ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA MARKETING
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VÀ CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆN TƯỢNG SỐNG THỬ
TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA HỌC SINH-SINH
VIÊN
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH MÔN PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
NGHIÊN CỨU MARKETING (SPSS)
GVHD: Th.S Đỗ Trọng Danh
TP. HỒ CHÍ MINH – 2011
NHÓM 5-09DQH Page 1
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
CHƯƠNG 1. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN CÔNG
VIỆC VÀ GIỚI THIỆU MÔN SPSS
1.1. Các thành viên và phân công công việc trong nhóm
1.1.1. Các thành viên trong nhóm
• Nguyễn Thị Hà Thu
• Nguyễn Hạ Nhật Anh
• Hoàng Thị Kim Liên
• Vũ Thị Tuyết Nhung
• Nguyễn Khởi Hạ Quyên
• Cao Thị Thanh Thanh
• Đỗ Thị Thu Thảo
1.1.2. Phân công công việc trong nhóm
Trưởng nhóm Nguyễn Thị Hà Thu: quản lý, phân công công việc cho các thành viên
trong nhóm.
Thiết kế bảng khảo sát: công việc thiết kế bảng khảo sát do tất cả các thành viên trong
nhóm tham gia thảo luận. Mỗi câu hỏi đều được cân nhắc kỹ lưỡng về tính khả dụng
các biến phân tích rồi bấm OK là có kết quả ngay trên màn hình để xem xét.
1.2.2. Quản lý dữ liệu.
SPSS có một bộ soạn thảo dữ liệu tương tự như Excel, bộ soạn thảo cho phép vào các dữ
liệu và mô tả các thuộc tính của chúng. Tuy nhiên, SPSS không có những công cụ quản lý
dữ liệu thật mạnh, chỉ có các lệnh chuyển cấu trúc dữ liệu theo chiều ngang thành cấu trúc
dữ liệu theo chiều dọc và ngược lại.
Tuy nhiên, SPSS chỉ xử lý mỗi file dữ liệu ở một thời điểm và khó có thể phải thực hiện
các nhiệm vụ phân tích với nhiều file dữ liệu cùng một lúc. Các file dữ liệu có thể có tới
4096 biến và số lượng bản ghi chỉ bị giới hạn trong dung lượng của đĩa cứng.
1.2.3. Về phân tích thống kê
SPSS thực hiện những thống kê mô tả và phân tích thống kê chung nhất như hồi quy, hồi
quy Logistic, phân tích tồn tại, phân tích phương sai, phân tích nhân tố và phân tích nhiều
chiều.
Sức mạnh lớn nhất của SPSS là lĩnh vực phân tích phương sai (SPSS cho phép thực hiện
NHÓM 5-09DQH Page 3
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
nhiều loại kiểm định tác động riêng biệt) và phân tích nhiều chiều (Có thể kể đến như:
Phân tích phương sai nhiều chiểu, phân tích nhân tố, phân tích nhóm tổ, phân tích các mô
hình hỗn hợp).
Bên cạnh đó, khả năng lập các biểu bảng số liệu tổng hợp, các báo cáo thống kê trên tập số
liệu cơ sở trong SPSS là hết sức đa dạng và linh hoạt với nhiều phân tổ khác nhau và dễ
dàng thực hiện không phải lập trình. Các bảng biểu, các báo cáo được trình bày đẹp, chất
lượng cao được hiện trên cửa sổ, có thể tiếp tục hiệu chỉnh, in ra hoặc chuyển sang các tài
liệu khác.
Nhưng người sử dụng cũng dễ dàng nhận thấy, cái yếu nhất của SPSS là khả năng xử lý
đối với những vấn đề ước lượng phức tạp và do đó khó đưa ra được các ước lượng sai số
đối với các ước lượng này. Hơn nữa, SPSS cũng không hỗ trợ các công cụ phân tích dữ
liệu theo lược đồ mẫu.
1.2.4. Về vẽ đồ thị
Với SPSS chỉ cần một vài thao tác rất đơn giản người sử dụng có thể tạo ra được các đồ
• Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh.
• Trường Cao đẳng Kinh tế đối ngoại.
• Trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí Minh.
