Một số giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả cho thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 12

MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt........................................................................................iv
Danh mục các sơ đồ và hộp.......................................................................................v
Lời mở đầu..........................................................................................................vi
Chương 1 ................................................................................................................................. 7
CƠ SỞ CỦA LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ......................................................7
1.1. Quan niệm về thị trường hiệu quả.........................................................................7
1.2. Lý thuyết và một số thực nghiệm quan trọng về thị trường hiệu quả ............12
1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý thuyết thị trường hiệu quả .............................54
Chương 2 ................................................................................................................................ 62
KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ CỦA THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ........................................................................... 62
2.1. Khái quát thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam ............................................... 62
2.1.1. Những vấn đề chung về thị trường chứng khoán ............................................ 62
2.1.2. Khái quát thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam .............................. 72
2.1.3. Các giai đoạn biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam .................. 85
2.1.4. Đánh giá tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam trong thời gian qua .................................................................................................. 96
2.2. Kiểm định tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam .................................. 99
2.2.1. Kiểm định thực tế với thị trường hiệu quả thể yếu ....................................... 101
2.2.2. Kiểm định thực tế với thị trường hiệu quả trung bình ................................. 114
Chương 3 .............................................................................................................................. 122
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TÍNH HIỆU QUẢ CHO THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ......................................................................... 122
3.1. Lý luận chung về điều kiện cần cho một thị trường hiệu quả theo EMH ........ 122
3.1.1. Thị trường hiệu quả một cách tổng thể .......................................................... 122
3.1.2. Thị trường hiệu quả theo EMH ....................................................................... 125
3.2. Nâng cao tính hiệu quả cho thị trường chứng khoán Việt Nam .................................. 127
3
3.2.1. Định hướng thị trường chứng khoán Việt Nam và quan điểm phát
triển thị trường ............................................................................................................... 127

chính thống, nền tảng của ngành tài chính. Đặc biệt hơn, cùng với sự phát
triển của thị trường chứng khoán thì lý thuyết này lại càng tỏ ra mạnh hơn bất
kỳ lý thuyết nào, nó là kim chỉ nam cho nhiều học giả phân tích chứng khoán.
Một cách tổng quát, việc tiếp cận lý thuyết thị trường hiệu quả trong
phân tích tài chính phải xuất phát từ khái niệm thị trường hoàn hảo trong kinh
tế học. Có nghĩa, một thị trường được coi là hoàn hảo khi nó đảm nhiệm được
chức năng của nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, tức là nó sử dụng các đầu vào
7
khan hiếm một cách hiệu quả. Trong nghiên cứu kinh tế nói chung và trong
phân tích tài chính nói riêng, một thị trường được coi là hoàn hảo (hiệu quả)
khi nó hiệu quả về mặt về mặt phân phối, hiệu quả về tổ chức hoạt động của
thị trường, hiệu quả về mặt thông tin.
Hiệu quả về mặt phân phối:
Một thị trường được coi là hiệu quả về mặt phân phối khi thị trường đó
có khả năng đưa được các nguồn lực khan hiếm đến người sử dụng sao cho
người đó trên cơ sở nguồn lực có được sẽ tạo ra kết quả lớn nhất, tức là họ sử
dụng được một cách tối ưu. Người sử dụng tốt nhất cho nguồn lực huy động
được là người có khả năng trả giá cao nhất cho quyền được sử dụng nguồn
lực đó.
Hiệu quả về tổ chức hoạt động của thị trường:
Trong xu thế chung, vai trò thị trường chứng khoán trong hệ thống tài
chính ngày càng trở nên quan trọng. Thị trường chứng khoán hướng dòng vốn
vào những vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất dịch chuyển dòng
vốn thể hiện thông qua quy mô giao dịch. Tính hiệu quả trên phương diện tổ
chức hoạt động thể hiện rõ ràng bởi khả năng làm cực đại hóa quy mô giao
dịch trên một thị trường chứng khoán cụ thể.
Việc tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán với mục tiêu cực
đại hóa quy mô giao dịch phải dựa trên các nguyên tắc căn bản như ở các thị
trường khác là:
- Mở rộng khả năng lựa chọn “hàng hóa - các loại chứng khoán” và

Euge Fama (1970) là người đầu tiên phân chia ra các dạng hiệu quả của
thị trường thành ba giả thuyết thành phần tương ứng với ba tập thông tin được
xem xét.
- Tập hợp thông tin dạng yếu: tập hợp thông tin chỉ bao hàm các dữ liệu
lịch sử về loại chứng khoán đang phân tích.
- Tập hợp thông tin dạng trung bình: tập hợp thông tin bao gồm tất cả
các dữ liệu phù hợp đã được công bố ra công chúng trong quá khứ và
hiện tại.
- Tập hợp thông tin dạng mạnh: tập hợp thông tin bao gồm tất cả các dữ
liệu được biết, không kể các dữ liệu đó có được công bố hay không.
Như vậy, từ tương ứng với ba tập thông tin trên, thị trường hiệu quả
được phân chia ra thành ba cấp độ hiệu quả hay ba dạng hiệu quả, đó là thị
trường hiệu quả dạng yếu, thị trường hiệu quả dạng trung bình và thị trường
hiệu quả dạng mạnh.
1.1.2.1. Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu
Giả thuyết thị trường hiệu quả giả định rằng giá chứng khoán hiện tại là
sự phản ánh đầy đủ mọi thông tin của thị trường chứng khoán, bao gồm các
chuyển dịch liên tục của giá, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các
thông tin chung khác như: mua bán lô lẻ, giao dịch lô lớn và các thương vụ
của các chuyên gia ngoại hối hay của các nhóm độc quyền khác. Vì nó giả
định rằng mức giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu nhập
trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là
lợi suất – suất sinh lời của chứng khoán trong quá khứ cũng như các thông tin
khác không có mối liên hệ với tương lai (các lợi suất độc lập với nhau).
10
1.1.2.2. Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình
Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình cho rằng giá chứng
khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là
mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai. Giả thuyết này bao
trùm lên giả thuyết hiệu quả dạng yếu vì tất cả các thông tin trên thị trường

