“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
MỤC LỤC
Mục lục Trang
Lời nói đầu 2
I. Cơ sở lý luận 3
1. Các khái niệm 3
1.1. Khái niệm khuyết tật 3
1.2. Khái niệm người khuyết tật 3
1.3. Khái niệm trẻ em khuyết tật 4
1.4. Khái niệm khuyết tật vận động 4
1.5. Khái niệm Công tác xã hội 4
1.6. Khái niệm Công tác xã hội cá nhân 4
1.7. Phân loại khuyết tật 5
2. Một số lý thuyết 6
2.1. Lý thuyết nhu cầu của Maslow 6
2.1.1.Lý thuyết nhu cầu của Maslow và quản lý trường hợp với trẻ em
khuyết tật
8
2.2. Lý thuyết hệ thống sinh thái 8
2.2.2Lý thuyết hệ thống sinh tháivà quản lý trường hợp với trẻ em khuyết
tật
9
II. Cơ sở thực tiễn 10
1. Thực trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam 10
2. Mô tả trường hợp 12
III. Tiến trình quản lý trường hợp 13
1. Tiếp nhận thông tin và đánh giá sơ bộ 13
2. Xác minh, đánh giá toàn diện 13
3. Lập kế hoạch can thiệp 15
4. Tổ chức thực hiện và triển khai kế hoạch 18
Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận đông
và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân
một người ( về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó
( bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác).
1.2. Khái niệm người khuyết tật.
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 2
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
Theo công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 thì “ người
khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí
tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể
cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng
công bằng như những người khác trong xã hội”.
Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng
khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn tật” hiện hành, phù hợp với
khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy
định của Luật Người khuyết tật thì người khuyết tật được hiểu là “ người bị
khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được
biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”
Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bị khuyết
tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh… Như
vậy, Luật Người khuyết tật đã đưa ra khái niệm người khuyết tật dựa vào mô hình
xã hội và phù hợp với Công ước về quyền của người khuyết tật.
1.3. Khái niệm trẻ em khuyết tật.
Trẻ khuyết tật (TKT) là những đứa trẻ bị tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn
các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học
tập, vui chơi và lao động.
1.4. Khái niệm khuyết tật vận động.
Khuyết tật vận động là một trong những dạng khuyết tật rất phổ biến. Đó là
- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực
hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc 1 trong 2 trường
hợp trên.
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 4
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
2. Một số lý thuyết được áp dụng.
2.1 . Lý thuyết nhu cầu của Maslow.
Abraham Maslow ( 1908- 1970), là nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng
học thuyết phát triển về nhu cầu con người vào những năm 50 của thế kỉ XX.
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một
hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp( Nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp phía
dưới, trong khi đó những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được
coi là quan trọng hơn cả, giá trị hợn, chúng được xếp ở các thang bậc trên cao của
kim tự thápVà trong hệ thống thứ bậc ấy, Maslow
cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc
vào nhu cầu trước đó. Nếu một nhu cầu không được
đáp ứng ( Nhu cầu tồn tại- thể chất) cá nhân sẽ gặp
cản trở trong việc theo đuổi những nhu cầu cao hơn ( Nhu cầu giao tiếp xã hội,
nhu cầu hoàn thiện cá nhân.
- Nhu cầu về sinh lý : Nhu cầu cơ bản cho sự tổn tại của cá nhân bao gồm
các nhu cầu cơ bản của con người như thức ăn đầy đủ, không khí để thở, nước
uống, sưởi ấm, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi, các nhu cầu làm cho
con người thoải mái về cơ thể. Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất
của con người.
- Nhu cầu về an ninh, an toàn: An ninh tạo cho cá nhân một môi trường
không nguy hiểm. Cá nhân cần có cảm giác yên tâm khi được an toàn thân thể,
được đảm bảo việc làm, được hưởng các dịch vụ y tế và xã hội và tài sản cá nhân
được bảo vệ.
mình. Đánh giá và tìm hiểu hệ thống thứ bậc nhu cầu của thân chủ. Từ những
đánh giá đó, cán bộ quản lý trường hợp có thể tìm ra nhu cầu bức thiết nhất cần
được giải quyết của thân chủ là gì để lên kế hoạch hỗ trợ cho thân chủ.
