Khoá luận: đường thi trong SGK PT ở Việt Nam - Pdf 17

z
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam


Khoá luận: đường
thi trong SGK PT ở
Việt Nam
1
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam Mục lục
1. Lý do l a ch n t i:ự ọ đề à 3
2. M c ích nghiên c u:ụ đ ứ 6
3. Khách th v i t ng nghiên c u:ể àđố ượ ứ 7
4. Nhi m v v ph m vi nghiên c u:ệ ụ à ạ ứ 7
5. óng góp c a t i:Đ ủ đề à 8
6. Ph ng pháp nghiên c u:ươ ứ 8
7. C u trúc t i:ấ đề à 8
Ch ng m t: QUÁ TRÌNH NG THI C A VÀO GI NG D Y TRONG ươ ộ ĐƯỜ ĐƯỢ ĐƯ Ả Ạ
TR NG PH THÔNG VI T NAMƯỜ Ổ Ở Ệ 9
Ng v n v v n h c n c ngo i trong ch ng trình ph thôngữ ă à ă ọ ướ à ươ ổ 9
V n h c Trung Qu c v m i quan h v i V n h c Vi t Namă ọ ố à ố ệ ớ ă ọ ệ 10
ng thi c a v o n i dung gi ng d y Ng v n Ph thôngĐườ đượ đư à ộ ả ạ ở ữ ă ổ 11
1.4. Mô t ph n n i dung ng thi c a v o ch ng trình SGK ph ả ầ ộ Đườ đượ đư à ươ ổ
thông Vi t Nam:ở ệ 15
Ch ng hai: H NG D N GI NG D Y NG THI TRONG SGK PH THÔNG ươ ƯỚ Ẫ Ả Ạ ĐƯỜ Ổ
VI T NAMỞ Ệ 51
2.2. M t s nguyên nhân chi ph i n i dung gi ng d y ng thiộ ố ố ộ ả ạ Đườ 66
2.2.1. B i c nh v n hoá xã h iố ả ă ộ 67
PH N K T LU NẦ Ế Ậ 78

Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
công việc xem xét vấn đề giảng dạy Thơ văn Trung Quốc được tiến hành như
thế nào lại chưa chiếm một sự quan tâm xứng đáng. Đây có thể nói là một sự
thiếu sót cần phải được bổ khuyết để việc nghiên cứu lịch sử tiếp nhận văn
chương nước ngoài ở nước ta có một cái nhìn toàn vẹn.
Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ có thể đi vào
một mảng nhỏ trong công việc giảng dạy, qua đó phần nào thấy được đời sống
của văn chương Trung Quốc trong chương trình dạy học của nhà trường Việt
Nam. Đó là : Tìm hiểu nội dung Đường thi trong SGK phổ thông ở Việt
Nam. Công việc này không thể tiến hành tách biệt và cô lập với sự xem xét mục
tiêu, chính sách và chương trình giáo dục phổ thông của nền giáo dục nước nhà.
Lịch sử vấn đề:
Trong chương trình môn Ngữ văn PTCS và PTTH, Đường thi là một
trong số những nội dung văn học nước ngoài được chọn đưa vào giảng dạy.
Có một vấn đề đặt ra: Đường thi có giá trị như thế nào trong vai trò định
hướng và giáo dục nhân cách cho học sinh? Liệu việc đưa Đường thi vào
chương trình giáo khoa giảng dạy có phải chỉ đơn thuần cho phong phú nội dung
văn học thế giới để giới thiệu cho Học sinh?
Thực tế lịch sử đất nước Trung Hoa nói riêng, lịch sử nhân loại nói chung
đã minh chứng cho sức sống của Đường thi - một tinh hoa của văn học nhân
loại, vì thế việc giảng dạy nhằm mục đích giúp HS hiểu và trân trọng một giá trị
văn hoá tinh thần đẹp. Từ đó giáo dục các em biết suy nghĩ, diễn đạt ý vị, tinh
tế, kiệm lời.
Tuy nhiên, đây là một nội dung khó vì gặp trở ngại của ngôn ngữ. Chữ
Hán là thứ ngôn ngữ tượng hình, thể hiện tư duy cổ của người Trung Hoa, xa lạ
đối với HS.
Việc giảng dạy nội dung này hiện nay vẫn chưa đạt hiệu quả như mong
muốn của người biên soạn, như tâm nguyện của người thầy.
Một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho việc giảng dạy Đường
thi có thể xét đến là: chưa một công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách

5
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
qua một quãng thời gian dài là công việc cần thiết giúp người nghiên cứu thấy
sự biến đổi của phương pháp dạy học tương ứng.
Dạy học Ngữ văn trong nhà trường cũng là một trong những hình thức
tiếp nhận văn học, hơn thế còn là con đường tiếp nhận chính thống, có định
hướng và chịu ảnh hưởng của tưởng chính trị. Và nghiên cứu Đường thi trong
toàn bộ chương trình SGK phổ thông là một trong những công việc có ý nghĩa to
lớn cần tiến hành ngay trong thời điểm hiện nay góp phần giúp giáo viên vững
vàng kiến thức chuyên môn, làm tiền đề cho việc phát huy hiệu quả phương
pháp dạy học mới.
Dựa trên cơ sở tiếp thu những lí thuyết được giới thiệu gần đây ở Việt
Nam, quan trọng nhất là lí thuyết về thi pháp học hiện đại, trong đó mới nhất là
lí luận về mỹ học tiếp nhận, chúng tôi hy vọng tái hiện và mô tả được phần nào
diện mạo quá trình tiếp nhận Đường thi ở Việt Nam, cụ thể trong phạm vi
chương trình giáo dục phổ thông. Từ đó cung cấp thêm ít nhiều tư liệu giúp cho
việc lí giải đời sống văn học dân tộc.
Bản thân là một Sinh viên sư phạm ngành Ngữ văn, thấy được ý nghĩa của
việc nghiên cứu chương trình SGK bộ môn có ảnh hưởng lớn đến vấn đề tìm
phương pháp dạy học hiệu quả. Đối với nội dung Đường thi, để một giờ dạy
hiệu quả đòi hỏi nỗ lực lớn của giáo viên để tìm hiểu về bài học và những vấn đề
văn hoá, văn học cổ Trung Quốc và nhất là nội dung Đường thi.
2. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc Tìm hiểu Đường thi trong SGK phổ thông ở Việt Nam
qua những giai đoạn những năm 1990 đến nay, chúng tôi muốn đưa ra những
đánh giá và tổng kết về sự lựa chọn cũng như sự thay đổi của nội dung Đường
thi trong bối cảnh đổi mới chương trình và SGK hiện thời.
Giảng dạy Ngữ văn là công việc tiếp nhận văn học và định hướng tiếp
nhận văn học cho HSPT. Chương trình SGK sẽ là căn cứ rõ nhất để nghiên cứu
6

Hướng dẫn tìm hiểu Đường thi trong SGK văn . Đồng thời, việc giải quyết đề tài
trên cơ sở xem xét chương trình Ngữ văn trong mối quan hệ với sự phát triển
của lí luận văn học hiện đại, chúng tôi mong muốn làm một công việc thiết thực
đối với nghề nghiệp của mình là nắm được bản chất của thực tế thay đổi chương
trình và SGK nói chung để phát huy hiệu quả phương pháp dạy học mới.
5.2. Với những kết quả thu được, đề tài không chỉ cho chúng ta một cái
nhìn hệ thống về câu chuyện Đường thi được giảng dạy ở Việt Nam như thế
nào. Hơn thế, đây sẽ là một gợi ý để những công trình sau này của giới nghiên
cứu có thể vận dụng làm sáng rõ vấn đề tiếp nhận Đường thi nói riêng và Văn
học nước ngoài nói chung trong nhà trường phổ thông Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Mô tả.
- Thống kê
- Phân tích
- Lí giải
7. Cấu trúc đề tài:
Ngoài Phần mở đầu và phần kết luận, nội dung có 2 chương
Chương I: Quá trình Đường thi được đưa vào giảng dạy trong chương trình
Ngữ văn PT ở Việt Nam.
Chương II: Hướng dẫn Giảng dạy Đường thi trong SGK Ngữ văn phổ thông
ở Việt Nam.
8
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
PHẦN NỘI DUNG
Chương một: QUÁ TRÌNH ĐƯỜNG THI ĐƯỢC ĐƯA VÀO
GIẢNG DẠY TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM
Ngữ văn và văn học nước ngoài trong chương trình phổ thông
Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là một môn học có vị trí
đặc biệt, có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những kiến thức về tiếng Việt và văn
học, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt và năng lực

