Thiết kế quy trình công nghệ sửa chữa thay thế kết cấu mũi tàu vỏ thép chương 3 - Pdf 17

CHƯƠNG 3:
CƠ SỞ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN SỬA
CHỮA
2.1. CÁC DẠNG HƯ HỎNG THƯỜNG GẶP CỦA TÀU VỎ
THÉP.
Thân tàu bị hư hỏng do rất nhiều nguyên nhân và biểu hiện
dưới nhiều dạng khác nhau. Các dạng hư hỏng phổ biến nhất
thường l
à: Rạn nứt, tai nạn trên biển, ăn mòn, sinh vật biển.
2.1.1. Rạn nứt.
Các loại rạn nứt thường phân ra ba nhóm chính:
- Rạn nứt toàn phần, tức là trường hợp khi thân tàu bị vết nứt
chạy suốt một mặt cắt;
- Rạn nứt từng phần, khi tất cả các chi tiết kết cấu trong một
khu vực nhất định bị nứt, nhưng vết nứt không lan tiếp;
- Rạn nứt cục bộ, khi vết nứt xảy ra tại một vị trí trên một chi
tiết kết cấu.
Hình 2.1: Rạn nứt cục bộ đường sườn chính của tàu.
Các loại rạn nứt trên thường xảy ra bởi các nguyên nhân chính
sau:
+ K
ết cấu chi tiết không đúng quy cách gây ứng suất tập trung
vượt quá giới hạn bền của vật liệu;
+ Nguyên nhân vật liệu không đúng chất lượng yêu cầu;
+ Chất lượng gia công, lắp ráp các chi tiết không tốt, ví dụ: hàn
không đúng qui trình gây ứng suất bên trong lớn, không đồng đều,
hoặc các mối hàn ngậm xỉ, rỗ trỡ thành nơi xuất phát những vết
nứt, hoặc lắp ghép gượng ép những chi tiết không đúng kích
thước…;
+ Điều kiện làm việc biến động của thân tàu làm giảm sức bền
mỏi của thân tàu;

dạng tai nạn trên biển sau đây:
- Đâm va giữa các tàu hoặc tàu đâm va vào bờ cảng gây hư
hỏng thân tàu.
-
Va đập của sóng làm hư hại phần mũi, sóng lớn đập lên
boong có th
ể làm hư hại thiết bị trên boong, các kết cấu thượng
tầng…Nhiều trường hợp tàu không đủ bền sóng lớn đã làm gãy và
gây đắm tàu.
- M
ắc cạn: hiện tượng này thường xảy ra nhất đối với những
tàu hoạt động ở vùng nước cạn, mắc cạn gây hư hại chủ yếu ở
vùng đáy tàu .
- Vấp đá ngầm : hư hại chủ yếu ở đáy tàu.
- V
ấp phải băng, chướng ngại nổi làm hư hại mũi và chân vịt.
Nguyên nhân chủ yếu của những vụ tai nạn đó là :
+ Điều kiện thời tiết xấu (sương mù, bão tố…) làm mất khả
năng nhận biết chướng ngại của người lái t
àu, làm mất khả năng
điều khiển t
àu, sóng gió lớn cũng gây hư hại tàu.
+ Tàu m
ất tính ăn lái, mất khả năng điều khiển. Nguyên nhân
chính c
ũng có thể do máy móc điều khiển bị hư hại, động cơ chính
bị hỏng, thiết bị điều khiển tàu khi lâm nại không chạy, người điều
khiển tàu kém, không thông hiểu giữa thuyền viên và nhân viên
c
ảng hoặc nhân viên tàu kéo khi ra vào cảng….

phổ biến nhất trong tất cả các kết cấu kim loại đặc biệt là tàu thuỷ.
Nó hạn chế tuổi thọ của thân tàu, giảm hiệu quả kinh tế khi sử
dụng và đôi khi còn là nguyên nhân của những vụ tai nạn lớn của
tàu trên biển.
Dựa vào cơ cấu của quá trình ăn mòn, người ta phân ra làm hai
lo
ại ăn mòn chính:
+ Ă mòn hoá học, trong đó hiện tượng ăn mòn xảy ra do những
phản ứng hoá học oxit kim loại;
+ Ă m
òn điện hoá, trong đó ăn mòn xảy ra dưới tác dụng của
môi trường chất điện phân (dung dịch muối, kiềm hoặc axit).
Về mặt đặc tính hủy hoại của hiện tượng ăn mòn, ta có thể
phân biệt :
Hình 2.2: Các dạng ăn mòn.
a) Ăn mòn đều; b) Ăn mòn không đều;
c) Ăn m
òn một thành phần hợp kim; d) Ăn mòn loang;
e) Ăn mòn lỗ chỗ; f) Ăn mòn điểm; g) Ăn mòn giữa các tinh
thể;
h) Ăn m
òn xuyên tinh thể; i) Ăn mòn dưới bề mặt.
- Ăn mòn toàn phần, tức là toàn bộ bề mặt bị han gỉ;
- Ăn mòn cục bộ, han gỉ chỉ tập trung ở một vị trí nhất định trên
chi ti
ết kết cấu. Loại ăn mòn cục bộ còn được phân ra các loại sau:
+ Ăn m
òn lỗ chỗ, loại ăn mòn này không rộng nhưng sâu lỗ
chỗ ở một vài điểm;
+ Ăn m

+ Vi
ệc tăng khả năng thẩm thấu oxy tới những phần không bị
hầu, hà bám, do đó gây tập trung han gỉ tại nơi đó;
+ Thay đổi th
ành phần hoá học của nước biển bao quanh vỏ tàu
b
ởi khí thải của động thực vật hoặc xác sinh vật chết;
+ Huỷ hoại lớp bảo vệ thân tàu.
S
ố lượng và độ lớn của các lớp hầu, hà, rong, rêu bám trên thân
tàu tùy thu
ộc trước tiên vào lớp sơn chống hầu, hà và phụ thuộc
vào điều kiện củ
a từng luồng lạch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status