2.2. Thuyết hệ thống sinh thái.
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 6
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
Hệ thống là tập hợp của một bộ những thành phần , mỗi thành phần , mỗi
thành phần có tính chất riêng nhưng khi tập chung sẽ tạo thành một hệ thống
với chức năng riêng của hệ thống.Sự tác động qua lại của các tiểu hệ thống sẽ
dẫn đến sự thay đổi của cả hệ thống.
Phối hợp thuyết hệ thống với khoa học về môi sinh, thuyết hệ thống môi
sinh chú ý đến vai trò của cá nhân, nhóm trong môi trường sống. Bởi con
người luôn sống trong cộng đồng và tác động qua lại giữa hệ thống con người
và môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới an sinh của cá nhân và xã hội.
Môi trường sống của con người là một hệ thống bao gồm gia đình, cộng
đồng, khu xóm và xã hội. Mỗi tầng lớp này đều có nhiệm vụ riêng và cùng nhau
thỏa mãn các nhu cầu vật chất của con người
Cộng đồng thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua các tài nguyên sau:
+ Tài nguyên không chính thống: gồm gia đình, bạn bè, lối xóm nơi người
ta giúp đỡ, hỗ trợ chia sẻ lẫn nhau
+ Tài nguyên chính thống: Gồm các cơ qua đoàn thể như chính quyền, hội
phụ nữ, công an, hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi, Đoàn thanh niên…
+ Tài nguyên xã hội :là nguồn tài nguyên do nhà nước hoặc nhân dân lập ra
như chợ, trường học, trạm y tế
Để nâng cao năng lực thay đổi cuộc sống của cộng đồng thì phải phát huy
liên kết được các nguồn lực đó, và tận dụng một cách triệt để nhất để nâng cao
chất lượng cuộc sống của cộng đồng.
Có 3 trường hợp thiếu sự hài hòa giữa cộng đồng và môi trường:
+ Môi trường có tài nguyên và phân phối hợp lý nhưng cá nhân, cộng
trẻ đa tật: 4,2% Tỉ lệ trẻ có hành vi xa lạ: 1,7% . Còn lại là các tật khác. Từ kết
quả điều tra trên, ta thấy trẻ có tật ở Việt Nam giai đoạn. Đó là1triệu em.
Cũng qua khảo sát thực trạng đời sống vật chất và tinh thần ở trẻ Việt Nam
cho thấy: Đa số trẻ khuyết tật còn chịu nhiều thiệt thòi. Hầu hết các em sinh ra và
lớn lên trong các gia đình nghèo khổ, tình trạng vật chất thấp kém, thiếu thốn, lại
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 8
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
thêm nhiều mặc cảm về tật nguyền nên vui chơi, học hành cùng các trẻ khác vô
cùng khó khăn. Mặt khác, tâm lý chung của nhiều người trong xã hội cũng cho
rằng: Trẻ có tật rất khó học về văn hoá, càng không thể có khả năng học chung
được với những trẻ không bình thường - đây là một định kiến xã hội mang tính áp
đặt, có ảnh hưởng vô cùng xấu tới giáo dục trẻ đặc biệt nói chung, trẻ em khuyết
tật nói riêng. Trên khắp thế giới, một phần quan trọng trong việc đấu tranh đảm
bảo đầy đủ sự tiếp cận xã hội cho người khuyết tật là đấu tranh chống lại sự kỳ thị
và phân biệt đối xử. Trong một cuộc khảo sát gần đây về tình hình người khuyết
tật ở Việt Nam, Viện nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) đã nhấn mạnh vào quan
điểm và thái độ của cộng đồng về người khuyết tật. Nghiên cứu cho thấy người
khuyết tật bị kì thị và phải đối mặt với sự phân biệt đối xử phổ biến. Điều này
khiến cho sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động kinh tế và xã hội của người
khuyết tật trở nên khó khăn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 80% số người trả lời
khảo sát ở Thái Bình và Đồng Nai, và 60% ở Quảng Nam – Đà Nẵng cho rằng
người khuyết tật “khác biệt”. Điều này sẽ không phải là điều đáng lo quá nếu như
quan điểm về sự “khác biệt” này không ngăn cản người khuyết tật đến trường, lao
động và sử dụng các dịch vụ xã hội. Theo quan niệm cổ điển, phân biệt đối xử bị
coi là “một trở ngại cho các hỗ trợ xã hội, bảo vệ quyền của người khuyết tật
cũng như tạo điều kiện để phát triển toàn diện cho người khuyết tật.” Vì vậy, rất
cần có các chiến dịch nhằm thay đổi thái độ, khuyến khích sự hòa nhập toàn tiện
cũng như đưa các điều khoản về sự hòanhập toàn diện vào trong các văn bản pháp
luật.Chiến đấu với sự sự kì thị và phân biệt đối xử dành cho người khuyết tật gần
của các tổ chức nước ngoài, trong nước; nhưng em rất ít giao tiếp với họ. Theo các Bác
trong làng, cũng như cô giáo chủ nhiệm thì: Vỹ là một học sinh ngoan, chịu khó học
tập, nhưng vẫn còn nhút nhát. Có lẽ vì thế mà khả năng nói của em yếu hơn các bạn.