cách hời hợt nông cạn nền văn học dân tộc” (Trần Nho Thìn: Văn học Trung đại
Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá, Tr. 19). Tính từ thời điểm nền văn học viết ra
đời, sự ảnh hưởng đó thể hiện trong việc chữ Hán được xem là chữ viết của nhà
nước. Suốt 10 thế kỉ phong kiến, bộ phận văn học chữ Hán là bộ phận không thể
tách rời với nền Quốc văn.Văn học Việt Nam đã kế thừa các các thể loại truyền
thông của văn học Trung Quốc: Phú, Hịch, Cáo, Chiếu, Biểu, Tiểu thuyết
chương hồi…và ảnh hưởng sâu sắc nhất là thơ ca.
Thơ Việt Nam bất kể là thơ chữ Hán hay chữ Nôm đều sáng tác theo
những thể: thơ cổ phong, thơ Đường luật, ngũ ngôn, thất ngôn. Về phương diện
đề tài, thi nhân ta vẫn chủ yếu khai thác các long mạch: tình yêu thiên nhiên,
tình cảm bạn bè, tình yêu con ngưòi, tình yêu đất nước. Các nhà thơ cổ điển của
ta cũng chịu ảnh hưởng các quan niệm vũ trụ nhân sinh từ Phật giáo, Lão giáo.
Trong khi kế thừa và tiếp thu tinh hoa của văn học Trung Quốc, Việt Nam
có cách ứng xử riêng nên văn thơ nước nhà vẫn thấm nhuần tinh thần dân tộc.
Khi nền văn học nước nhà bước vào thời kì hiện đại hoá dưới ảnh hưởng của sự
du nhập văn hoá phương Tây, ảnh hưởng của thơ văn Trung Quốc, đặc biệt là
10
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
thơ ca vẫn không hề giảm sút. Nhứng yếu tố ảnh hưởng đó đã tạo nên nguồn
mạch ẩn ngầm làm nên sức mạnh nội tại cho thi ca Việt Nam.
Đường thi được đưa vào nội dung giảng dạy ở Ngữ văn Phổ thông
1.1.1. Vị trí của Đường thi trong nền thơ ca Trung Quốc nói riêng và thơ
ca nhân loại nói chung
Người ta thường nói: “Thịnh Đường, Long Tống” để chỉ hai đỉnh cao của
thơ ca cổ điển Trung Quốc. Thơ Đường là một bước phát triển cao về mặt hình
thức thơ ca với nhiều trường phái và phong cách khác nhau: Lí Bạch sở trường ở
thể cổ phong, Đỗ Phủ thành công với Luật thi, Bạch Cư Dị lại kết hợp được cả
hai thể loại… Với 2300 thi sĩ và gần 5 vạn bài thơ, Thơ Đường là đỉnh cao nghệ
thuật thơ ca, đỉnh cao của sự phát triến hình thức thơ ca Trung Quốc trên cơ sở
kế thừa thể thơ truyền thống và các hình thức thơ ca của các thời đại trước (nhất

