Dinh dưỡng trong một số
bệnh mạn tính
(Kỳ 2) Bệnh mạch vành
Bệnh tim do mạch vành (coronary heart disease - CHD) là vấn đề sức khỏe
cộng đồng quan trọng ở các nước phát triển, chiếm hàng đầu trong các nguyên
nhân gây tử vong. Nhờ các chương trình giáo dục sức khỏe tích cực, bệnh có
khuynh hướng giảm dần trong các thập kỷ gần đây ở nhiều nước Tây Âu, Úc, Mỹ,
nhưng ở một số nước Đông Âu bệnh vẫn có xu hướng tăng. Tỷ lệ mắc bệnh khác
nhau ở các nước cũng như trong cùng một nước nhưng khác nhau về điều kiện
kinh tế xã hội làm cho người ta chú ý đến các nhân tố nguy cơ mắc bệnh là môi
trường và dinh dưỡng.
Theo sự hiểu biết hiện nay, ba yếu tố nguy cơ đã được xác định, đó là hút
thuốc lá, tăng huyết áp và hàm lượng cholesterol trong máu cao. Các nguy cơ tăng
dần theo tuổi ở nữ (trước khi mãn kinh), thấp hơn ở nam. Các nguy cơ do tăng
huyết áp và mối liên quan giữa dinh dưỡng với tăng huyết áp đã được trình bày ở
trên, các nhân tố sau cũng ảnh hưởng đến nguy cơ gây bệnh mạch vành:
Hút thuốc lá: là yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với bệnh mạch vành. Người ta
thấy hút thuốc lá không những gây tổn thương màng trong các động mạch mà còn
sinh ra chất nicotin gây tăng nhịp tim và huyết áp, tăng nhu cầu oxy của các cơ
tim. Các oxid carbon do hút thuốc lá sinh ra làm giảm khả năng vận chuyển oxy
của máu. Hơn thế nữa, hút thuốc lá còn là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tăng độ
kết dính của tiểu cầu và làm giảm các lipoprotein có tỷ trọng cao (HDL: high
density lipoprotein).
Yếu tố dinh dưỡng được quan tâm đến khi người ta nhận thấy ở vùng Địa
Trung Hải như: Ý, Hy Lạp là vùng nghiện thuốc lá nặng nhưng tỷ lệ mắc bệnh
mạch vành không tăng. Nhiều tác giả cho rằng đó là do lượng rau và trái cây trong
khẩu phần ở các nước này thường cao.
Cholesterol máu: mối liên quan giữa bệnh mạch vành với lượng cholesterol
một nhân tố nguy cơ của các bệnh mạch vành.
Trong các thập kỷ vừa qua, nhiều nước như Thụy Điển, Phần Lan, Úc, Hoa
Kỳ đã thực hiện nhiều biện pháp để phòng ngừa bệnh mạch vành và họ đã đạt
được một số kết quả khả quan. Nói chung các biện pháp này bao gồm các lời
khuyên về chế độ dinh dưỡng, cai thuốc lá, hoạt động thể lực và duy trì cân nặng
ổn định. Trong các khuyến cáo về ăn uống, người ta khuyên năng lượng do chất
béo cung cấp không được vượt quá 30% tổng số năng lượng, sử dụng dầu thực
vật, tăng sử dụng khoai, rau và trái cây. Các loại đường ngọt không cung cấp quá
10% tổng số năng lượng, còn năng lượng do protein nên đạt từ 10 - 15%.
Các bài học trên rất bổ ích cho nước ta khi bệnh mạch vành đang có khuynh
hướng tăng. Nghiên cứu tổn thương giải phẫu bệnh lý các trường hợp xơ vữa động
mạch vào thập kỷ 60, ở Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, 95% có tổn thương động
mạch não, 5% có tổn thương động mạch vành, còn đầu thập kỷ 80, 85% có tổn
thương động mạch não và 15% có tổn thương động mạch vành.
Tiểu đường
Có hai thể tiểu đường chính: tiểu đường phụ thuộc insulin, tiểu đường
không phụ thuộc insulin.
Tiểu đường phụ thuộc insulin chủ yếu gặp ở trẻ em, thiếu niên và người
dưới 30 tuổi do tuyến tụy bị tổn thương gây thiếu insulin. Loại tiểu đường phụ
thuộc insulin chiếm khoảng 10%. Phần lớn bệnh nhân tiểu đường thuộc thể tiểu
đường không phụ thuộc insulin, thường hay gặp ở người trung niên trở lên. Béo
phì là nguy cơ chính của bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin, nguy cơ này
càng tăng lên theo thời gian và mức độ béo. Có đến 80% bệnh nhân mắc bệnh này
là những người béo. Tỷ lệ này tăng gấp đôi ở những người béo vừa phải và tăng
gấp ba ở những người quá béo. Chống béo là biện pháp dự phòng có triển vọng
nhất để dự phòng bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin. Chế độ ăn thực vật
nhiều rau có liên quan đến hạ thấp tỷ lệ mắc tiểu đường.
Sỏi mật
Trong 30 năm lại đây, sinh bệnh học của sỏi mật trở nên rõ ràng hơn. Các
rối loạn của túi mật làm hình thành sỏi mật (chủ yếu là sỏi cholesterol). Sỏi mật
phát triển đã có các khuyến cáo về dinh dưỡng trong từng giai đoạn, chắc rằng vấn
đề đó cũng sẽ được quan tâm ở nước ta.