Tên sáng kiến: Rèn thể loại văn miêu tả lớp 4
2. Ngời viết : Nguyễn Huy Hoàng
3. Trình độ chuyên môn: Cử nhân Cao đẳng
4. Nơi công tác: Trờng Tiểu học Xuân Châu
Huyện xuân trờng tỉnh nam định
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Cấp huyện
A. Giải pháp
I. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Thc t dy hc cho thy: dy tp lm vn l vic rốn luyn cho hc sinh
kh nng t chc giao tip, t chc li núi ngay t khi hc sinh hc sinh bt u i
hc, õy l mt vic lm ht sc khú khn m khụng phi giỏo viờn no cng thc
hin c. Thng thỡ giỏo viờn no cng dy ỳng, quy trỡnh cỏc phõn mụn
nh tp c, luyn t v cõu, cú nhiu giỏo viờn cũn dy rt tt cỏc phõn mụn
ny. Nhng vi phõn mụn tp lm vn thỡ rt him khi cú giỏo viờn no cú
dng cm chn nú lm phõn mụn hi ging, cng cú rt ớt giỏo viờn cú kh nng
dy mt gi tp lm vn sinh ng, hp dn. Trong thc t, giỏo viờn thng cha
quan tõm, cha chỳ trng lm n phõn mụn ny, thng ch hng dn qua loa
cho hc sinh v nh t vit Cũn vic hc thỡ sao?: Ngoi SGK ting Vit thỡ
hin nay cú rt nhiu loi sỏch tham kho cho HS, giỳp cho HS cú cú cỏi nhỡn a
dng, phong phỳ hn. Nhng nhng cun sỏch tham kho ca phõn mụn tp lm
vn li thng a ra cỏc bi vn mu hon chnh nờn khi lm vn cỏc em thng
da dm, li vo bi mu, cú khi cũn sao chộp y nguyờn bi vn mu vo bi lm
ca mỡnh. Cỏch cm, cỏch ngh ca cỏc em khụng phong phỳ m thng i theo
li mũn khuụn sỏo, t nht. Mt thc t na ú l hc sinh lp 4 tuy cỏc em ó
c tip xỳc v thc hnh cỏc bi tp lm vn lp 2 v lp 3 xong cỏc em vn
vit vn theo kiu cụng thc cng nhc, cõu vn ch dng mc cú ch
ng, v ng rt ớt nhng cõu vn cú s dng cỏc bin phỏp ngh thut, bi vn
1
thiếu sinh động, hấp dẫn. Từ những lý do khách quan và chủ quan trên, để khắc
tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên và con người. Văn có được nhờ cảm xúc của
tâm hồn, nó làm cho tâm hồn con người thêm phong phú và sâu sắc.
2. Cấu trúc chương trình tập làm văn lớp 4:
Loại văn bản
Số tiết dạy
Học kỳ I Học kỳ II Cả năm
- Kể chuyện
- Miêu tả:
+ Khái niệm miêu tả
+ Miêu tả đồ vật
+ Miêu tả cây cối
+ Miêu tả con vật
- Các loại văn khác:
+ Viết thư
+ Trao đổi ý kiến
+ Giới thiệu hoạt động
+ Tóm tắt tin tức
+ Điền vào giấy tờ in sẵn
* Tổng số:
19
1
6
3
2
1
32 tiết
4
11
8
bản để tự rút ra một số nhận xét về đặc điểm loại văn, kiến thức cần ghi
nhớ.
(II) Ghi nhớ : Gồm những kiến thức cơ bản rút ra từ phần nhận xét.
(III) Luyện tập : Gồm từ 1 đến 3 bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp học
sinh củng cố và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong bài học.
• Loại bài luyện tập thực hành Chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện các kỹ
năng tập làm văn, do vậy nội dung thường gồm 3, 4 bài tập nhỏ hoặc 1 đề bài tập
làm văn kèm theo gợi ý thực hành luyện tập theo hai hình thức : nói, viết.
3. Quy trình giảng dạy :
(A)Kiểm tra bài cũ : Yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cần ghi nhớ hoặc làm
bài tập đã thực hành ở tiết trước ( hoặc giáo viên nhận xét kết quả chấm bài tập
làm văn, nếu có).