• Trường THPT Hoàng Hoa Thám.
1.5. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu là để đánh giá nhận thức của học sinh-sinh viên về hiện tượng sống thử,
khách thể nghiên cứu là học sinh-sinh viên trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, đối tượng nghiên
cứu là nhận thức của học sinh-sinh viên về vấn đề sống htử trước hôn nhân. Để cho việc
đánh giá được khả quan và chính xác hơn, nhóm đã tiến hành khảo sát trên các trường từ
Trung học phổ thông, Cao đẳng và Đại học, nhằm có được cái nhìn tổng quan hơn về hiểu
biết và kiến thức của học sinh-sinh viên thuộc các trường khác nhau, với độ tuổi và trình độ
khác nhau, mức độ nhận biết về nguyên nhân và hậu quả của việc sống thử.
NHÓM 5-09DQH Page 5
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
1.6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: tìm hiểu về thực trạng sống thử của học sinh-sinh
viên qua các thông tin trên báo chí,mạng Internet.
- Khảo sát thực tế bằng 200 mẫu khảo sát học sinh sinh viên tại các trường.
- Phương pháp thống kê: sử dụng phần mềm SPSS để thống kê và tổng hợp dữ liệu đã
khảo sát được.
- Phương pháp đánh giá tổng hợp: sau khi thu thập những thông tin từ báo chí, Internet
và những thông tin có được từ cuộc khảo sát, tất cả các thông tin sẽ được đảnh giá và
tổng hợp để có thể đưa ra những kết quả đánh giá thống nhất và có độ chính xác cao
nhất.
- Phương pháp chọn lọc: nguồn thông tin thứ cấp lấy từ báo chí và Internet là rất phong
phú và có những nguồn không chính xác, không xác định được nguồn gốc. Hiểu được
điều đó, nhóm đã xem xét và chọn lọc các thông tin có được, chỉ sử dụng những thông
tin có nguồn gốc từ những nguồn đáng tin cậy và có thể sử dụng được: vietbao…
- So sánh đối chiếu: từ những thông tin sơ cấp và thứ cấp có được, nhóm tiến hành so
sánh đối chiếu để có thể rút ra kết luận sâu sát và thực tế nhất.
o Sống như vợ chồng trước hôn nhân,không có đăng kí kết hôn
o Sống chung với nhau nhưng không quan hệ.
NHÓM 5-09DQH Page 7
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
o Chỉ quan hệ nhưng không sống chung với nhau.
o Khác
Câu 6: Bạn nghĩ như thế nào về “sống thử”:
o Tốt
o Bình thường
o Xấu
Câu 7: Bạn biết về “sống thử” qua đâu?
o Từ người lớn
o Sách báo,Internet
o Môi trường giáo dục
o Bạn bè
o Khác
Câu 8: Theo bạn, nguyên nhân dẫn tới hiện tượng “sống thử” là do đâu?
o Do sự tác động từ phía người yêu
o Do thấy bạn bè “sống thử” nên cũng muốn thử cho biết
o Do sự thiếu thốn trong tình cảm, sống thử để dễ dàng quan tâm và chia sẻ
trong cuộc sống
o Để tiết kiệm chi phí sinh hoạt
o Để tự khẳng định mình
o “Sống thử” để khỏi bị nhầm lẫn khi sống thật
o Khác
Câu 9: Đánh giá của bạn về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố dẫn đến “sống thử”?
Không ảnh hưởng Bình thường Ảnh hưởng rất lớn
Gia đình
Môi trường sống
Môi trường giáo dục
o Dùng thuốc tránh thai
o Tính ngày an toàn
o Khác
NHÓM 5-09DQH Page 9
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
Câu 16: Theo bạn, gia đình, nhà trường và xã hội cần có những biện pháp gì để giúp học sinh,
sinh viên nhận thức đúng đắn về việc “sống thử” và hạn chế tác hại của việc “ sống
thử”?
Cảm ơn bạn đã tham gia!
2.2. Phân tích và xử lí số liệu
Trước hết, nhóm xin đưa ra định nghĩa về sống thử. “Sống thử” hay còn gọi "”sống chung
trước khi cưới"” là 2 người thỏa thuận với nhau sẽ về sống chung với nhau như "vợ chồng",
họ "chung" với nhau tất cả như một cặp vợ chồng đã cưới nhau chính thức.