Thỉnh thoảng nói còn bị ngọng, nói lắp.
III. Tiến trình quản lý trường hợp
1. Tiếp nhận thông tin và đánh giá sơ bộ.
Khi tiếp xúc với Vỹ tại Làng Hữu Nghị, NVXH đã có cuộc trao đổi với em
và xác đinh được 1 số thông tin chủ yếu sau:
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 10
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
- Vỹ có bố là Võ Ngọc Đạt, 82 tuổi, mẹ là Nguyễn Thị Đồng, 70 tuổi. Vỹ
có bốn anh trai: Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Văn
Trọng, Nguyễn Văn Vỵ. Các anh cùng mẹ khác cha với Vỹ, 3 anh đã lập
gia đình riêng, còn người anh thứ 4 thì chưa lập gia đình).
- Do ảnh hưởng của chất độc màu da cam, nên em bị khuyết tật cả tay và
chân. Vì vậy, em đi lại gặp nhiều khó khăn
- Tại làng Hữu Nghị em được qua tâm, chăm sóc, được hỗ trợ học trong
việc học tập các kỹ năng để hòa nhập.
- Tuy vậy, do từ bé em không được học văn hóa, cũng như phần giao tiếp,
nên em cảm thấy khó khăn. Em có phần tự ti, ngại tiếp xúc với mọi
người.
2. Xác minh, đánh giá toàn diện
Qua quá trình giao tiếp, trò chuyện với TC,bằng các kỹ năng quan sát,
phỏng vấn, đặt câu hỏi… NVXH đã cùng TC tìm ra những vấn đề của em Vỹ bao
gồm:
- Em Vỹ bị khuyết tật vận động, gặp khó khăn trong việc đi lại, khả năng tự
chăm sóc bản thân.
- Ở Làng Hữu Nghị, em được học hành, tập phục hồi chức năng. Hơn nữa,
các bác, các cô, các mẹ cũng hết sức chu đáo lo cho em. Nói chung, ở đây em có điều
khả năng giao tiếp của TC với bạn bè, cô giáo và những người xung quanh…
Phân tích và cùng tìm ra những mặt thuận lợi cũng như khó khăn trong các mối
quan hệ sẽ giúp cán bộ quản lý trường hợp tiếp cận TC, khuyến khích TC khai
thác các nguồn lực từ các mối quan hệ tích cực để trợ giúp cho TC; đồng thời tìm
kiếm nguồn lực mới, cơ hội mới để TC có thể giải quyết được các nhu cầu của
mình.
3. Lập kế hoạch can thiệp
Từ kết quả đánh giá về TC, chúng ta có thể tìm ra những điểm mạnh, điểm
hạn chế ở em V. Kế hoạch can thiệp nhằm phát huy những điểm mạnh, tận dụng
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 12
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
các nguồn lực để hỗ trợ TC; đồng thời khắc phục những hạn chế, khó khăn mà H
đang phải trải qua.
STT Mục
tiêu
Công việc thực hiện Người tham
gia
Thời gian Kết quả
mong đợi
1 Ổn định
tâm lý
- Nhân viên công tác xã
hội tham vấn, tư vấn
tâm lý cho thân chủ
- Nhân viên công tác xã
hội gặp gỡ với các
nguồn lực trợ giúp: bảo
mẫu trực tiếp nuôi dạy
em V , các bạn sống
giao tiếp.