(B)Dạy bài mới
( 1) Giới thiệu bài : Dựa vào nội dung và mục đích yêu cầu của bài dạy cụ
thể, giáo viên có thể dẫn dắt, giới thiệu bài bằng những cách khác nhau, sao cho
thích hợp.
(2) Hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức và luyện tập
* Đối với loại bài hình thành kiến thức :
(a) Hướng dẫn học sinh nhận xét : Dựa theo câu hỏi, bài tập gợi ý của mục I
(Nhận xét) trong SGK, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm của loại
văn thông qua việc khảo sát văn bản, thảo luận, trả lời câu hỏi nhằm tự tìm ra
những điểm cần ghi nhớ ( được diễn đạt ngắn gọn, súc tích ở mục II trong SGK).
(b) Hướng dẫn học sinh ghi nhớ : Giáo viên yêu cầu học sinh nhớ kỹ mục II
( ghi nhớ ) trong SGK, sau đó có thể nhắc lại để học thuộc và nắm vững.
4
(c) Hướng dẫn học sinh luyện tập : Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện bài
tập ở mục III ( Luyện tập ) trong SGK theo trình tự các thao tác : Đọc và nhận
hiểu yêu cầu của bài tập ; thực hành luyện tập theo từng yêu cầu của bài tập ( có
thể làm thử một phần bài tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sau đó trao đổi,
vậy giáo viên không thể có nhiều thời gian nghiên cứu sâu cho từng phân môn, do
đó việc chuẩn bị kế hoạch bài học chỉ mang hình thức chiếu lệ.
+ Chương trình và sách giáo khoa mới kiến thức khá nhiều, nhất là với
việc dạy tập làm văn lớp 4 – chương trình, sách giáo khoa và phương pháp hoàn
toàn đổi mới so với trước đây và cũng rất khác so với lớp 2, 3. Lớp 2, 3 là giai
đoạn đầu của tiểu học, kiến thức lớp 3 tuy có tăng nhưng phương pháp thì gần như
lớp 2 nên giáo viên tiếp cận cũng dễ dàng hơn. Lên lớp 4 kiến thức tăng cao hơn
hẳn, trước đây mỗi kiểu bài của thể loại văn miêu tả thường được cấu trúc dưới
dạng các đề bài cho trước, mỗi đề bài lại được học trong 4 – 5 tiết: Quan sát tìm ý,
lập dàn bài, làm bài miệng, làm bài viết, trả bài. Chương trình mới được cấu trúc
khác hẳn: mỗi kiểu bài được học từ 8 – 11 tiết trong đó thường có 1 tiết lý thuyết
chung, 1 tiết cho cấu tạo từng kiểu bài, 1tiết cho quan sát đối tượng miêu tả, 2- 3
tiết luyện tập xây dựng đoạn văn, 1- 2 tiết luyện tập xây dựng đoạn mở bài và kết
bài, 1tiết kiểm tra và 1 tiết trả bài. Rõ ràng chương trình mới không có sự gò bó,
áp đặt học sinh phải miêu tả cùng một đối tượng nào cho trước mà tuỳ theo từng
vùng, từng nơi, tuỳ từng em có thể lựa chọn đối tượng miêu tả miễn là trong cùng
kiểu bài ( tả con vật hay tả cây cối, tả đồ vật), như vậy sẽ phát huy được tính độc
lập, sáng tạo của học sinh.
2. Tình hình chất lượng học tập môn Tiếng Việt và phân môn tập làm
văn của học sinh Trêng TiÓu häc Xu©n Ch©u nh sau:
BẢNG CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG VIỆT
6
Khối Số
học
sinh
Chất lượng môn tiếng Việt
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
Hai 70 30 42,8 20 28,5 15 21,4 5 7
4A 28 7 25,0 6 21,4 9 32,1 6 21,4
7 Kết quả trên cho thấy, hai lớp 4B và 4A có số học sinh gÇn b»ng như nhau,
chất lượng làm văn cũng gần tương đương nhau, bài làm có điểm khá, giỏi rất ít,
chủ yếu là điểm trung bình, điểm dưới trung bình còn chiếm 21,4%.