giáo khoa dạy ở bậc phổ thông trung học nhà trường Việt Nam dưới thời thực
dân Pháp, Tác giả đã dành hẳn 6 chương để dạy văn học Trung Quốc từ dân
gian, cổ điển đến hiện đại. Đó là nhận thức và chủ trương sáng suốt. Trong
chương trình năm thứ 2 (lớp nhất trong các trường Trung học Pháp ) với 5 thiên,
20 chương thì Dương Quảng Hàm dành 3 chương cho Văn học Trung Quốc.
Trong thiên thứ 1 nhan đề “ Các văn sĩ và thi sĩ Tàu có ảnh hưởng lớn nhất đến
văn chương Việt Nam: Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lí Bạch”, Dương Quảng Hàm
đã giới thiệu tiểu sử và phần trích giảng tác phẩm của nhà thơ lớn đời Đường:
Lí Bạch với tác phẩm Tương tiến tửu (Vô danh dịch). Sang chương 3, tác giả
giới thiệu thêm nhà văn Hàn Dũ cũng đời Đường. Nhìn tổng thể, Dương Quảng
Hàm đã giới thiệu 7 tác giả thuộc văn học cổ điển và hiện đại Trung Quốc.
Riêng thời Đường, tác giả không chọn tức giả và tác phẩm của Đỗ Phủ, Bạch Cư
Dị. Đó là một hạn chế của ông. Tuy vậy, phải công nhận đóng góp lớn của tác
giả là đã cho ra đời một “cuốn lịch sử văn học Việt Nam phổ thông đầu
tiên được biên soạn bằng chữ quốc ngữ” (Trần Hữu Tá). Dương Quảng Hàm là
12
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
người đặt nền móng cho việc giảng dạy và học tập văn học Trung Quốc ở nước
ta nói chung và thơ Đường nói riêng.
Tóm lại: Thơ Đường được du nhập vào nước ta từ rất sớm và việc tiếp
nhận Đường thi dã diễn ra ngay từ buổi sơ khai của nền văn học viết của dân
tộc. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Đường trong chương trình phổ
thông chỉ thực sự diễn ra vào thế kỉ XX và càng về sau, khi các chính sách về
kinh tế, nggoại giao của nhà nước cởi mở hơn, ý thức về vai trò của Đường thi
đối với nền thơ ca dân tộc được nhìn nhận thẳng thắn và công bằng thì việc tìm
hiểu Đường thi một cách chính thống trông nhà trường mới thực sự được chú
trọng.
Vậy Đường thi chính thức được đưa vào chương trình Ngữ văn phổ thông
từ bao giờ?
Theo một số tài liệu chúng tôi thu thập được, giai đoạn từ 1956 đến 1979,

viết “Trong tập tài liệu này chúng tôi chỉ lựa chọn các tác phẩm mới đưa vào
SGK văn 8 và 9 và là những tác phẩm khó, ít tài liệu tham khảo” (Trang 3).
Xem nội dung cuốn sách, chúng tôi thấy có phần bài viết về các bài thơ Đường:
Kẻ lại ở Thạch Hào (Thạch Hào lại), Bài hát gió thu tốc nhà (Mao ốc vị thu
phong sở phá ca), Đường đi khó (Hành lộ nan). Điều đó chứng tỏ rằng nội dung
Đường thi chính thức được đưa vào SGK văn bậc THCS chỉ từ năm 1989 -
1990. Các tác giả Lí Bạch, Đỗ Phủ được giới thiệu những bài trữ tình, đơn giản
về bút pháp thì sang cấp THPT giới thiệu những bài thơ khác của hai tác giả đó,
cùng với một số tên tuổi: Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị.
SGK Ngữ văn sau chỉnh lí 1995 ở cấp THCS gồm 26 bài văn học nước
ngoài (có 5 tác giả Trung Quốc).
Sau năm 2000, chương trình Ngữ văn cấp THCS có giói thiệu 18 tác giả
của 2 nước châu Á, 7 nước châu Âu, 1 nước châu Mĩ.
Chương trình Ngữ văn THCS năm 2006: 25 văn bản (trích tác phẩm hoặc
toàn bộ) của 9 nước, trong đó, thơ Đường chiém 5 tác giả.
14
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
Chương trình chuẩn Ngữ văn THPT năm 2006: 19 bài của 7 nước. Trong
đó thơ Đường chiếm 5 tác giả.
1.4. Mô tả phần nội dung Đường thi được đưa vào chương trình SGK phổ thông
ở Việt Nam:
1.4.1. Đường thi trong mối tương quan với các nội dung văn học khác
cùng chương trình Văn học nước ngoài.
Văn chương là chuyện của muôn người và của muôn đời. Những tác
phẩm có giá trị nhân văn cao đẹp không chỉ là tài sản của một dân tộc mà còn là
thứ của cải tinh thần vô giá của nhân loại. Bởi vì giá trị thanh lọc và bồi dưỡng
tâm hồn người đọc của một áng văn đích thực không bị ràng buộc bởi vấn đề
biên giới quốc gia. Việc tìm hiểu, học hỏi và cao hơn là tiếp thu tinh hoa của kho
tàng văn học thế giói là một công việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Giảng dạy văn học trong nhà trường, như đã phân tích trên, không dừng

