MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG CHÍNH 7
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 7
1.1. Các khái niệm công cụ 7
1.1.1. Khuyết tật 7
1.1.2. Người khuyết tật 10
1.1.3. Phụ nữ khuyết tật 10
1.1.4. Các khái niệm liên quan khác 10
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 11
1.2.1. Lý thuyết xã hội hóa và hành động xã hội của Max Weber 11
1.2.2. Lý thuyết phân tầng xã hội của Max Weber 13
1.2.3. Tháp nhu cầu của Maslow 13
1.2.4. Lý thuyết chức năng 14
1.3. Những chính sách, dịch vụ hỗ trợ hướng nghiêp cho người khuyết tật
15
1.3.1. Cơ chế chính sách dành cho người khuyết tật 15
1.3.2. Các chương trình hỗ trợ giành cho người khuyết tật 18
Chương 2: Phụ nữ khuyết tật với việc làm (nghiên cứu trường hợp chị
T.N.K) 23
2.1. Tiếp nhận thông tin và đánh giá sơ bộ 23
2.1.1. Miêu tả và tiểu sử của vấn đề 23
2.1.2. Những thông tin cơ sở về đời sống của thân chủ và tình hình cuộc
sống hiện tại 25
2.2. Phân tích đánh giá các khía cạnh vấn đề của thân chủ 33
2.3. Kế hoạch can thiệp 42
2.3.1. Xác định mục tiêu 42
2.3.2. Kế hoạch cụ thể 43
2.4. Tổ chức thực hiện và triển khai kế hoạch 45
2.5. Giám sát và đánh giá kết thúc 45
KẾT LUẬN 46
lao động là NKT cũng có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, những thách thức trong việc dạy
1
Theo Tổng cục Thống kê, 2003.
2
Kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở, 01/04/2009.
nghề và tạo việc làm cho NKT vẫn rất cần lời giải và sự quan tâm của các cấp đảng, chính
quyền, doanh nghiệp, doanh nhân và toàn xã hội.
Sau 5 năm (2006-2010) triển khai thực hiện Đề án trợ giúp NKT, cả nước đã có gần
50.000 NKT được tham gia học nghề, (trong đó nữ chiếm khoảng 50,5%); 467.965 người
tàn tật, khuyết tật được thụ hưởng các chương trình an sinh xã hội. Cả nước có hơn 400
cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho NKT. Ngoài các cơ sở đào tạo nghề của Nhà
nước, các tổ chức Phi Chính phủ, còn có rất nhiều tổ chức tự lực của NKT tham gia đào
tạo nghề, giải quyết việc làm cho NKT, qua đó giúp cho NKT có thu nhập ổn định, chủ
động được cuộc sống, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Thống kê của Bộ LĐTB &XH cho thấy, cả nước hiện chỉ có 16.000 NKT đang làm
việc tại cơ quan, doanh nghiệp, (chủ yếu là thương, bệnh binh). Đáng quan tâm là có 87%
NKT đang sống tại khu vực nông thôn với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế hết sức khó khăn,
khó có thể tự chủ trong cuộc sống của mình. Việc đào tạo nghề cho NKT vẫn gặp phải
những khó khăn: đa số NKT thường mặc cảm, tự ti về sự khuyết tật của mình, do đó họ
ngại giao tiếp với cộng đồng, không muốn dời xa gia đình để tìm việc làm, hoặc học
nghề; hầu hết gia đình NKT đều là hộ nghèo, ở nông thôn, dân trí thấp, nên các thành viên
trong gia đình cũng ít khi khuyến khích, tạo điều kiện để NKT đi học nghề
Giúp NKT cải thiện cuộc sống, được học nghề, tạo việc làm là một trong những biện
pháp góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của
Liên Hợp quốc và Công ước Quốc tế về NKT. Để phát huy vai trò, trách nhiệm của cộng
đồng, gia đình và xã hội trong việc tạo điều kiện về mọi mặt để NKT tự tin hoà nhập cộng
đồng, nhất là tìm được việc làm phù hợp với sức khoẻ ổn định cuộc sống, ngày 1/1/2011,
Luật Người khuyết tật Việt Nam đã chính thức có hiệu lực. Hy vọng, với văn bản Luật
này, NKT sẽ có thêm cơ hội, điều kiện để làm chủ cuộc sống bằng chính sức lao động của
mình.
năng lao động của NKT.