Từ thực trạng việc dạy học phân môn tập làm văn nói chung và việc dạy học
làm văn miêu tả ở lớp 4 nói riêng tôi thấy rất cần thiết phải có những biện pháp
sáng tạo trong dạy văn miêu tả lớp 4 góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở tiểu
học.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ LỚP 4:
1. Giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó tìm
ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:
Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh tiểu học là luôn muốn khám
phá, tìm hiểu những điều mới mẻ. Trong con mắt trẻ thơ, với cái nhìn trong trẻo
của mình thì thì sự vật hiện tượng nào trong cuộc sống cũng đầy bí ẩn. Các em
muốn tìm hiểu, khám phá: Tại sao cùng là một sự vật hôm nay là thế này, ngày
mai lại là thế khác? Để trả lời câu hỏi đó trước hết người giáo viên phải giúp các
em nhận thức được sự đa dạng, phong phú của các sự vật hiện tượng và sự sinh
động của cuộc sống. Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em cách quan sát,
cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là
quan sát sự vật hiện tượng ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các
em sẽ có cách cảm, cách nghĩ sâu sắc khi miêu tả.
Ở tuổi học sinh tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự
bắt đầu của một quá trình. Do đó những tri thức để các em tiếp thu phải được sắp
xếp theo một trình tự nhất định. Bởi văn chương không phải là phép tính cộng đơn
thuần của các chi tiết mà nó đòi hỏi phải có một sự cảm nhận tinh tế. Sự cảm nhận
ấy bắt đầu từ óc quan sát tốt, từ sự nhạy bén của trí nhớ, từ sự cảm nhận vẻ đẹp
làm của các em sẽ tốt hơn.
9
3. Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử dụng
các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả là hết sức cần thiết.
Muốn một bài văn hay, có “hồn’, có chất văn thì các em phải có vốn từ
ngữ phong phú và phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp. Chính
vì vậy giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy tập đọc, luyện từ
và câu và cả trong khi dạy các môn khác hay trong những buổi nói chuyện, trong
các tiết sinh hoạt. Hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo chủ đề, chủ điểm, khi
có một từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo từng chủ điểm và khi
làm văn có thể sử dụng một cách dễ dàng. Giáo viên cũng cần khuyến khích các
em đọc sách báo để tìm hiểu thêm thông tin tư liệu, có thể xây dựng tủ sách dùng
chung trong lớp để các em trao đổi sách báo cho nhau và em nào cũng được đọc.
Hàng tuần hoặc hàng tháng giáo viên có thể tổ chức cho các em những cuộc thi
vui: thi xem ai đọc được nhiều sách báo nhất ( kể tên những đầu sách và những tên
bài mình đã đọc), thi tìm từ ngữ theo chủ đề ( học sinh tự chọn một chủ đề bất kỳ
và nêu những từ ngữ thuộc chủ đề đó mà mình đã sưu tầm được),…Sau những
cuộc thi, những buổi trao đổi như thế chắc chắn vốn từ ngữ của các em sẽ tăng lên,
khả năng giao tiếp của các em cũng sẽ khá hơn, điều này giúp ích rất nhiều cho
việc làm văn của các em.
Sau khi các em đã có vốn từ phong phú, giáo viên tiếp tục rèn cho các em
cách lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh và có sử
dụng cá biện pháp nghệ thuật đã học. Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu
cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, sau yêu cầu cao hơn là
phải đặt cầu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá, có dùng những từ láy, từ ngữ
gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm
Ví dụ: * Miêu tả một chú gà trống. Một em đặt câu:
- Chú gà nhà em có bộ lông màu đỏ tía.
Giáo viên có thể cho các em nhận xét: Câu văn đã dủ chủ ngữ, vị ngữ, đã
Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người.
- Sợi bông trong quả đầy dần, căng lên; những mảnh vỏ tách ra cho các
múi bông nở đều, chín như nồi cơm chín đội vung mà cười., trắng loá. Cây gạo
như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới.