Bảng khảo sát của nhóm đã được thực hiện 200 mẫu được phát đến các bạn học sinh- sinh
viên các trường trung học phổ thơng, cao đẳng và đại học trong và ngồi thành phố. Giữa các
trường có độ chênh lệch về điều kiện tài chính, vị trí, trình độ học vấn, trong đó:
Số lượng khảo sát từng trường:
Bạn đang học tại:
Tổng
cộng
THPT
Nguyễn Hữu
Cảnh
THPT
Hồng Hoa
Cumulative
Percent
Valid Sống như vợ chồng
trước hôn nhân,không
có đăng kí kết hôn.
134 67.0 67.0 67.0
Sống chung với nhau
nhưng không quan hệ
20 10.0 10.0 77.0
Chỉ có quan hệ nhưng
không sống chung
25 12.5 12.5 89.5
Khác 21 10.5 10.5 100.0
Total 200 100.0 100.0
Theo bảng số liệu, ta thấy có 134 bạn chọn đáp án: “sống thử là sống như vợ chồng trước
hơn nhân, khơng có đăng kí kết hơn”, chiếm tỉ lệ 67%. Như vậy có thể thấy, các bạn học
sinh-sinh viên ngày nay có sự hiểu biết về vấn đề sống thử.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, giới trẻ khá năng động và ln chủ động tìm hiểu các thơng
tin về đời sống, xã hội xung quanh chứ khơng còn thụ động hay e dè về các vấn đề về giới
NHĨM 5-09DQH Page 11
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
tính như trước kia. Tuy nhiên nhà trường vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức về việc hỗ trợ
thêm kiến thức cho học sinh sinh viên về vấn đề giới tính, biểu hiện: chỉ có 2.5% các bạn
được hỏi trả lời rằng trường các bạn thường xun tổ chức giáo dục giới tính. Như vậy có
đến 97.5% học sinh-sinh viên khơng được cung cấp các thơng tin đúng đắn về vấn đề giới
tính và tình u-hơn-nhân-gia đình, những thơng tin giúp các bạn trong việc bảo vệ sức khỏe,
có những kiến thức kịp thời về các vấn đề nhạy cảm trong xã hội.
Trường bạn có thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo về giáo dục
giới tính không?
T ngổ
S lố ư ngợ 2 25 39 66
T l %ỉ ẽ
3.0% 37.9% 59.1% 100.0%
Đại học Mở
S lố ư ngợ 2 26 27 55
T l %ỉ ẽ
3.6% 47.3% 49.1% 100.0%
total
S lố ư ngợ 5 97 98 200
T l %ỉ ẽ 2.5% 48.5% 49.0% 100.0%
NHĨM 5-09DQH Page 12
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
Nền kinh tế ngày nay có sự hội nhập nhanh chóng với nền kinh tế thế giới, sự bùng nổ của
Cơng nghệ khoa học kỹ thuật, giới trẻ có điều kiện tiếp xúc với cơng nghệ tiên tiến, Internet từ
rất sớm. Các phương tiện sách báo là nguồn cung cấp thơng tin rất phong phú và đa dạng cho
giới trẻ.
Tuy nhiên có một vấn đề đáng lo ngại là do nguồn thơng tin q lớn, khó có thể kiểm sốt tất
cả, sẽ có những thơng tin độc hại, gây ra những hiểu biết sai lầm, lệch lạc trong nhận thức của
giới trẻ.
Bạn biết về sống thử qua đâu
T ngổ
c ng ộ
Từ người
lớn
Sách
báo,
Internet
S lố ư ngợ
9 44 18 25 6 55
T l %ỉ ẽ 16.4% 80.0% 32.7% 45.5% 10.9% 100.0%
Tổng S lố ư ngợ 34 180 83 75 22 200
NHĨM 5-09DQH Page 13
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
cộng T l %ỉ ẽ
17.0% 90.0% 41.5% 37.5% 11.0% 100.0%
Trong cuộc khào sát 98/200 bạn được khảo sát đã có người u. Suy nghĩ của các bạn về việc
sống thử cũng khá thống hơn so với những bạn chưa có người u. Trong 98 bạn đã có người
u thì đến 10,2% các bạn cho rằng việc sống thử là tốt và 55,1% cho rằng việc này mặc dù
khơng tốt nhưng cũng khơng có gì là xấu cà. Trong khi với các bạn chưa có người u chỉ
khoảng 4.9% .