Khó khăn về việc tiếp cận dành cho NKT, bao gồm tiếp cận thông tin về các chính
sách, tiếp cận giao thông và tiếp cận cơ sở vật chất. NKT muốn tham gia vào các hoạt
động của xã hội nhưng họ lại không thể tiếp cận giao thông. Người khiếm thị không thể
tiếp cận trường lớp vì thiếu giáo trình (phần mềm đọc chữ, chữ nổi, ) và chưa có phương
pháp giảng dạy phù hợp.
Ngoài ra, khó khăn nằm trong chính nội lực của NKT khi nhiều NKT còn chưa thực
sự cố gắng để vượt qua khiếm khuyết, hoà nhập cộng đồng và khẳng định bản thân. Còn
rất nhiều NKT vẫn đang sống trong mặc cảm, chán chường và gặp những trở ngại không
nhỏ trong cuộc sống. Điều mà họ mong muốn là có được những cơ hội, điều kiện thuận
lợi để vươn lên sống ý nghĩa và có ích cho xã hội.
Từ thực tế và những lý do nêu trên, tôi quyết định tìm hiểu vấn đề: “Phụ nữ khuyết
tật với việc làm”. Cũng là NKT nhưng phụ nữ khuyết tật thường chịu nhiều thiệt thòi hơn
so với nam giới. Họ có rất ít cơ hội để học tập, làm việc, và nói lên tiếng nói của mình.
Phụ nữ khuyết tật thường được xem là người có sức khỏe kém, đối tượng cần giúp đỡ,
không có khả năng làm việc và là gánh nặng của xã hội. Vì vậy, các thành viên trong gia
đình thường “gán nhãn” cho họ là nên ở nhà làm công việc bếp núc hoặc những công
việc thêu thùa, may vá Với mục đích tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận
việc làm của phụ nữ khuyết tật, những khó khăn của phụ nữ khuyết tật khi phải lo cho
kinh tế gia đình. Tôi sẽ tiến hành nghiên cứu một trường hợp cụ thể điển hình: “Chị
T.N.K – một phụ nữ khuyết tật vận động hiện đang sống tại TP.HCM”. Chị là một trong
những ca được điển cứu của Dự án Buil (Dự án xây dựng cuộc sống hòa nhập cho Người
Khuyết tật). Đề tài được thực hiện mong muốn sẽ đi sâu tìm hiểu những thông tin xoay
quanh cuộc sống của chị, tìm hiểu những khó khăn mà chị đang gặp phải trong hiện tại.
Từ đó cùng chị xác định cách giải quyết vấn đề nhằm nâng cao khả năng tự lập, chị có
việc làm tăng thu nhập, tư tin hơn trong cuộc sống và có thể hỗ trợ chị một số dịch vụ xã
hội để chị sống tốt hơn.
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
1.1. Các khái niệm công cụ
Khiếm khuyết (ở các bộ phận cơ thể): bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một
hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý. Khiếm khuyết có thể là hậu quả của
bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh. Giảm khả năng (ở cấp độ cá
nhân): giảm hoặt mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra; hạn chế hoặc mất chức
năng (vận động, nghe, hoặc giao tiếp).
Khuyết tật: Là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức
năng nó chỉ ra sự khác biệt về hình thức của khuyết tật hoặc làm giảm khả năng hoạt động
và là nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn trong công việc, cuộc sống và học tập.
Tàn tật (ở cấp độ xã hội): những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật.
Hậu quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với
những rào cản trong môi trường xã hội, văn hóa hoặc vật chất, làm cho cá nhân này
không thể tham gia một cách bình đẳng vào cuộc sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành
một vai trò bình thường.
Để phân loại khuyết tật, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng phương pháp phân loại của
tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong đó khuyết tật được chia thành 7 loại chính như sau:
khuyết tật thể chất/vận động (chẳng hạn: cụt tay chân, tê liệt, tật bẩm sinh khác); khuyết
tật nghe/nói (giao tiếp); khuyết tật nhìn; khuyết tật về khả năng học tập (nhận thức hoặc
trí tuệ); hành vi lạ (do bệnh về tâm thần như trầm cảm và tâm thần phân biệt gây ra); động
kinh; những khuyết tật khác
Tuy nhiên việc phân loại này không được sử dụng một cách thống nhất vì các tài liệu
khác nhau định nghĩa về các loại khuyết tật cũng khác nhau.