Tỉ lệ
Văn 9, tập hai (năm 1989) 87 11 12,7%
Văn học 9, tập hai (năm 1995) 31 21 67,7%
Ngữ văn 7, tập một (năm 2001) 17 17 100%
Bảng tương quan về số lượng tiết dạy:
Tên sách
Văn học
nước ngoài
Thơ
Đường
Tỉ lệ
Văn 9, tập hai (Năm 1989) 11 4 36,4%
Văn học 9, tập hai (năm 1995) 10 7 70%
Ngữ văn 7, tập một (năm 2001) 4 4 100%
Chương trình văn THPT:
Bảng tương quan về dung lượng trang viết:
Tên sách
Văn học
nước ngoài
Thơ
Đường
Tỉ lệ
Văn học 10, tập hai, (năm 1990) 108 16 14,8%
Văn học 10, tập hai, Ban KHTN, 1993 68 16 23,5%
Văn học 10, tập hai, Ban KHXH, 1993 119 33 27,7%
Văn học 10, tập hai, 1995 87 18 20,7%
Văn học 10, tập hai, Ban KHTN, 1997 69 17 24,6%
Văn học 10, tập hai, Ban KHXH, 1997 110 33 30%
Văn học 10, tập hai, 2000 101 25 24,8%
16

Ban KHXH
16 4 25%
Ngữ văn 10, tập hai, Bộ 2
Sách thí điểm
Ban KHTN
7
Ban KHXH
16
Số trang viết dành cho thơ Đường trong mối tương quan với chương trình
văn học nước ngoài:
Nhận xét:. Đường thi là một nội dung trong bộ phận văn học Trung Quốc
đưa vào giảng dạy ở phổ thông. Bên cạnh văn học Trung Quốc, chương trình
VHNN ở THCS còn giới thiệu thêm văn của các nước khác: Anh (Sêchxpia, Đi-
phô), Pháp (A.Đô-đê, Mô-li-e, Mô-pa-xăng), Mĩ (Giắc Lơn-đơn, O.Hen-ri), Nga
(I.Êrenbua, M.Gorki), Ấn Độ (Ta-go), Đan Mạch (An-đec-xen), Tây Ban Nha
(Xec-van-tec)… và ở chương trình THPT thì giới thiệu thêm sử thi Hi Lạp, Ấn
Độ, Kịch phục hưng Anh (Sêchxpia), Thơ văn Pháp (Huy-gô, Ban-dăc), Nga
(Sê-khôp, Puskin, Đốt-xtôi-ep-xki), Ấn Độ (Ta-go)…
Đường thi được ưu tiên như thế nào?
Có thể thấy tỉ lệ về dung lượng trang viết cũng như về tiết dạy được phân
công của Đường thi không nhiều.
17
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
Như vậy, với dung lượng được phép không nhiều, chúng ta buộc lòng
phải tinh tuyển vài tác phẩm có giá trị của Đường thi để giới thiệu. Thành công
ở đây là đã giới thiệu những tác phẩm có giá trị tiêu biểu và là sáng tác của các
tác giả nổi tiếng của đời Đường. Họ là những nét tính cách cũng như phong cách
rất đặc trưng không ai giống ai, mỗi người là một gương mặt làm nên sự đa dạng
phong phú của nền thi ca chói lọi này. Đó là: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,
Thôi Hiệu. Gần đây, thêm Vương Duy, Hạ Tri Chương, Mạnh Hạo Nhiên…