Bạn nghó như thế nào về
sống thử?
T ngổ
c ngộ
Tốt
Bình
thường
Xấu
Bạn có
người
yêu
chưa?
Có
S lố ư ngợ 54 34 98
T l %ỉ ẽ
10.2% 55.1% 34.7% 100.0
Dưới 3 tháng
S lố ư ngợ 2 5 4 11
T l %ỉ ệ
18.2% 45.5% 36.4% 100.0%
Từ 3-6
Tháng
S lố ư ngợ 1 8 9
T l %ỉ ệ
11.1% 88.9% 100.0%
Từ 6 tháng
tới 1 năm
S lố ư ngợ 6 10 3 19
T l %ỉ ệ
31.6% 52.6% 15.8% 100.0%
Trên 1 năm
S lố ư ngợ 6 35 20 61
T l %ỉ ệ
9.8% 57.4% 32.8% 100.0%
T ng ổ
cơng
S lố ư ngợ 15 58 27 100
T l %ỉ ệ
15.0% 58.0% 27.0% 100.0%
Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng sống thử trong sinh viên chủ yếu là do sự thiếu
nên cũng
muốn
sống thử
cho
Do sự
thiếu
thốn
trong tình
cảm,sống
thử để dễ
dàng
Để tiết
kiệm
chi phí
sinh
hoạt
Để tự
khẳng
đònh
mình
Sống
thử để
khỏi
nhầm
lẫn khi
sống
thật
khác
Số
Nguyễ
n Hữu
Cảnh
Số
lư ngợ
24 16 16 13 16 25 18
T lỉ ệ
%
64.9% 43.2% 43.2% 35.1% 43.2% 67.6% 48.6%
THPT
Hoang
Hoa
Tham
Số
lư ngợ
24 30 22 17 22 34 9
T lỉ ệ
%
57.1% 71.4% 52.4% 40.5% 52.4% 81.0% 21.4%
C Đ
kinh tế
đối
ngoại
Số
lư ngợ
30 39 25 25 35 49 16
T lỉ ệ
%
45.5% 59.1% 37.9% 37.9% 53.0% 74.2% 24.2%
Đại
kém đó chính là do mơi trường sống với (60.5%)
Bạn
đang
học tại
Gia
đình
Môi
trường
sống
Môi
trường
giáo
dục
Văn
hóa
Xã
hội
Nhận
thức
cá
nhân
Điều
kiện
kinh
tế
THPT
Nguyễ
n Hữu
Cảnh
S ố
lư ngợ
3 36 22 23 28 42 21
T l ỉ ẽ
%
54.5% 65.5% 40.0% 41.8% 50.9% 76.4% 38.2%
Tổng
cộng
Số
lượng
108 121 85 78 101 150 64
Tỉ lệ % 54.0% 60.5% 42.5% 39.0% 50.5% 75.0% 32.0%
Hầu như các bạn đều ý thức được tác hại của việc sồng thử đến cuộc sống hiện tại và tương lai
của các bạn.
hậu quả của việc sống thử
T ngổ
c ngộ
Có thai
ngoài ý
muốn
Suy sụp
tinh
thần,mất
niềm tin
vào cuộc
sống
Học hành
sa sút
Ảnh hưởng
đến cuộc
sống hôn
ra. Hoặc để làm cho cha mẹ phải hối hận vì đã bỏ bê con cái. Lứa tuổi thanh niên là độ tuổi có
những thay đổi rất lớn về tâm lý, rất cần sự dạy dỗ và bảo ban của cha mẹ, do đó việc cha mẹ
phải nên thật sự quan tâm thương yêu con cái là một việc làm thật sự cần thiết để giúp con cái
trưởng thành hơn.