Còn theo Pháp lệnh về Người tàn tật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam định
nghĩa người tàn tật như sau: “Không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, người tàn tật là
người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới
những dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh
hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”.
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu cũng như các văn bản pháp luật vẫn chưa
thấy được sự thống nhất các khái niệm về người khuyết tật. Trước đây, trong các văn bản
thường sử dụng cụm từ “người tàn tật”. “Tàn tật là người bất kì (nam hay nữ) không phân
biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận
quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và
hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã
hội”
3
Theo luật người khuyết tật được quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/6/2010:
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy
giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp
khó khăn”
4
1.1.3. Phụ nữ khuyết tật
Là những phụ nữ mà họ phải chịu một hoặc nhiều tổn hại và gặp phải những rào cản
xã hội. Họ bao gồm những chị/ em phụ nữ khuyết tật ở mọi lứa tuổi sinh sống ở thành thị
và nông thôn. Phụ nữ khuyết tật không được quan tâm đến những tổn hại, không nhận
được sự quan tâm từ quyền ưu tiên về giới tính cũng như nền văn hóa hay bất cứ điều gì
mà họ sống trong cộng đồng
5
.
1.1.4. Các khái niệm liên quan khác
Việclàm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm
đều được thừa nhận là việc làm.( Điều 13, Bộ Luật Lao Động Việt Nam)
3
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, 2006
4
Luật người khuyết tật, 2010
5
Trường Đại học Bán Công Tôn Đức Thắng – “ Phụ nữ khuyết tật – những trở ngại trong tình yêu hôn
nhân và gia đình”
Nghề nghiệp: Nghề là công việc chyên môn cụ thể làm theo sự phân công lao động
xã hội, nghề làm để sinh sống phục vụ xã hội được gọi là nghề nghiệp. Nghề ngiệp là một
lĩnh vực tồn tại khách quan nó luôn thay đổi và phát triển qua từng điều kiện phát triển
Theo Max Weber con người thường hành động theo 4 kiểu hành động: hành động
hợp mục đích, hành động do cảm xúc, hành động mang tính truyền thống, hành động hợp
lý. Hành động xã hội chính là kết quả của quá trình học hỏi được ở người khác để cá nhân
trưởng thành và phát triển nhân cách của mình thông qua tương tác xã hội.
Sử dụng lý thuyết này nhằm giải thích rõ hơn nữa mối quan hệ tương tác của con
người và xã hội, con người có bản chất tương tác với nhau. Con người luôn luôn là “con
người trong bối cảnh”. Hành vi của một người luôn xuất phát cả từ nhân cách của người
ấy lẫn từ trong những mối quan hệ trong cuộc sống của người ấy. Môi trường sống của
một con người bao gồm gia đình và các quan hệ liên cá nhân khác như hàng xóm, các
mạng lưới hỗ trợ xã hội, các thông số và giá trị về văn hóa. Ngoài ra còn có các quan hệ
trong nghề nghiệp, kinh tế, tôn giáo, chính trị Chúng ta tự “định cấu hình” cho bản thân
để phần nào đó đáp ứng lại với những gì được cho là quan trọng và đang hiện diện trong
thời khắc hiện tại. Vì thế, một “bộ mặt” nào đó của chúng ta sẽ có thể xuất hiện trong tình
huống này và một “bộ mặt” khác lại xuất hiện trong một tình huống khác. Đây là quan
điểm về “trường” (field) trong hành vi con người và cũng tương thích với quan điểm hệ
thống; điều đó có nghĩa là con người trong chúng ta dù là ai chăng nữa thì muốn hoàn
thiện và phát triển, phải được xã hội hóa ở các môi trường hay còn gọi là tác nhân xã hội
hóa. Điều này còn có ý nghĩa hơn đối với người khuyết tật trong việc tương tác với các
mối quan hệ xã hội, được học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng để áp dụng trong cuộc
sống, tạo cơ hội việc làm cho họ. Và ngược lại trong quá trình làm việc NKT cũng sẽ
tương tác và được xã hội hóa, thông qua đó có thể học hỏi, phát triển và hòa nhập cộng
đồng. Thân chủ tuy không làm việc tại môi trường công sở để tạo ra tương tác với mọi
người nhưng quá trình thân chủ làm kinh doanh tại nhà là một sự tương tác rất đặc biệt
bởi vì đối tượng mà chị tiếp xúc cũng rất đặc biệt, công việc chị làm tạo ra kinh tế giúp
bản thân chị tự tin hơn.