Lăng, Đăng cao, Tì bà hành (trích)
Tên tác phẩm (bằng chữ Hán); Tiểu dẫn (về tác giả và đặc điểm chính
trong phong cách); Giới thiệu văn bản (Tên tác phẩm: in chữ đậm, phần dịch văn
xuôi và dịch thơ); Chú thích (in chữ nhỏ); Hướng dẫn học tập (chữ thường)
- Phần đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Hoàng Hạc lâu:
Trình bày thành một phần riêng (sau các bài giảng văn); Phần Hướng dẫn tìm
hiểu bài (Không đặt câu hỏi mà trình bày theo lối bình giảng).
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu.
+ Bản dịch: (Đều in rõ xuất xứ bản dịch)
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch
- Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Đăng cao (Nam Trân dịch -
Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Tì bà hành (Phan Huy Thực
dịch - Thơ Đường, tập một, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Tảo phát Bạch Đế
thành (Tương Như dịch - Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, 1987); Hoàng Hạc
lâu (Tản Đà dịch - Ngày nay, số 80, 1937).
+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm: in chữ đậm; Tiểu dẫn, phần văn bản in chữ
nghiêng; Bài khái quát và câu hỏi hướng dẫn học tập in chữ thường; Phần chú
thích in chữ nhỏ.
Bản 2: Văn 10: Phần văn học nước ngoài và Lí luận văn học: Nguyễn
Đăng Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Hoàng Tuyên, Lưu Đức Trung, Nguyễn Khắc
Phi, Lương Duy Thứ, Lê Khắc Hoà.
19
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
- Bài khái quát: Thơ Đường: 5 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 (không có
tranh minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu)
I. Nguyên nhân phát triển:
II. Một số đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật thơ Đường.
1. Khái quát nội dung
2. Hình thức nghệ thnật

về tác giả, tên tác phẩm (bằng chữ Hán, có chú thích bằng tiếng Việt liền sau),
văn bản (nguyên bản, dịch nghĩa, dịch thơ), chú giải, hướng dẫn học bài.
- Bài đọc thêm: Tì bà hành trình bày trong phần dành riêng cho đọc thêm
văn học nước ngoài, có câu hỏi hướng dẫn đọc thêm.
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Thôi Hiệu, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị
+ Bản dịch: Chỉ ghi dịch giả, không ghi rõ xuất xứ (Trừ Đăng cao, Tì bà
hành không ghi tên dịch giả)
Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương
Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất
Tố dịch).
+ Kích cỡ chữ: Tên bài, tên tác phẩm, tác giả in đậm, cỡ chữ lớn; Bài khái
quát, văn bản, câu hỏi hướng dẫn in chữ thường; Phần giới thiệu nét chính về tác
giả và chú giải in chữ nhỏ.
* Năm 1993: Văn học 10, tập hai, ban KHXH: Nguyễn Hoàng Tuyên,
Lưu Đức Trung, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử.
- Bài khái quát: 10 trang khổ giấy in 14,5 x 20,5 (Không chia các đề mục,
không có tranh minh hoạ, không có câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu)
- Bài giảng về tác phẩm: 5 bài thơ: Hoàng Hạc lâu, Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Thu hứng, Đăng cao, Tì bà hành: Tên tác
phẩm (bằng chữ Hán, có chú thích bằng tiếng việt liến sau), giới thiệu nét chính
về tác giả, văn bản: Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, câu hỏi hướng dẫn
học bài.
21
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Trình bày
xen kẽ giữa các bài giảng chính và theo cụm tác giả; có câu hỏi hướng dẫn đọc
thêm (Tảo phát Bạch Đế thành), gợi ý những nội dung chính của bài (Nguyệt
dạ).
Lưu ý:

+ Bản dịch: Ghi dịch giả, không ghi xuất xứ bản dịch (Trừ bản dịch bài
Xa ngắm thác núi Lư, Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)
Đường đi khó ( N.K.P dịch), Xa ngắm thác núi Lư ( Tương Như dịch -
Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, H, 1987, tr. 59); Cảm nghĩ trong đêm thanh
tĩnh (Tương Như dịch - Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, 1987, tr. 47); .Khúc
hát hái sen (Tản Đà dịch); Thu phố ca (N.K.P dịch); Viên lại ở Thạch Hào
(Khương Hữu Dụng dịch); Một mình dạo chơi tìm hoa ven sông (N.K.P dịch);
Tuyệt cú - 1 trong chùm thơ 4 bài (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai:
Tương Như); Bài hát nhà tranh bị gió thu phá nát ( Khương Hữu Dụng dịch);
Tuyệt cú - 1 trong chùm thơ 6 bài (Khương Hữu Dụng dịch).
+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm in chữ đậm, cỡ to (phần chú thích tên tác
phẩm bằng phiên âm chữ Hán: chữ đậm, cỡ nhỏ); tiểu dẫn in chữ nghiêng cỡ
thường; văn bản in chữ thường; Chú giải và câu hỏi hươngns dẫn học bài in chữ
nhỏ.
* Năm 1995: Văn 10, phần văn học nước ngoài và Lí luận văn học:
Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoàn Tuyên, Nguyễn Khắc Phi, Lưu Đức Trung,
Lương Duy Thứ, La Khắc Hoà.
- Bài khái quát: Thơ Đường: 4 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5.(không tranh
minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn học bài)
I. Nguyên nhân phát triển
II. Một số đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật:
1. Khái quát nội dung
2. Hình thức nghệ thuật
- Bài giảng tác phẩm: 4 bài: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng, Thu hứng, Hoàng Hạc lâu, Tì bà hành: Tên tác phẩm (bằng Phiên
23
Mạnh Thị Minh Khóa luận: Đường thi trong SGK PT ở Việt Nam
âm chữ Hán), văn bản phiên âm, dịch nghĩa (tên tác phẩm bằng tiếng Việt, văn
bản dịch nghĩa), dịch thơ, chú giải và Hướng dẫn học bài dưới dạng câu hỏi.
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Văn bản

Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương
Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất
Tố dịch).
+ Kích cỡ chữ: tên bài, tên tác phẩm, tác giả in đậm, cỡ chữ lớn; Bài khái
quát, văn bản, câu hỏi hướng dẫn in chữ thường; Phần giới thiệu nét chính về tác
giả và chú giải in chữ nhỏ.
* Năm 1997: Văn học 10, tập hai, Ban KHXH
- Bài khái quát: Thơ Đường: 10 trang giấy in khổ 14,4 x 20,5 (chia đề
mục, không có tranh minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn học bài).
- Bài giảng chính: 5 tác phẩm: Hoàng Hạc lâu, Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng lăng, Thu hứng, Đăng cao, Tì bà hành. Tên tác
phẩm (bằng chữ Hán, có chú thích bằng tiếng việt liền sau), giới thiệu nét chính
về tác giả, văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), chú giải, câu hỏi hướng dẫn
học bài.
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Trình bày
xen kẽ giữa các bài giảng chính và theo cụm tác giả; có câu hỏi hướng dẫn đọc
thêm (Tảo phát Bạch Đế thành), gợi ý những nội dung chính của bài (Nguyệt
dạ).
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Thôi Hiệu, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.
+ Bản dịch: Ghi dịch giả nhưng không ghi xuất xứ bản dịch (Trừ bản dịch
thứ hai của bài Tảo phát Bạch Đế thành và bản dịch Tì bà hành không in dịch
giả)
Hoàng Hạc lâu (bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương
Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng ( Ngô
Tất Tố dịch); Tảo phát Bạch Đế thành (Bản dịch thứ nhất: Tương Như,; Bản
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status