2 Tham
gia
phục
hồi
- Nhân viên công tác xã
hội gặp gỡ với quản lý
phòng phục hồi chức
năng cũng như những
-Nhân viên
công tác xã
hội
Tháng 4
năm 2013
-Thân chủ
tham gia
phục hồi
chức năng
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 13
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
chức
năng
nhân viên y tế để biết
được rõ hơn tình trạng
của thân chủ
- Cùng với thân chủ tới
cơ sở y tế kiểm tra lại
tình hình sức khỏe cũng
như tình trạng khuyết tật
tình trạng
khuyết tật
đem lại.
- Ngoài ra
giúp thân chủ
cải thiện
được sức
khỏe của
mình
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 14
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
4. Tổ chức thực hiện và triển khai kế hoạch
Trong quá trình triển khai kế hoạch nêu trên, NVXH cùng với TC rà soát
lại các nguồn lực có thể trợ giúp cho TC để hỗ trợ cho việc thực hiện kế hoạch
được thuận lợi.
NVXH lên lịch hẹn với TC về các buổi làm việc cá nhân, làm việc nhóm
về: địa điểm, thời gian,….Đồng thời qua các buổi làm việc chung, NVXH cũng
thu thập thêm những thông tin về TC để bổ sung cho những thông tin ban đầu.
Triển khai kế hoạch theo các nội dung đã đề ra trong bản kế hoạch. Trong
mỗi mục tiêu cần đánh giá, bổ sung hay điều chỉnh cho phù hợp với tình hình
thực tế.
Huy động sự giúp đỡ tối đa từ phía các nguồn lực như: bố mẹ, anh trai, các
thầy cô, có thể giúp đỡ H trong việc đưa đón con trai H đi học; chồng, anh trai
hoặc em gái có thể chở H tới các trung tâm giới thiệu việc làm hay đi xin việc tại
các cơ sở sản xuất.
Các kết quả đạt được cụ thể
STT Mục tiêu Kết quả đạt được
1 Ổn định tâm
lý cho TC
Tuy vậy, Nhân viên công tác xã hội luôn luôn giữ liên lạc với các bạn bè của
em V, bảo mẫu của thân chủ để biết được tình hình của thân chủ. Bên cạnh đó,
nhân viên công tác xã hội giữ mối liên hệ chặt chẽ với nhân viên y tế, phòng phục
hồi chức năng để biêt được tình hình luyện tập của thân chủ ra sao, các bài tập có
phù hợp hay không? Thái độ tham gia luyện tập thế nào? Hiệu quả đạt được có
khả quan không? Khi nhân viên công tác xã hội giữ mối lên hệ với cơ sở thì mới
có thể nắm được đầy đủ những thông tin về quá trình luyện tập của thân chủ. Từ
đó cùng với thân chủ, nhân viên y tế, phòng phục hồi chức năng có những kế
hoạch tập luyện phù hợp và đạt kết quả cao nhất cho thân chủ.
III. Một số kỹ năng sử dụng trong quá trình quản lý trường hợp
1. Kỹ năng tham vấn
NVXH sử dụng kỹ năng tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình để giúp TC
ổn định tâm lý, cung cấp thông tin cho TC và những thành viên trong gia đình.
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 16
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
Qua các buổi tham vấn cá nhân, TC đã có dịp chia sẻ những tâm sự, những
nỗi lo lắng, sự mặc cảm tự ti về khuyết tật vận động. Em bộ lộ tâm lý bất an, lo
lắng về cuộc sống mới ở môi trường mới của mình.
Qua tham vấn gia đình chủ yếu là bố mẹ V, ngừoi anh trai chưa lập gia đình
của V, NVXH tìm thấy được những khả năng của V và những nguồn lực từ phía
gia đình luôn giúp đỡ V. Qua việc tham vấn với bố mẹ V giúp bố mẹ có thêm kiến
thức để động viên con mình, giúp cho họ có những kỹ năng để giúp con mình
phục hồi cức năng
2. Kỹ năng lắng nghe tích cực
Cán bộ quản lý ca luôn thể hiện thái độ tích cực, lắng nghe TC chia sẻ, để
cảm nhận được những cảm xúc mà TC đang trải qua. Thông qua lắng nghe tích
cực, NVXH cũng quan sát được các cử chỉ không lời của TC biểu hiện trên nét
mặt, ngôn ngữ hình thể…
3. Kỹ năng quan sát
“Công tác xã hội với trẻ em bị khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị
Việt Nam)
6. Mai Kim Thanh (2007), Bài giảng công tác xã hội cá nhân, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn
Học viên: Nguyễn Thị Huyền Trang 19