1.2.2. Lý thuyết phân tầng xã hội của Max Weber
Cấu trúc xã hội nói chung và sự phân tầng xã hội nói riêng chịu sự tác động của hai
nhóm yếu tố cơ bản: Các yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường…), và các yếu tố
phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực…).
Dựa trên các yếu tố này, ông phân biệt phân tầng xã hội thành: Phân tầng xã hội –
nhân là thành đạt
Dựa vào nội dung của tháp nhu cầu Maslow, tôi sẽ nêu lên được những nhu cầu mà
mỗi con người chúng ta cần đến để có thể duy trì cuộc sống và có một cuộc sống tốt đẹp,
ấm no, hạnh phúc, an toàn. Sau đó tôi sẽ đi sâu tìm hiểu và phân tích những nhu cầu cụ
thể của thân chủ để từ đó có thể thấy được hiện tại chị có những nhu cầu gì và đã đạt
được những nhu cầu nào.
1.2.4. Lý thuyết chức năng
Lý thuyết này gắn với các nhà Xã hội học nổi tiếng như H. Sepencer, E. Durkheim,
T. Parson Theo lối tiếp cận này thì “Xã hội được coi như là một hệ thống bao gồm nhiều
bộ phận khác nhau mỗi bộ phận giữ một vai trò nào đó trong xã hội và vận hành một cách
bình thường. Trong xã hội để thực hiện một số yêu cầu và thỏa mãn nhu cầu bình thường
nào đó trong xã hội” bởi lẽ trong các hoạt động của xã hội, hoạt động nào cũng nhằm đến
một mục tiêu nhất định của nó mục tiêu đó có thể là tích cực hay tiêu cực.
Bên cạnh đó các nhà xã hội học còn xem xã hội luôn tồn tại trong trạng thái cân
bằng có trật tự và thống nhất. Theo quan điểm của các nhà theo thuyết chức năng thì sự
bất bình đẳng và sự phân tầng xã hội như là một đặc trưng tất yếu của xã hội loài người.
Nhờ đó xã hội đảm bảo được địa vị quan trọng nhất phải do những người tài năng đảm
nhiệm một cách có ý thức, nếu trong xã hội mọi người đều như nhau đều được hưởng mọi
nhu cầu như nhau trong khi công sức lao động bỏ ra là khác nhau thì sẽ tạo ra sự ỷ lại làm
cản trở động lực phát triển của xã hội.
Phụ nữ khuyết tật cũng giống như phụ nữ không khuyết tật họ cũng cố gắng thực
hiện tốt vai trò của mình để hòa nhập vào cuộc sống đời thường và hòa nhập vào cộng
đồng xã hội. Phụ nữ khuyết tật cũng cố gắng lựa chọn công việc thích hợp cho bản thân
để duy trì nhu cầu cơ bản nhất của đời sống cá nhân, nhưng sự lựa chọn còn chịu ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố. Hơn thế nữa, theo thuyết chức năng thì phụ nữ khuyết tật chịu
nhiều thiệt thòi hơn phụ nữ không khuyết tật, việc hòa nhập vào xã hội của họ cũng khó
khăn hơn, do đó xã hội cần tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho phụ nữ khuyết tật
thực hiện những chức năng cơ bản nhất như mọi người. Vì vậy khi nghiên cứu đề tài phải
xem xét đến chức năng của gia đình, bạn bè, xã hội, phương tiện truyền thông đã tác động
đến việc hòa nhập của phụ nữ khuyết tật.
Bảo vệ quyền của NKT, trên cơ sở bình đẳng với người khác, nhằm bảo đảm điều
kiện lao động công bằng và thuận lợi, bao gồm cơ hội bình đẳng và được trả lương bình
đẳng cho những công việc như nhau, có các điều kiện làm việc an toàn và bảo đảm sức
khỏe, bao gồm việc bảo vệ khỏi bị quấy rối và được bồi thường cho nỗi bất bình.
Bảo đảm NKT có thể thực hiện quyền lao động và quyền về công đoàn, bình đẳng với
người khác.
Bảo đảm NKT tiếp cận có hiệu quả tới các chương trình chung về hướng dẫn kỹ
thuật và dạy nghề, các dịch vụ sắp xếp việc làm, chương trình đào tạo và bổ túc nghề.
Nâng cao cơ hội có việc làm và sự thăng tiến trong nghề nghiệp của NKT trong thị trường
lao động cũng như hỗ trợ trong việc tìm việc làm, nhận được việc làm, duy trì việc làm và
trở lại làm việc.
Tăng cường khả năng tự tạo việc làm, lập doanh nghiệp, phát triển các hợp tác xã
và bắt đầu tạo dựng sự nghiệp riêng.
Tuyển dụng NKT trong khu vực công.
Thúc đẩy việc làm của NKT trong khu vực tư nhân thông qua các chính sách và
biện pháp phù hợp, trong đó có thể bao gồm những chương trình hành động được phê
chuẩn, sự khuyến khích và các biện pháp khác.
Người khuyết tật là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Đã từ lâu, Đảng và
Nhà nước ta dành rất nhiều sự quan tâm cho đối tượng này, do số lượng người khuyết tật
ở nước ta còn đông, hơn 5,3 triệu người nên người khuyết tật gặp nhiều khó khăn, nhất là
trong vấn đề huy động các nguồn lực từ xã hội trợ giúp họ hoà nhập cộng đồng cũng như
phát huy tiềm năng của chính người khuyết tật. Những khó khăn mà người khuyết tật ở
Việt Nam gặp phải trong công tác huy động nguồn lực xã hội mà người khuyết tật gặp
phải là: nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế; sự thiếu đồng bộ
trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở ngại hoà nhập; huy động
sự ủng hộ từ bản thân nội lực các cơ quan tổ chức trong nước chưa nhiều; chưa biết sử
dụng có hiệu quả nguồn ủng hộ từ các tổ chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng
lực quản lý; điều kiện giao thông chưa tiếp cận; các chính sách an sinh xã hội như giáo
dục, y tế, việc làm còn chưa đi vào chiều sâu và hiệu quả; bản thân nhiều người khuyết tật
còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc cảm, tự ti….
tật và những người có quan tâm.
Mạng lưới người khuyết tật trên cả nước ngày càng được mở rộng thông qua những
kênh thông tin chính thống như báo đài, ti vi, tổ chức về người khuyết tật…
Gần đây, tiếp cận giao thông của người khuyết tật cũng đã được quan tâm, với các
chương trình như giao thông tiếp cận cho người khuyết tật, xe bus miễn phí tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh, việc đăng kiểm xe ba bánh cũng được tiến hành…
Hàng năm, ngày 18-04 được lấy là ngày người khuyết tật Việt Nam, trong ngày này
nhiều chương trình về người khuyết tật diễn ra. Cùng với đó, ngày 03-12 hàng năm, ngày
người khuyết tật quốc tế luôn là một cơ hội lớn cho tất cả người khuyết tật trên cả nước
giao lưu, chia sẻ và tìm kiếm cơ hội việc làm
Theo “Báo cáo kết quả giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về người cao tuổi,
người tàn tật, dân số”, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Hà Nội, 6 năm 2006 đã đưa ra
những nội dung sau:
Những khó khăn và tồn tại:
Một số cơ quan, ban ngành, chưa quan tâm đến người tàn tật, công tác tuyên truyền
còn dừng ở việc đưa tin chung. Một số quy định trong pháp lệnh về người tàn tật, trong
bộ luật lao động như về chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng về thời gian làm việc
và nghỉ ngơi, về tỷ lệ lao động là người tàn tật mà các Doanh nghiệp phải nhận chưa
được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện đầy đủ.
Các công trình công cộng, các hoạt động văn hóa, thể thao phục vụ người tàn tật
còn rất hạn chế. Đời sống vật chất, tinh thần của người tàn tật còn nhiều khó khăn, mức
trợ cấp xã hội còn thấp và chậm được sửa đổi. Cơ sở vật chất kỹ thuật của các Hội, hiệp
hội, cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật còn nhiều khó khăn, chưa được trợ giúp.
Nguyên nhân:
Công tác tuyên truyền về Pháp lệnh, về chủ trương chính sách của Nhà Nước đối
với Người tàn tật chưa sâu rộng, nhận thức, trách nhiệm của một bộ phận dân cư, ngành,
địa phương chưa đúng, chưa quan tâm tạo điều kiện cho người tàn tật.
Chưa có tài chính phân bổ nguồn đảm bảo xã hội để thực hiện chính sách trợ giúp người
tàn tật, ngân sách Nhà nước dành cho người tàn tật và cơ sở sản xuất của người tàn tật
thấp với quy định của pháp luật.
sách huy động mọi nguồn lực trong xã hội quan tâm dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ;
chú trọng đầu tư phát triển các cơ sở dạy nghề thu hút nhiều lao động nữ, đặc biệt là các
cơ sở dạy nghề thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Mục tiêu của Đề án:
Mục tiêu chung: tăng cường công tác đào tạo nghề cho phụ nữ là góp phần bảo đảm
quyền được học nghề và có việc làm của phụ nữ trong Luật Bình đẳng giới; tăng tỷ lệ lao
động nữ được đào tạo nghề và nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của lao động
nữ; tạo cơ hội để phụ nữ có thể tìm kiếm việc làm có thu nhập ổn định, giúp xóa đói, giảm
nghèo và nâng cao vị thế cho phụ nữ; đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục tiêu cụ thể:
70% lao động nữ trở lên được tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, pháp
luật, chính sách của Nhà nước về dạy nghề và việc làm
Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số chỉ tiêu tuyển sinh học nghề đạt 40%, trong đó tăng
nhanh tỷ lệ lao động nữ được đào tạo trung cấp nghề, cao đẳng nghề; tỷ lệ lao động nữ có
việc làm sau khi học nghề tối thiểu đạt 70%
Các cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và
các cấp Hội phụ nữ thực hiện tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm và tạo việc làm cho
khoảng 100.000 phụ nữ hàng năm, trong đó khoảng 50.000 lao động nữ được đào tạo
nghề.
Đối tượng:
Lao động nữ trong độ tuổi lao động, ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người
thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có
thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật,
người trong diện thu hồi đất canh tác, phụ nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp.
Chính sách:
Chính sách đối với người học:
Lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách
mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, lao
động nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn
Chính sách đối với giáo viên, giảng viên
Áp dụng chính sách với giáo viên, giảng viên theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg
ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “ Đào tạo nghề
cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2001, Cuốn sách “Thập kỷ Người
Khuyết tật Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 1993 - 2002” có bàn về khía cạnh về giới
của Các tổ chức tự lực, trong đó có nội dung: Tăng cường khả năng của phụ nữ khuyết tật
đưa sự quan tâm của họ vào chương trình hành động của các tổ chức tự lực và cung cấp
cho họ các cơ hội bình đẳng để tác động vào chính sách và quá trình ra quyết định trong
các tổ chứcđó. Các tổ chức tự lực của NKT nên:
Có chú ý đặc biệt để tuyển thêm những thành viên là phụ nữ và em gái khuyết tật
nhằm cải thiện sự cân bằng về giới trong các tổ chức và để đại diện đầy đủ hơn cho quyền
lợi của phụ nữ và em gái khuyết tật.
Hướng tới việc phụ nữ được đại diện ngang với nam giới trong các cơ quan ra quyết
định và làm chính sách
Hình thành các ủy ban do các thành viên nữ bầu ra để thúc đẩy sự thăng tiến của phụ
nữ và em gái khuyết tật
Nâng cao nhận thức của phụ nữ và em gái khuyết tật về các vấn đề giới tính nhằm
tăng cường cho họ khả năng phân tích các khó khăn gây ra và phát triển các kĩ năng giải
quyết khó khăn trong cuộc sống hàng ngày
Trên thực tế đã có những Phụ nữ khuyết tật nhận được sự hỗ trợ để kinh doanh nhỏ
và đạt được kết quả rất đáng ghi nhận: Sáng 29/2, Ban hành động vì sự phát triển hòa
nhập (IDEA) tổ chức hội thảo kết thúc chương trình dự án nhỏ của Ngân hàng thế giới tài
trợ năm 2007-2008 với chủ đề “Kinh doanh nhỏ với phụ nữ khuyết tật”.