11
* Nghệ thuật nhân hoá:
- Bác nồi đồng hát bùng bong
Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà
- Cổng trường dang tay đón các bạn nhỏ.
- Bông hoa duyên dáng tươi cười trong nắng sớm
- Mùa xuân, sân trường khoác chiếc áo mướt xanh màu lá.
Khi đọc cho học sinh những câu văn, câu thơ như vậy, ban đầu tôi
cho các em thảo luận và phát hiện các biện pháp nghệ thuật được các tác giả sử
dụng, sau đó cho các em nêu tác dụng của các biện pháp nhgệ thuật đó, có thể
phân tích để các em hiểu cái hay cái đẹp trong từng câu văn, câu thơ. Làm như
vậy, dần dần nhiều ngày tích luỹ lại các em sẽ có vốn từ phong phú và sẽ học được
cách miêu tả sinh động của các tác giả, biết vận dụng khi làm văn.
4. Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những phân
môn thuộc môn tiếng Việt, vì vậy muốn dạy tốt tập làm văn cần dạy tốt các
phân môn khác.
- Ta có thể thấy, mỗi bài tập đọc là những đoạn văn mẫu mực cả về câu, từ
cả về cách cách diễn đạt, những văn bản trong các bài tập đọc đạt yêu cầu lời hay,
ý đẹp, dạy tốt tập đọc sẽ tạo điều kiện cho học sinh tăng thêm vốn từ và biết được
khả năng thể hiện của của tiếng Việt trong mọi trường hợp rất phong phú, học sinh
sẽ học tập được cách dùng từ, viết câu, diễn đạt.
Trong dạy tập đọc chủ yếu là rèn cho học sinh các kỹ năng, trong đó có kỹ
năng văn hay còn gọi là kỹ năng cảm thụ:
Làm cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong ngôn từ văn bản: âm
thanh, gieo vần, cách dùng từ, đặt câu, những biện pháp tu từ ( ví von, so sánh,
Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam.
- Nội dung của bài văn có hấp dẫn, có lôi cuốn được người đọc hay không
một phần phụ thuộc vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, đó chính là chữ
viết. Vì vậy muốn có bài làm văn hấp dẫn thì giáo viên cần chú ý rèn kỹ năng viết
cho học sinh trong các giờ chính tả. Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết nhanh,
viết đẹp và trình bày rõ ràng, sạch sẽ.
13
- Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng
viết cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói, hay nói cách khác là kỹ
năng sản sinh văn bản dưới dạng nói cho học sinh. Kể chuyện vừa bồi dưỡng tình
cảm, giúp học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học sinh
học tập cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện.
Ví dụ: Khi học sinh học bài kể chuyện Con vịt xấu xí, các em sẽ học được
cách miêu tả của An- đéc- xen khi miêu tả hình dáng và tâm trạng của thiên nga
qua các từ ngữ: xấu xí, nhỏ xíu, quá nhỏ, yếu ớt, buồn lắm, dài ngoẵng, gầy guộc,
vụng về, vô cùng sung sướng, Qua câu chyện học sinh cũng có được lời khuyên:
Ai cũng có những cái đẹp riêng, ta phải biết nhận ra cái đẹp của người khác, phải
luôn yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Từ đó học sinh biết yêu thương, giúp đỡ bạn
bè và mọi người xung quanh.
Nói tóm lại, các phân môn của tiếng Việt tuy mỗi phân môn có nội dung
riêng, phương pháp riêng nhưng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn
bổ sung cho nhau, kiến thức của phân môn này hỗ trợ cho việc học những phân
môn khác. Với phân môn tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của những
phân môn khác, muốn học tốt tập làm văn học sinh cần học tốt các phân môn còn
lại.
5. Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài:
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường
thu hút người đọc, người nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn đề
mà người viết trình bày, Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh xây dựng đoạn
- Đoạn văn kết bài: Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong bài văn nhưng
lại rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người
viết với đối tượng miêu tả. Thực tế cho thấy học sinh thường hay liệt kê cảm xúc
của mình làm phần kết luận khô cứng, gò bó, thiếu tính chân thực. Chủ yếu các em
thường làm kết bài không mở rộng, kết bài như vậy không sai nhưng chưa hay,
chưa hấp dẫn người đọc.Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải gợi ý để học sinh biết
cách làm phần kết bài có mở rộng bằng cảm xúc của mình một cách tự nhiên
15
thông qua những câu hỏi gợi mở, sau đó cho các em nhận xét, sửa sai và chắt lọc
để có được những kết bài hay.
