CHƯƠNG 5 :
CÁC CƠ SỞ ĐỂ LỰA CHỌN PHƯƠNG
ÁN SỬA CHỮA
2.3.1. Các dạng phương án sửa chữa.
Dựa vào mức độ hư hỏng của con tàu và khả năng sửa chữa của
nhà máy mà người ta có các dạng phương án sửa chữa sau:
+ Sửa chữa rời rạc: tức là các chi tiết kết cấu bị hư hại ở những
vị trí khác nhau của con tàu thì chúng ta tiến hành sửa chữa thay
thế những phần bị hư hỏng của từng chi tiết một cách trực tiếp.
+ Sửa chữa khối: tức là các chi tiết kết cấu bị hư hỏng tập trung
tại một vùng liên tục của con tàu thì chúng ta tiến hành sửa chữa
thay thế cụm chi tiết kết cấu đó cùng một lúc bằng cách ghép
chúng lại với nhau thành phân đoạn hay tổng đoạn (còn gọi là
kh
ối). Phương án này đòi hỏi nhà máy phải có các trang thiết bị
nâng hạ vận chuyển có thể di chuyển được khối này từ vị trí này
đến vị trí khác.
+ Sửa chữa kết hợp: tức là kết hợp hai phương án sửa chữa
trên. Phần hư hỏng con tàu được sẽ được sửa chữa thay thế đối với
các kết cấu gần nhau đều bị hỏng bằng cách đóng phân đoạn, tổng
đoạn thay thế cho phần hư hỏng đó, đồng thời sửa chữa thay thế
rời rạc cho các kết cấu khác bị hư hỏng không liên tục hoặc khó
đóng phân đoạn, tổng đoạn thay thế.
2.3.2.Lựa chọn phương án.
Căn cứ vào dạng hư hỏng của con tàu, yêu cầu của chủ tàu mà
ta l
ựa chọn một trong số các phương án sửa chữa trên. Phương án
lựa chọn phải đảm bảo các yêu cầu kinh tế-kỹ thuật, thoả mãn nhu
c
ầu của khách hàng.
2.4. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUY TRINH CONG NGHỆ
ảng hạng mục sửa chữa càng sớm, càng chi tiết càng tốt.
Về phía nhà máy khi nhận bất cứ một con tàu nào vào sửa chữa
cũng phải cân đối tất cả mọi công việc trong nhà máy với khả năng
về người, máy móc, nguyên vật liệu của nhà máy. Nhà máy phải
cố gắng tối đa để kiểm tra tàu và lên hạng mục cần sửa chữa để xác
định tiến độ, giá trị, khối lượng cho hợp đồng sửa chữa.
Trong quá trình sửa chữa công tác kiểm tra phải được tiến hành
thường xuyên, nhất là đối với các bộ phận chi tiết đã được sửa
chữa xong. Việc kiểm tra đó, về phía chủ tàu, do nhân viên trong
h
ội đồng giám định sửa chữa hoặc có thể do cơ quan đăng kiểm
được uỷ quyền thực hiện; về phía xưởng, được tiến h
ành bởi bộ
phận kiểm tra chất lượng của nhà máy. Đối với những bộ phận, chi
tiết, thiết bị cần thiết phân cấp theo qui phạm nhất thiết khi nghiệm
thu phải có mặt cơ quan đăng kiểm.
Công tác nghiệm thu toàn bộ sau khi sửa chữa xong được tiến
hành theo một chương trình đã thống nhất giữa chủ tàu, nhà máy
s
ửa chữa và cơ quan đăng kiểm.
Mọi khuyết tật phát hiện trong quá trình nghiệm thu phải sửa
chữa ngay. Mỗi lần nghiệm thu phải lập đầy đủ biên bản với chữ
ký của các bên hữu quan.
2.4.2.Chuẩn bị vị trí công tác.
Trước khi đưa tàu vào vị trí sửa chữa, tùy thuộc vào mức độ và
ph
ạm vi sửa chữa mà dọn dẹp các trang thiết bị máy móc hoặc cho
thuyền viên đi phép. Tàu đưa vào sửa chữa chỉ giữ lại rất ít nhiên
li
ệu, dầu mỡ nếu có thể chỉ nên giữ tại một hầm chứa, các hầm
2.4.3.Đưa tàu vào ụ, lên triền.
Trước khi đưa tàu vào ụ, thuyền trưởng có trách nhiệm thông báo
cho xưởng tất cả các số liệu về kích thước chủ yếu của thân t
àu:
chi
ều dài L, chiều rộng B, mớn nước T, chiều cao toàn bộ, lượng
chiếm nước; về một số đặc điểm của đáy tàu; về vị trí của các kết
cấu nhô khỏi thân tàu. Đồng thời phải cung cấp cho xưởng bản vẽ
cắt dọc, cắt ngang chính giữa thân tàu. Ngoài ra phải cung cấp cả
những số liệu phân tích kiểm nghiệm thành phần khí tại các hầm
không thông khí và cho phép ti
ến hành các công tác hàn, cắt hơi
phù hợp với qui định an toàn lao động của nhà máy.
Nhà máy s
ửa chữa tàu trước khi cho tàu vào ụ có trách nhiệm
chuẩn bị đầy đủ các căn kê có thể tiến hành công tác sửa chữa một
cách thuận tiện, an toàn.