Với 38.5% các bạn cho rằng cha mẹ nên quan tâm và lắng nghe con cái nhiều hơn là một
biện pháp có thể làm giảm tỉ lệ sống thử và giảm bớt hậu quả của sống thử, thì việc cha mẹ
thường xuyên tâm sự để hiểu được những mong muốn và tình cảm của con cái, thương yêu
quan tâm chăm sóc để có thể hướng cho con cái trong gia đình lối sống lành mạnh, kịp thời
giúp đỡ cho caon cái hiểu hơn và có quyết định đúng đắn trong chuyện tình cảm sẽ làm giảm
bớt tình trạng sống thử cũng như hậu quả của nó.
3.1.2. Nhà trường
Yếu tố môi trường giáo dục cũng chiếm một phần quan trọng trong các nguyên nhân dẫn
đến sống thử khi có đến 42.5% các bạn được hỏi cho rằng yếu tố môi trường giáo dục có ảnh
hưởng rất lớn đến việc sống thử trong giới trẻ.
NHÓM 5-09DQH Page 20
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
Trong nhà trường, các buổi giáo dục giới tính cho học sinh-sinh viên mang lại rất nhiều lợi
ích cho các bạn, giúp các bạn hiểu rõ hơn về giới tính và các vấn đề tình yêu- hôn nhân- gia
đình. Các buổi giáo dục giới tính cũng là nơi các bạn có thể đưa ra những thắc mắc của mình
để có được những câu trả lời khoa học từ thầy cô, các chuyên gia.
Đáng lưu ý là khi được hỏi về các chương trình giáo dục giới tính được tổ chức trong
trường, chỉ có 2.5% các bạn được hỏi trả lời rằng trường các bạn thường xuyên tổ chức giáo
dục giới tính. Như vậy có đến 97.5% học sinh-sinh viên không được cung cấp các thông tin
đúng đắn về vấn đề giới tính và tình yêu-hôn-nhân-gia đình, những thông tin giúp các bạn
trong việc bảo vệ sức khỏe, có những kiến thức kịp thời về các vấn đề nhạy cảm trong xã hội.
Như vậy về phía nhà trường cần có những buổi hội thảo, giáo dục giới tính, tuyên truyền về
sống thử một cách kịp thời và sâu sát để giúp học sinh-sinh viên kịp thời có một cách nhìn
đúng đắn về hiện tượng sống thử, trành được việc xảy ra những hậu quả đáng tiếc.
3.1.3. Xã hội
1.1.3.1. Môi trường sống
học vấn. Hàng ngày, các bạn có điều kiện học tập và giao tiếp rất tốt. Nhưng việc bạn ý thức
được việc mình đang làm hay không là do nhân thức cá nhân ở chính bản thân các bạn.Mỗi
học sinh-sinh viên cần tự chủ động trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về các vấn đề
giới tính, tình yêu-hôn nhân gia đình, để có thể tự bảo vệ mình trước nhũng cám dỗ từ môi
trường bên ngoài.
1.1.3.4. Điều kiện kinh tế
Trong điều kiện sống xa nhà, trọ học ở những thành phố lớn, thì đối với học sinh-sinh viên,
vấn đề kinh tế là một khó khăn rất lớn. Chi phí đắt đỏ ở thành phố đã gây ra không ít trở ngại
cho các bạn, do đó các bạn phải rất cẩn thận và tiết kiệm trong chi tiêu. Với những khó khăn
về kinh tế như thế, việc “sống thử” với người yêu trước mắt có những mặt lợi ích cho các bạn
như, tiết kiệm trong các khoản chi tiêu hàng ngày: tiền nhà trọ, ăn uống, chi phí đi lại… sẽ làm
cho các bạn vì muốn tiết kiệm mà sống cùng với người yêu.
3.2. Giải pháp
3.2.1. Từ những người có trách nhiệm
Đối với cá nhân: bản thân giới trẻ cần chủ động trang bị cho mình những kiến thức cơ
bản cần thiết về vấn đề giới tính và vấn đề sống thử để tự bảo vệ bản thân trước những cám dỗ
từ môi trường, tránh được những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra. Trong chuyện tình cảm, khi
NHÓM 5-09DQH Page 22
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
bị sự tác động từ phía người yêu thì không nên vì nhân nhượng hay nghĩ đến tiết kiệm chi phí
mà chấp nhận “góp gạo thổi chung cơm, sống thử với nhau. Việc sống thử như vậy không hề
chứng tỏ được tình yêu của các bạn. Nó chỉ làm các bạn bị tổn thương cả về thể chất và tinh
thần.
