy Kiều, Từ
Hải.
Đối với nhân vật phản diện tác giả đã dùng bút pháp hiện thực hóa: Tú Bà, Mã Giám
Sinh.
Ngôn ngữ tinh tế, chính xác, biểu cảm. Ngôn ngữ kể chuyện rất đa dạng, gián tiếp, trực
tiếp, nửa trực tiếp.
Nghệ thuật miêu tả phong phú, cốt chuyện nhiều tình tiết phức tạp nhưng dễ hiểu.
Câu 4. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân…”
a) Chép thuộc lòng.
“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
- Phần 2 (16 câu thơ tiếp): Miêu tả vẻ đẹp của cả hai chị em.
+ 4 câu thơ đầu: Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân (vẻ đẹp hài hòa, êm đềm với xung quanh,
nó khiến mây phải thua, tuyết phải nhường, cái vẻ đẹp ấy đã dự báo một số phận êm đềm,
hạnh phúc).
+ 12 câu thơ sau: vẻ đẹp của nàng Kiều (một vẻ đẹp tuyệt đỉnh cả tài lẫn sắc, vẻ đẹp của
nàng làm cho thiên nhiên phải hờn ghen, đó kỵ, nó đã dự báo một số phận trắc trở, sóng gió)
- Phần 3 (4 câu thơ cuối): Cuộc sống của hai chị em
c. Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của Truyện Kiều - gặp gỡ và đính
ước. Sau 4 câu thơ nói về gia đình họ Vương (là một bậc trung lưu, có con trai út là Vương
Quan), tác giả dành tới 24 câu thơ để nói về Thúy Vân và Thúy Kiều.
- Đoạn trích gồm 26 câu thơ, sau phần giới thiệu về gia đình Vương Ngoại.
d. Nội dung và nghệ thuật:
* Giá trị nội dung:
- Đoạn trích đã ca ngợi vẻ đẹp và tài năng của con người và dự cảm về kiếp người tài
hoa, bạc mệnh là biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở Nguyễn Du.
- Đoạn trích là tư tưởng đề cao, trân trọng giá trị của con người về nhân phẩm, khát
vọng, ý thức về thân phận của hai nhân vật.
* Giá trị nghệ thuật:
- Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, lấy
vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ và biện pháp lý tưởng hóa nhân vật.
- Các nghệ thuật trong thơ cổ, biện pháp đòn bẩy.
- Lời nói có thể sự đoán được số phận của chị em Thuý Kiều.
Câu 7: Giải nghĩa từ
- Tố nga: Chỉ người con gái đẹp, một cái đẹp tuyệt đích khiến thiên nhiên phải thua
kém, hờn ghen.
- Mai cốt cách: Cốt cách của cây mai, mảnh dẻ, thanh tao.
- Tuyết tinh thần: Tinh thần của tuyết trắng và trong sạch, ý nói hai chị em rất thanh cao,
duyên dáng.
- Khuôn trăng đầy đặn: Gương mặt đầy đặn như mặt trăng đêm rằm. Nét ngài nở nang: ý
dành số lượng cái nhiều hơn nhân vật phụ là Vân.
Câu 10. * Tìm hình tượng nghệ thuật mang tính lẽ gợi tả vẻ đẹp Thuý Vân và Thuý
Kiều.
* Thúy Vân.
- “Khuân trăng đầy đặn”.
- “Hoa cười, ngọc thốt”.
- “Mây thua, tuyết nhường”.
*Nhận xét.
- Những hình tượng nghệ thuật ước lệ ở trên đã làm nổi bật vẻ đẹp riêng của Thúy Vân.
Những biện pháp NT so sánh ẩn dụ đã thể hiện vẻ đẹp phúc hậu của người thiếu nữ. Đó là
một người con gái có khuôn mặt đầy đặn tròn trịa như mặt trăng, lông mày sắc nét đậm như
con ngài. Miệng cười tươi như hoa, giọng trong trẻo như ngọc, mái tóc đen, óng nhẹ hơn mấy.
Làn da trắng trẻo min màng hơn tuyết. Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp phúc hậu. Vẻ đẹp ấy chỉ làm
cho thêm thua và nhường vì vậy, số phận của nàng sẽ được san sẻ và hạnh phúc.
* Hình tượng ước lệ gợi tả vẻ đẹp của Kiều.
- “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”
16
- “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.
* Nhận xét.
-Hình tượng nghệ thuật ước lệ đã gợi lên vẻ đẹp đôi mắt của Kiều trong sáng long lanh,
linh hoạt như làn nước mùa thu. Lông mày của nàng xanh, mượt như nét núi mùa xuân. Kiều
đẹp và trẻ trung tới mức hoa phải ghen tị vì sắc thắm, liễu phải hờn vì sự trẻ trung, xinh tươi.
- Như vậy ở Thuý Vân tác giả chỉ miêu tả về sắc còn ở Thuý Kiều tác giả miêu tả cả sắc
tài và tình.
- Về tài năng: tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm chuẩn mực phong kiến
gồm đủ cả: Cầm, kì, thi, hoạ. Đặc biệt tiếng đàn của nàng là sở trường năng khiếu “nghề
riêng” vượt lên trên mọi người “ăn đứt”. Cực tả cái tài của Kiều là để ngợi ca cái tâm của
nàng.
- Tình: Kiều là người có trái tim đa sầu đa cảm.
=> Như vậy, vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của sắc tài tình, chân dung Kiều là chân
tình tự do đính ước.
* Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc.
- Gia đình Kiều bị mắc oan, Thuý Kiều phải nhờ em là Thúy Vân trả nghĩa cho Kim
Trọng còn nàng thì bán mình chuộc cha. Từ đó Thúy Kiều bị bọn buôn người: Tú Bà, Mã
Giám Sinh lừa gạt và đẩy vào lầu xanh.
- Tại lầu xanh nàng được Thúc Sinh cứu vớt ra ngoài nhưng rồi Kiều bị Hoạn Thư - vợ
cả Thúc Sinh ghen tuông và đầy đoạ, Kiều chốn vào cửa phật nhưng sau vô tình lại rơi vào
lầu xanh lần thứ 2.
* Phần thứ 3: Đoàn tụ.
- Ở lầu xanh Kiều may mắn gặp được Từ Hải và được người anh hùng giúp nàng báo ân
báo oán. Do mắc lừa quan tổng đô đốc Hồ Tôn Hiến, Từ Hải quy hàng và bị giết. Thuý Kiều
bị làm nhục rồi bị ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn tủi nhục Kiều trẫm mình xuống sông
Tiền Đường tự vẫn nhưng lại được sư Giác Duyên cứu sống. Về sau Kiều được đoàn tụ với
gia đình và gặp lại Kim Trọng.
Câu 2. Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du đã có ảnh hưởng đến
việc sáng tác Truyện Kiều.
* Về thời đại .
- Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có như biến động dữ dội: Xã hội Việt Nam
có những khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên ở khắp nơi mà đỉnh
cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn được đánh đổ các tập đoàn Lê Trịnh - Nguyễn, quét sạch giặc
xiêm và giặc Mãn Thanh xâm lược. Sau đó triều đại Tây Sơn sụp đổ, chế độ phong kiến triều
Nguyễn được thiết lập.
* Gia đình.
- Quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống
về văn hoá. Cha là Nguyễn Nhiễm, đỗ Tiến Sĩ, từng giữ chức Tể Tướng Anh cùng cha khác
mẹ là Nguyễn K cũng từng làm quan to dưới triều Lê Trịnh.
* Bản thân.
- Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương
Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống