Những giải pháp cơ bản về cơ chế giám sát thị trường tài chính Việt Nam - Pdf 17

z


Những giải pháp cơ
bản về cơ chế giám
sát thị trường tài
chính Việt Nam

Những giải pháp cơ bản về cơ chế giám
sát thị trường tài chính Việt Nam nhằm
phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Thị trường tài chính là nơi tụ tập các giao dịch mua bán, trao đổi
các tài sản tài chính hay nguồn lực tài chính. Thông qua thị
trường này, lãi suất và giá cả các loại tài sản tài chính - các
chứng khoán được hình thành.

Trong nền kinh tế thị trường, thị trường tài chính được coi là cơ
chế tạo thuận lợi trong việc chuyển tiền từ những người tiết kiệm
cho những người vay tiền. thị trường tài chính được vận hành
theo quan hệ cung cầu và thông qua hệ thống các định chế tài
chính trung gian của thị trường. Hệ thống các định chế này bao
gôm các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, quỹ đầu tư,
công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ,
quỹ đầu tư,

lên, mà các loại hình dịch vụ tài chính cũng phát triển mạnh cả về
lượng và chất. Tính đến 31/7/2008, Việt Nam có 4 NHTMNN,
ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng phát triển Việt Nam, 6
ngân hàng liên doanh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 44 chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, 14 công ty tài chính, 13 công ty
cho thuê tài chính và 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Việc mở
rộng các chức năng hoạt động ngân hàng cho các tổ chức tài
chính phi ngân hàng, các quỹ tín dụng, các hội, các đoàn thể và
một số Bộ, ngành và một số tổ chức thực hiện dự án có nguồn
vốn hỗ trợ từ nước ngoài hay các tổ chức phi Chính phủ Điều
này đã tạo cho thị trường tài chính Việt Nam hoạt động mở rộng
về quy mô và đa dạng hóa các loại hình.
Tuy nhiên, thị trường tài chính Việt Nam thời gian qua còn kém
phát triển, chủ yếu vào ngân hàng hay do ngân hàng chi phối. Đọ
sâu tài chính được đo bằng tỉ lệ của tổng phương tiện thanh toán
(M2)/GPD và tổng tín dụng trong nước/GDP. Nếu so với các
nước trong khu vực, những chỉ số này chỉ tương đương vào
những năm đầu của thập niên 1990.
Thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ, theo Luật ngân hàng Nhà nư
ớc Việt
Nam, là thị trường vốn ngắn hạn, là nới mua bán các
giấy tờ có giá ngắn hạn dưới một năm. Thị trường tiền tệ bao
gồm thị trường nội tệ liên ngân hàng (được thành lập và đi vào
hoạt động năm 1993); thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chính
thức đi vào hoạt động từ 10/1994; thị trường đấu thầu tín phiếu
kho bạc bắt đầu vận hành năm 1995 và nghiệp vụ thị trường mở
chính thức vận hành vào tháng 7/2002. Chức năng của thị trư
ờng
tiền tệ là tài trợ vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp, đảm bảo vốn

liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài chủ yếu là các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- về mặt rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng cho thấy tỷ lệ
nợ xấu vẫn còn tồn tại. Theo công bố của hệ thống NHTM về tủ
lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ tuy đã giảm chỉ còn trên 3% n
ăm
2007 so với 14.6% năm 1997.
- Trên thực tế tỷ trọng nguồn vốn huy động không kỳ hạn và ng
ắn
hạn vẫn chiếm khoảng trên dưới 3/4, do vậy sự sai lệch về cơ
cấu thời hạn bảng cân đối tài sản của hệ thống NHTM là tương
đói lớn Mặc dầu trong vài năm gần đây sự sai lệch về cơ cấu
đồng tiền tuy có giảm, nhưng vẫn còn ở mức độ rất lớn trong đi
ều
kiện lạm phát tương đối cao trong những năm gần đây, đặc biệt
là năm 2008 và trong môi trường đô la hóa cao như ở Việt Nam
hiện nay.
- Hoạt động của các NHTM chủ yếu dựa trên nguồn thu chênh
lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay, điều đó sẽ làm
cho hoạt động của các NHTM có rủi ro lớn, tuy răng trong vài
năm gần đây các NHTM đã có thêm nhiều dịch vụ mới. Hiện nay
phần lớn các khoản vay được thế chấp bằng bất động sản, trong
khi thị trường bất động sản đang nguội lạnh và có những biến
động không bình thường. Còn các khoản vay được thế chấp
chứng khoán tuy tỷ trọng còn nhỏ, song cũng đáng cảnh báo và
lo ngại về năng lực của các nhà đầu tư các nhân còn thấp và thị
trường trứng khoán Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều yếu tố biến động
về giá.
Nhìn lại sau hơn hai năm gia nhập WTO dòng vốn chu chuyển
qua ngân hàng tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay và vư

hạn chế. Đội ngũ về nhân sự hành nghề có chuyên môn có giấy
phép hành nghề, đặc biệt về chất lượng vè nhân sự lãnh đạo
công ty còn thiếu và yếu chủ yếu về nghiệp vụ chuyên môn kinh
doanh chứng khoán cũng như tư vấn pháp luật về chuyển đổi
doanh nghiệp.
Trên thực tế hiện nay số lượng công ty chứng khoán ở nước ta
vượt quá quy mô thị trường, nếu so sánh với các nước trong khu
vực (Trung Quốc 107 công ty, Malaysia 37 công ty, Thái Lan 41
công ty, Singgapor 27 công ty và Hàn Quốc trên 50 công ty).
- Tuy số lượng tài khoản đầu tư tăng nhanh, nhưng chủ yếu là tài
khoản các nhân, mua bán cổ phiếu ngắn hạn và bị tác động chi
phối bởi các nhà đầu tư lớn trên thị trường. Những nhà đầu tư
này lại thiếu kỹ năng phân tích đầu tư, phân tích thị trường, do
vậy ảnh hưởng tới sự ổn định của thị trường. Những nhà đầu tư
chuyên nghiệp chiếm tỷ trọng còn khiêm tốn, một số nhà đầu tư
lớn nước ngoài mở tài khoản nhưng chưa tham gia đầu tư. Các
quỹ đầu tư nước ngoài tham gia thị trường trong nước thông qua
các tài khoản ủy thác cá nhân và đầu tư trung lập vào cổ phiếu
các doanh nghiệp cổ phần hóa, chưa tham gia đầu tư trên Sàn
giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh và trung tâm giao dịch
chứng khoán Hà Nội.
- Tuy Luật Chứng khoán được ra đời thay thế Nghị định
144/2003/NĐ-CP, ngày 28/11/2003 của Chính phủ về Chứng
khoán và Thị trường chứng khoán, song hệ thống pháp luật về
thị trường chứng khoán còn bất cập và chưa được hoàn thi
ện. So
với yêu cầu đòi hỏi của thực tế của sự phát triển thị trường tài
chính và các định chế tài chính trong nề kinh tế thị trường với
năng lực quản lý và sự phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà
nước còn hạn chế.

- Quy mô thị trường còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng và
thấp hơn so với các nước trong khu vực.
- Thị trường bảo hiểm phát triển chưa cân đối, các loại hình sản
phẩm chưa đa dạng; năng lực cạnh tranh còn nhiều hạn chế và
biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn tồn tại; hoạt động
môi giới bảo hiểm còn chậm phát triển; một số cơ chế chính sách
hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường
bảo hiểm; công tác quản lý giám sát còn nhiều bất cập,
Nhìn lại thực trạng của thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt lá
từ sau những năm đổi mới kinh tế và sau hơn 2 năm gia nhập
WTO của Việt Nam, đã có những thành công. Bên cạnh những
kết quả dật được, cũng còn nhiều hạn chế và tồn tại, đó là:
- Hạn chế trong việc huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư
phát triển, thể hiện: thị trường tài chính có quy mô nhỏ, các thể
chế trên thị trường chưa hoàn chỉnh, nhiều định chế tài chính
trung gian cần tiếp tục hoàn thiện; sản phẩm hoàng hóa của thị
trường chưa nhiều, phạm vi cung cấp dịch vụ chủ yếu mới tập
trung tại khu vực thành thị; sự phối hợp giữa các kênh huy động
vốn còn chưa đồng bộ; khung pháp lý mới được xây dựng và
hình thành, các nguyên tắc quản lý và chuẩn mực quốc tế về tính
minh bạch, công khai tuy đã được áo dụng, song còn nhiều vấn
đề cần được hoàn thiện; năng lực cung ứng dịch vụ tài chính còn
hạn chế
- Vấn đề quản lý, điều hành của Nhà nước còn những mặt hạn
chế, chưa có sự phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước đối
với thị trường tài chính và dịch vụ tài chính; còn có tình trạng cơ
quan quản lý Nhà nước can thiệp vào các hoạt động của chủ thể,
trong khi đó lại buông lỏng giám sát thị trường, sự phối hợp quản
lý và điều hành giữa các kênh huy động, giữa các loại thị trường
(thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường bất động sản ) còn

như các định chế tài chính, thị trường tiền tệ là định chế quan
trọng trong cơ chế chuyền dẫn của chính sách tiền tệ. Một thị
trường tiền tệ kém phát triển khó có thể chuyền dẫn chính xác
các quyết định của NHTW và ngược lại NHTW khó có thể nhận
được các tín hiệu của thị trường để đưa ra các quyết định chính
xác nhằm đạt được mục tiêu. Tạo điều kiện thực hiện các công
cụ mới của chính sách tiền tệ, đặc biệt là các công cụ gián tiếp
như nghiệp vụ thị trường mở, hoàn thiện thị trường liên ngân
hàng nội tệ và ngoại tệ.
Các tổ chức tín dụng hoàn toàn tự xác định lãi suất trên cơ sở lãi
suất cơ bản. khi lãi suất được tự do hoàn toàn thì đó là tín hiệu
phản ánh đúng đắn quan hệ cung cầu. Xây dựng một số NHTW
khu vực mới chức năng thực hiện cơ bản toàn bộ nghiệp vụ
NHTW, đồng thời đảm bảo cung ứng đầy đủ các dịch vụ t
ài chính
cần có trên địa bàn. NHNN cần tăng cường phối hợp với các
NHTW và các tổ chức tài chính quốc tế để ngăn ngừa rủi ro, qua
đó hạn chế biến động của các thị trường tài chính trong nước và
đảm bảo an toàn cho hệ thống NH Việt Nam, hệ thống NHTM và
thị trường tiền tệ hoạt động an toàn và hiệu quả tọa điều kiện
thuận lợi cho việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách
tiền tệ.
Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao cho thị trư
ờng
tài chính. Đối với các dịch vụ ngân hàng truyền thống, hiện cần
có cải tiến cải tiến quy trình nghiệp vụ huy động vốn; tăng cường
trang thiết bị chương trình phần mềm để mở rộng phạm vi hệ
thống thanh toán; mở rộng mạng lưới giao dịch; cần cải tiến
nghiệp vụ sử dụng vốn; mở rộng các dịch vụ hiện có, đồng thời
triển khai các dịch vụ mới như: dịch vụ về huy động vốn, phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status