Đối với gia đình: cha mẹ cần quan tâm, thương yêu và lắng nghe con cái nhiều hơn.
Nên trò chuyện với con cái về vấn đề giới tính một cách thân thiện và cới mở hơn, giúp cho
học sinh-sinh viên trang bị những kiến thức cần thiết, cảm thấy tự tin hơn trong cuộc sống.
Cha mẹ cũng nên trang bị cho mình những kiến thức về văn hóa xã hội, để có thể tư vấn cho
con cái.
Đối với nhà trường: nhà trường và gia đình cần kết hợp để có thể quản lý học sinh-
sinh viên chặt chẽ hơn. Nhà trường nên tổ chức các buổi giáo dục giới tính, nói chuyện chuyên
Nguyễn Hạ Nhật Anh
Theo t• lệ khảo sát nhận được, thì hơn một nửa học sinh, sinh viên là
sống cùng gia đình (58,5%) nhưng có lẽ vì một số lý do khách quan nào đó mà bố
mẹ không phân tích rõ vấn đề “sống thử”, hoặc do bận rộn công việc làm ăn không
có thời gian chăm sóc, chia sẻ với con cái, hay gia đình đổ vỡ con cái phải ở với cha
hoặc mẹ dẫn đến thiếu sự thốn tình cảm lẫn những tri thức cần thiết về giới tính.
NHÓM 5-09DQH Page 24
ĐỀ TÀI THỰC HÀNH SPSS
Không có người bên cạnh để tâm sự giải đáp thắc mắc, giới trẻ nói chung và sinh
viên, học sinh nói riêng sẽ tìm hiểu qua sách báo, Internet ( chiếm 90%). Sách báo
chỉ cung cấp tri thức một chiều, nên những thắc mắc nhiều khi sẽ không được giải
đáp cặn kẽ. Bên cạnh đó, những tiết sinh hoạt, giáo dục tâm lý, giới tính cho học
sinh, sinh viên ở trường lại rất hạn chế, vì thế sẽ phát sinh những hiểu biết sai lệch.
Nền kinh tế mở cửa, tạo nhiều điều kiện trao đổi buôn bán, du nhập lối sống, văn
hoá của các nước phương Tây. Những lối sống, văn hoá khiến giới trẻ Việt Nam có
một cái nhìn thoáng hơn, phần lớn họ cho rằng“sống thử” là một việc bình thường
(chiếm 50.5%). Điều này hoàn toàn đi ngược lại với văn hoá Việt. Cách nhìnhoáng
hơn trong suy nghĩ, công thêm việc không được tìm hiểu trực tiếp, sự tác động của
người yêu, kinh tế, thiếu thốn tình cảm gia đình cũng là những nhân tố quan trọng
dẫn đến hành vi sống thử của giới trẻ. Họ nhận thức được sống thử sẽ để lại những
hậuquả xấu nhưng vì thiếu kiến thức, tình cảm gia đình,…nên mới xảy ra việc sống
thử. Vìvậy, xã hội và nhà trường nên kết hợp với nhau trong việc tổ chức các buổi
tư vấn tâmlý cho hoc sinh, sinh viên lẫn cha mẹ của họ, còn gia đình nên dành nhiều
thời gian chămsóc, quan tâm hơn đến con cái, nên gọi điện quan tâm, quản lý đến
cuộc sống của con cáinhiều hơn nếu chúng sống xa nhà, gợi mở những kiến thức
giới tính cần có và phươngpháp phòng tránh cụ thể.
Qua đề tài, giúp tôi vận dụng được kiến thức đã được học về môn học SPSS, quá
trình thực hiện bảng khảo sát, xử lý số liệu. Kết hợp giữa kiến thức xã hội và học tập
tốt hơn.
Hoàng Thị Kim Liên