Quan niệm của Xuân Diệu về phê bình văn học
PHAN NGỌC THU
Trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân
Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ
nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê
bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh
luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945)
đến Tiếng thơ (1951),Những bước đường tư
tưởng của tôi(1958); từ Phê bình giới thiệu
thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm
thơ trẻ(1961), Dao có mài mới
sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư
tâm hồn ấy(1978), Các nhà thơ cổ điển Việt
Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc
làm thơ(1984) "chỉ tính riêng các tác phẩm
lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là
một đại gia"(1)
Là nghệ sĩ bậc thầy, cùng với hệ thống quan niệm về nghệ thuật thi ca, trong
những công trình vừa kể trên đây, Xuân Diệu còn thể hiện quan niệm nhất
quán của mình về phê bình văn học, chủ yếu là phê bình thơ. Tìm hiểu những
quan niệm ấy sẽ góp phần nhận thức và đánh giá một cách toàn diện hơn sự
nghiệp văn học lớn lao của Xuân Diệu, đồng thời cũng có thể rút ra được
những bài học bổ ích cho hoạt động phê bình, lý luận văn học của chúng ta
hôm nay.
Trước hết, với Xuân Diệu, mỗi tác phẩm văn học nói chung, mỗi tập thơ nói
riêng "là một cơ thể, một sinh vật", "một tác giả, một con người", do đó"khen
hay chê chưa quan trọng bằng cảm thông, thấu hiểu"(2)
Nói "khen hay chê chưa quan trọng bằng thấu hiểu" có nghĩa là Xuân Diệu đã
khẳng định sự cần thiết của khen, chê trong phê bình văn học. Bởi vì, theo
ông, chê thơ mà không đúng thì rất có hại, sẽ làm nản người viết; nhưng
khen thơ không đúng thì cũng rất có hại vì khuyến khích sự viết dở, và có một
không thể tưởng tượng được văn học mà thiếu phê bình vì công chúng muốn
chiếm lĩnh tác phẩm nghệ thuật, chiếm lĩnh kho tàng văn hoá, họ rất cần sự
môi giới của nhà phê bình nghiên cứu. Muốn làm được vai trò ấy, phê bình
văn học không thể không hiểu thấu đáo về tác giả, tác phẩm và những kiến
thức cần thiết khác.
Cũng theo Xuân Diệu, một niềm vui lớn mà văn học đưa đến cho tâm trí con
người là sự hiểu biết, sự thấu hiểu, sự cảm thấu. Nếu được cảm thấu người
ta sẽ sống lên gấp hai, gấp ba, nghĩa là sự sống tự nhân đến mức cao, là
khám phá thấy loài người ở trong một bản thân mình. Vì thế, cần phải xác
định, phê bình không phải là chỉ trích, nhà phê bình không phải là lên lớp
bằng chủ quan của mình, mà nhiệm vụ chính của nhà phê bình trong quan
niệm của Xuân Diệu là "giúp cho bạn yêu thơ hiểu một thời đại, một nền
thơ, một nhà thơ".
Xuất phát từ quan niệm ấy, khi tìm về văn học quá khứ của dân tộc, Xuân
Diệu luôn ý thức phải nói sao cho thấu lý đạt tình. Ông tra cứu, suy ngẫm
từng bài thơ, ông gắn hoàn cảnh sáng tác với hoàn cảnh sống khi chưa có
hướng đời của tác giả để cắt nghĩa một cách thấu đáo vẻ đẹp của nỗi buồn
đau trong thơ ca xưa. Hoặc, khi "đọc một số ca dao kháng chiến của bộ đội",
Xuân Diệu tâm sự:
"Tôi đọc đây, chưa phải như một nhà phê bình văn học, cân nhắc và đánh
giá, mà như một người yêu mến, cảm thông - thực ra không phải tôi "đọc" mà
ở đây, tôi sống với một số ca dao kháng chiến của bộ đội"(3)
Vậy là, "đọc" có nghĩa là "sống" với tác giả, tác phẩm. Sinh thời, trong phê
bình, Xuân Diệu rất coi trọng việc đọc, đọc nhiều lần, nhiều cách để được
cảm thấu bằng nhiều giác quan. Ông thường gọi cách đọc vội, đọc lướt
không chịu lắng nghe kỹ tác phẩm là cách đọc "rất quan liêu", cách đọc "vô
tâm" (Vô tâm chi lắm ai ơi! - Thơ hay rất kỵ cái người vô tâm). Ông còn dùng
câu nói của Các Mác: một bản nhạc hay đến mấy cũng không có nghĩa lý gì
đối với những lỗ tai không thẩm âm, và cả thành ngữ "đàn gảy tai trâu" để
diễu người, và có khi cũng tự diễu mình chỉ vì vô tình không đọc kỹ mà bỏ sót
mới thực sự là "người môi giới", là bà đỡ cho những công trình sáng tạo đầy
trăn trở của người nghệ sĩ. Xuân Diệu thường yêu cầu nhà văn, nhà thơ
không được "cầu an", càng ngày càng phải "nấu nướng cho tốt lành nhiều
hơn nữa, thơm ngon nhiều hơn nữa", nhưng người đọc, người phê bình cũng
không được "cầu an", phải "cải tạo cái lưỡi của mình" mới thưởng thức được
cái hay, cái đẹp của tác phẩm.
Một quan niệm nổi bật của Xuân Diệu về phê bình văn học còn thể hiện ở yêu
cầu "phê bình của chúng ta cần nêu được cái hay tuyệt với, hoàn mỹ của
chúng ta phải vươn tới"(5)
Quan niệm trên xuất phát từ quy luật lao động sáng tạo của con người bao
gồm cả quy luật lao động nghệ thuật, là bao giờ cũng hướng tới cái đẹp. Thơ
vốn là tinh chất, là cái "nhụy" của đời sống, lại càng hướng tới sự biểu hiện
một cách tập trung nhất vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm con người. Vốn là nhà thơ
lớn của niềm khát vọng "vô biên" và "tuyệt đích", trong phê bình, Xuân Diệu
muốn hướng người đọc tới cái tuyệt vời, cái hoàn mỹ, tức là vẻ đẹp kết hợp
hài hoà giữa giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung trong tác phẩm. Đó cũng là
cái bản lĩnh, bản sắc của tâm hồn và cuộc đời thi sĩ được biểu hiện qua văn
chương của họ.
Bằng cảm thức thời gian, Xuân Diệu lập luận rằng, sở dĩ văn học phải hướng
tới cái hay, cái đẹp vì dần dà qua sàng lọc của ngày tháng, những hạn chế sẽ
không ai nhớ nữa, chỉ có những ưu điểm, ưu tú mới sống, vì nó thuộc về "cây
đời mãi mãi xanh tươi"; công chúng độc giả thì ai cũng muốn hưởng thụ cái
hay, cái đẹp. Mặt khác, từ thực tiễn sáng tạo, Xuân Diệu cũng thấy rằng, rất
khó tìm những nhà thơ, kể cả những nhà thơ lớn mà không có khuyết điểm,
nhược điểm. Nhiều khi nhược điểm còn nặng nữa; nhưng tất cả vấn đề nằm
ở chỗ: nhà thơ có ưu tú gì không? Nếu có những ưu tú, ưu việt, thì công
chúng có thể trừ bì cho cả những nhược điểm lớn, để chỉ còn lại phần đóng
góp của nhà thơ. Có điều phần đóng góp của một tác phẩm nhất định không
thể là trung bình, vì đứng về tác phẩm mà nói, trung bình là không còn lại
được gì, nghĩa là không đóng góp.