Ví dụ:
+ “Mới ngày nào vào học lớp Một, nghe tiếng trống trường ngày khai
giảng mà hồi hộp. Thế mà nay em đã là cậu học sinh lớp Bốn rồi. Càng thấy yêu,
càng thấy nhớ cái âm thanh rộn ràng ấy mỗi buổi mai khi hừng đông rực đỏ.”
+ “Trống trường quả là người bạn thân thiết của tuổi học trò. Mai đây lớn
lên, chúng em dù có đi bất cứ nơi đâu cũng không thể quên tiếng trống trường.
Tùng! Tùng! Tùng! Trống gọi em về với những bài giảng của thầy cô, với những
nụ cười, ánh mắt của bạn bè.”
+ “Cây gạo có thể sống đến nghìn năm. Nó là nhân chứng thầm lặng của
dòng đời. Cô giáo em nói thế. Đi học về, đứng trên bến đò, hoặc đi xa về, ngắm
nhìn ba cây gạo, em thấy lòng bồn chồn xôn xao. Cây gạo là hồn quê, là tình quê
vơi đầy.”
Văn chương không phải là sự đúng, sai, với làm văn đúng thôi chưa đủ mà
phải phải thấm đượm cảm xúc của người viết. Song tình cảm không phải là thứ gò
ép bắt buộc, tình cảm ấy phải chân thực, hồn nhiên, xuất phát từ chính tâm hồn các
em. Bài văn không thể hay nếu thiếu cảm xúc của người viết, cảm xúc không chỉ
bộc lộ ở phần kết bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài. Vì vậy giáo
viên cần chú ý rèn cho học sinh cách bộc lộ cảm xúc trong bài văn một cách
thường xuyên liên tục, từ tiết đầu tiên của mỗi loại bài đến những tiết luyện tập
nước”, “Con sẻ”, Các đoạn văn đưa ra cũng không nên quá dài hay quá ngắn vì
nếu dài quá học sinh sẽ khó tiếp thu, ngắn quá sẽ không đảm bảo nội dung. Đặc
biệt đoạn văn cần phải được diễn đạt mạch lạc, đúng cấu trúc ngữ pháp, lời văn
giản dị, câu văn giàu hình ảnh và phải mang tính mẫu mực cả về nội dung và hình
thức.
- Khi đưa ra các đoạn văn mẫu cần phải phân tích, đánh giá để học sinh
thấy được cái hay, cái đẹp trong từng đoạn văn, giúp học sinh nhận rõ nội dung
miêu tả, sự khác biệt trong miêu tả và nét đặc sắc trong hành văn.
17
Ví dụ: Đọc cho học sinh nghe đoạn văn “ Những cánh bướm bên bờ
sông” : “ Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những
con bướm đủ màu sắc, đủ hình dáng. Con xanh biếc pha đen như nhung, bay
nhanh loang loáng.Con vàng sẫm nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa,
lượn lờ đờ như trôi trong nắng. Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu
nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa
nắng. Loại bướm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió hệt như tàn than của những đám
đốt hương ”
Phân tích: Đoạn văn ngắn gọn nhưng đã miêu tả khá sinh động vô số loài
bướm. HÌnh ảnh những chú bướm hiện lên qua con mắt của mấy cậu học trò vốn
say mê với thiên nhiên. Một từ tha thẩn miêu tả cảnh các cậu ra bờ sông bắt bướm,
một từ chao ôi diễn tả cảm xúc mạnh mẽ trong lòng các cậu đến bật thành tiếng
kêu chứng tỏ sự kinh ngạc và lòng say mê của các cậu học trò đến tột độ, tạo nền
cho bài miêu tả, tạo nền cho hình ảnh những cánh bướm xuất hiện. Liên tiếp sau
đó, mỗi câu văn được tác giả dùng để nói tới một con bướm. Mỗi con bướm lại
được tả bằng các tính từ, các hình ảnh so sánh gợi vẻ đẹp đầy hấp dẫn: đen như
nhung, loang loáng, vàng sẫm, lượn lờ đờ như trôi trong nắng, líu ríu như hoa
nắng, Tác giả đã khéo chọn những hình ảnh mới mẻ, độc đáo để so sánh làm nổi
bật dáng bay của từng loại bướm. Nó làm nên vẻ đẹp hấp dẫn riêng của đoạn văn
miêu tả này.
sẽ thấy rõ được ưu, nhược điểm trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa
chữa hoặc viết lại đoạn văn của mình cho đạt yêu cầu. Sau những trao đổi như vậy
cũng sẽ giúp học sinh tránh được những lỗi không đáng có trong thực hành viết
văn và trong cả giao tiếp hàng ngày.
8. Chuẩn bị chu đáo kế hoạch bài học góp phần làm nên 50% sự
thành công trong dạy học:
Trong bất kỳ hoạt động nào việc chuẩn bị cũng hết sức quan trọng, chuẩn
bị cũng chính là lập kế hoạch cho công việc mình định làm, đó là việc làm đầu
tiên, tất yếu của mỗi hoạt động. Soạn bài là việc làm đầu tiên, tất yếu của người
19
giáo viên. Bài soạn chính là bản kế hoạch của giờ lên lớp, ngày nay được gọi là kế
hoạch bài học.
Để có được kế hoạch bài học cụ thể, rõ ràng có chất lượng, có tác dụng
thiết thực, đem lại hiệu quả cao, người giáo viên phải huy động tối đa tất cả năng
lực, phẩm chất của mình như năng lực hiểu biết và chế biến tài liệu, năng lực hiểu
học sinh, năng lực ngôn ngữ, lòng yêu nghề, niềm tin, sự nhiệt tình và lòng đam
mê nghề nghiệp. Giáo án có chất lượng phải chuyển hoá được những kiến thức
của sách vở đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên tức là giáo án được
hiện thực hoá qua bài giảng trên lớp chứ không thể là tờ giấy vô tri vô giác chỉ để
giám hiệu ký duyệt cho “đủ thủ tục”.
Mỗi người giáo viên cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc chuẩn
bị kế hoạch bài học trước khi lên lớp, kế hoạch ấy có thể được ghi chép lại cẩn
thận trong giáo án, cũng có thể là sự suy nghĩ sắp xếp trong trí óc miễn là nó phải
được thực hiện một cách nghiêm túc và hết sức tự giác. Có kế hoạch bài giảng chu
đáo tức là giáo viên đã chuẩn bị tốt mọi nội dung thực hiện trên lớp, từ tiết lý
thuyết đến các tiết thực hành xây dựng đoạn văn và tiết trả bài, từ phần kiểm tra
bài cũ đến phần củng cố bài học. Như vậy giáo viên có thể thực hiện được bảy
biện pháp trên một cách dễ dàng và chất lượng dạy học chắc chắn sẽ được nâng
cao.
tâm hồn mình vào trong bài dạy, thày trò phải cùng đắm mình vào đối tượng miêu
tả theo một dòng cảm xúc, cùng hoà chung tình cảm để cùng tìm hiểu và cảm nhận
với niềm say mê, thích thú. Muốn vậy người giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ
lưỡng trước khi lên lớp. Chuẩn bị đầy đủ về tâm thế, về nội dung, phương pháp,
đồ dùng, phương tiện dạy học, mục tiêu, ý nghĩa giáo dục, khả năng, trình độ của
học sinh. Phải tìm tòi, nghiên cứu để có được những câu hỏi gợi mở phù hợp với
trình độ học sinh, chuẩn bị cả những từ, những câu văn thích hợp để sửa sai hoặc
để làm mẫu cho học sinh.Nó đòi hỏi giáo viên phải nỗ lực sáng tạo trong suốt quá
trình dạy học. Chỉ có nghiên cứu sáng tạo mới cho giáo viên có được những giờ
dạy văn miêu tả mới mẻ, hiệu quả cao. Nếu không có những sáng tạo mới trong
dạy tập làm văn nhất là văn miêu tả thì giờ dạy văn miêu tả chỉ là sự liệt kê các chi
tiết của đối tượng miêu tả, giờ học sẽ gượng ép, gò bó, thiếu tâm hồn văn học.