Tại hội thảo, tham luận của đại diện Hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội đã hướng dẫn các
phụ nữ khuyết tật về những nguồn vốn ưu đãi mà chị em có thể tiếp cận để vay làm vốn
khởi nghiệp. Những chủ doanh nghiệp là người khuyết tật trao đổi kinh nghiệm mà bản
thân mình đã trải qua để vượt lên khó khăn, vươn tới thành công. Mục đích của hội thảo
là trang bị những kiến thức cần thiết để phụ nữ khuyết tật có thể xóa bỏ mặc cảm, biết
cách quản lý tài chính và tự tin tìm cách tạo việc làm để trang trải cho cuộc sống.
nghĩ của tôi về cuộc sống của tôi khi xa nhà. Với chị tôi cũng giống như một người em
hoặc một người cháu.
Qua nhiều lần tiếp xúc tôi thấy chị là người thích chia sẻ, thích có người quan tâm,
động viên và hỏi han. Chị chia sẻ với tôi chị đang gặp khó khăn về kinh tế “hiện tại mẹ
chị đã già yếu không thể phụ giúp chị những công việc hàng ngày, sức khỏe chị cũng
không được tốt. Thu nhập từ cái quán nhỏ của mẹ con chị là 300.000 Đ/ tháng”. Cuộc
sống của hai mẹ con đều trông vào khoản tiền lương hưu 1000.000 VNĐ/ tháng của mẹ
chị.
Tuổi thơ của chị không may mắn như nhiều bạn bè cùng trang lứa khác (bố mẹ chia
tay, kinh tế gia đình khó khăn, bản thân là người khuyết tật, gia đình không có đàn ông
gánh vác việc đại sự, tất cả trông vào hai người phụ nữ đơn thân ) chính vì vậy chị mặc
cảm, tự tin và mất niềm tin ở người khác đặc biệt những kỉ niệm về chuyện xảy ra giữa bố
và mẹ thời ấu thơ đã làm chị mất tin tưởng ở người khác giới.
Những kỉ niệm từ thời thơ ấu hiện nay vẫn tác động sâu sắc vào cuộc sống của mẹ
con chị theo hướng không tích cực vì vậy chị cảm thấy buồn và nhiều khi bất mãn với
cuộc sống.
Mặc dù tuổi của chị đã “ngoại tứ tuần” nhưng chị chưa từng tham gia hoạt động bên
ngoài ( Câu lạc bộ, hội nhóm hoặc các tổ chức đoàn thể ), bởi vì chị đi lại rất khó khăn
sau khi chị tốt nghiệp lớp 9 ở nhà không làm gì, mẹ chị lấy hàng về cho chị bán mặc dù
quán nhỏ nhưng cả ngày chị phải mất thời gian vào nó. Bạn bè ngày xưa của chị lâu ngày
không gặp chị cũng không nắm bắt được thông tin của họ Vì vậy chị ít bạn bè lại không
có những kĩ năng trong cuộc sống, buồn cũng không biết nên chia sẻ với ai, cũng không
có ai chia sẻ niềm vui và nỗi buồn với chị
Mong muốn hiện tại của chị là chị có vốn để mở rộng quán bán thêm nhiều các mặt
hàng, tăng thu nhập để chị có điều kiện chăm lo cho cuộc sống của hai mẹ con vì chị thấy
chị tìm được niềm vui, tình yêu thương an ủi từ công việc này Theo Lý thuyết nhu cầu
của Maslow thì con người có năm loại nhu cầu theo thứ bậc từ thấp tới cao và con người
chỉ thỏa mãn nhu cầu cao khi đã thỏa mãn được những nhu cầu thấp hơn nó. Khi những
nhu cầu cơ bản nhất của con người là ăn, uống, ngủ và nghỉ ngơi sinh hoạt này còn chưa
được đáp ứng thì họ không có đủ điều kiện để đạt được những nhu cầu khác cao hơn.