21
B. THC NGHIM DY HC và kết quả đạt đợc
Vi cỏc bin phỏp nh trờn tụi ó xin phộp ban giỏm hiu Trng Tiu
hc Xuân Châu, ngh giỏo viờn chủ nhiệm lp 4A v 4B ( do tôi chủ nhiệm)
tin hnh thc nghim trong 2 thỏng vi 10 tit tp lm vn miờu t. Lp 4A do cô
giáo Đinh Thị Thêu ch nhiờm, lp 4B do tôi chủ nhiệm. Hai lp cú tng s hc
sinh gần bng nhau, trỡnh hc lc cng ngang nhau.Lp 4B của tôi ó thc hin
cỏc bin phỏp trờn trong dy vn miờu t, cũn cô Đinh Thị Thêu vn dy bỡnh
thng. Sau khi tin hnh ging dy 10 tit tp lm vn miờu t theo ỳng chng
trỡnh, tụi ó cho hc sinh c 2 lp lm bi kim tra vit vi 2 bi :
1: Hóy miờu t mt cõy cho búng mỏt sõn trng em m em
thớch nht. Chỳ ý m bi theo cỏch giỏn tip.
2: Hóy miờu t mt cõy hoa m em thớch. Chỳ ý kt bi theo li m
rng.
Kt qu c th thu c nh sau:
Lp
tâm lý của các em, hiểu và nắm chắc đặc điểm, chức năng của văn miêu tả và cần
giúp các em hiểu rõ các đặc điểm ấy ngay từ tiết đầu tiên của thể loại văn miêu tả.
Vì tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc
môn tiếng Việt nên muốn dạy tập làm văn có chất lượng cần thiết phải dạy tốt các
phân môn còn lại, cần chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp, để khi thực hiện kế hạch
bài học trên lớp giáo viên cần đọc cho học sinh nghe các câu văn, câu thơ có sử
dụng các biện pháp nghệ thuật, cung cấp cho các em những đoạn văn mẫu, giúp
các em mở rộng vốn từ, mở rộng vốn hiểu biết và từ đó học tập vận dụng vào bài
làm của mình. Cần coi tiết trả bài như một khâu không thể thiếu của các quá trình
hoạt động, đó chính là khâu kiểm tra, đánh giá nhằm điều chỉnh cho những hoạt
động tiếp theo. Trả bài là tiết học mà giáo viên dành nhiều thời gian để sửa lỗi cho
học sinh, giúp học sinh điều chỉnh những sai sót mắc phải trong bài viết để bài viết
sau sẽ hoàn thiện hơn, hấp dẫn hơn.
Không phải ai sinh ra cũng mang sẵn trong mình một tâm hồn văn
chương mà khả năng ấy phải được bồi đắp dần qua năm tháng, qua trang sách và
những bài giảng hàng ngày của thầy cô. Muốn có được khả năng ấy của mỗi học
sinh thì chính mỗi người giáo viên phải định hướng, gợi mở cho các em phương
pháp học tập như những cây non được ươm trồng cần bàn tay con người chăm sóc,
vun xới thì nó sẽ trở lên tươi tốt. Với học sinh lớp 4, các em không thể vừa bắt tay
vào viết văn đã có được những dònh văn hay mà văn hay là là kết quả của một quá
23
trình rèn luyện liên tục, bền bỉ, dẻo dai. Văn hay không thể có được ở những học
trò lơi là đèn sách . Với tinh thần đó, việc rèn kỹ năng làm văn vừa để nhằm mục
đích nâng cao năng lực viết văn vừa nhằm nâng cao ý thức tự rèn luyện của học
sinh. Đó chính là động lực thúc đẩy tôi hoàn thành bài tập nghiên cứu khoa học
này.
2.Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
Để kết quả của đề tài có thể được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả , tôi xin
có một số ý kiến đề xuất sau đây