ời sử dụng chúng thu
được lợi ích bất thư
ờng.
Thông tin: Mọi
thông tin công bố
Đặc điểm: Nếu thị
trường là hiệu quả
thì mọi thông tin
công bố không cho
phép người sử
dụng chúng thu đư
ợc lợi ích bất thư
ờng.
Thông tin: Mọi
thông tin có thể
Đặc điểm: Nếu thị
trường là hiệu quả
thì mọi thông tin có
thể (kể cả thông tin
ưu tiên) không cho
phép người sử
dụng chúng thu đư
ợc lợi ích bất thư
ờng.
Thị trường hiệu quả
Thị trường
hiệu quả
dạng yếu
Thị trường
hiệu quả dạng

tiết hơn về quá trình định hình giá. Tức là chúng ta cần phải làm rõ hơn ý
nghĩa của cụm từ “phản ánh đầy đủ”.
Lý thuyết lợi suất kỳ vọng này có thể được mô tả như sau:
( ) ( )
, 1 , 1
| 1 |
j t t j t t jt
E p E r p
+ +
 
Φ = + Φ
 
% %
(1)
trong đó:
E là ký hiệu kỳ vọng;
p
jt
là giá của chứng khoán j tại thời điểm t;
p
j,t+1
là mức giá tại thời điểm t+1;
r
j,t+1
là lợi suất một thời kỳ (=(p
j,t+1
– p
jt
)/p
jt

Chuỗi {x
jt
} xác định như vậy là một “trò chơi công bằng” đối với chuỗi
thông tin {Φ
t
}. Hay chúng ta cho:
( )
, 1 , 1 , 1
|
j t j t j t t
z r E r
+ + +
= − Φ
%
(4)
Khi đó:
( )
, 1
| 0
j t t
E z
+
Φ =
%
(5)
Do vậy, chuỗi {z
jt
} cũng là một “trò chơi công bằng” đối với chuỗi
thông tin {Φ}.
Theo thuật ngữ kinh tế thì x

( )
1 , 1 , 1
1
|
n
t j t j t j t t
j
V r E r
α
+ + +
=
 
= Φ − Φ
 

%
cũng dựa vào đặc điểm “trò chơi bình đẳng” của (5), ta có:
( )
( )
( )
1 , 1 , 1
1
| | 0
n
t t j t j t j t t
j
E V r E z
α
+ + +
=

t
}, nó có nghĩa là trên cơ sở tập thông tin Φ
t
thì mức
giá thời kỳ tới được kỳ vọng sẽ bằng hoặc lớn hơn mức giá hiện tại. Nếu (6)
đúng ở dạng phương trình (do vậy lợi suất kỳ vọng và thay đổi giá kỳ vọng
bằng không), khi đó chuỗi giá sẽ tuân theo martingale.
15
( )
, 1
|
j t t jt
E p p
+
Φ
%
=
(3) Mô hình bước ngẫu nhiên
Với giả thiết mà Maurise Kendall (1953) đưa ra là giá cổ phiếu biến
động trên TTCK thay đổi một cách ngẫu nhiên, không có quy luật và không
thể dự đoán được, và một giả định nữa là những thay đổi giá tiếp theo được
phân phối giống nhau đã cho ra đời mô hình bước ngẫu nhiên
Dạng mô hình là:
( ) ( )
, 1 , 1
|
j t t j t
f r f r
+ +
Φ =

Dự đoán giá chứng khoán tại mốc
t+1 trong khi chỉ có thông tin đến
mốc t
Giá chứng khoán tại mốc t
tương đối ít về chi tiết của quá trình ngẫu nhiên sinh ra lợi suất. Một bước
ngẫu nhiên hình thành trong một mô hình như vậy khi môi trường phải thỏa
mãn điều kiện là sự biến đổi về sở thích của nhà đầu tư và quá trình hình
thành thông tin mới phải kết hợp với nhau để tạo ra các trạng thái cân bằng,
trong đó phân phối lợi suất sẽ tự lặp đi lặp lại theo suốt thời gian.
1.2.1.2. Các mô hình thực nghiệm
Tất cả nghiên cứu thực nghiệm về lý thuyết thị trường hiệu quả đều gắn
với việc giá có phản ánh đầy đủ các tập thông tin hiện có không. Trong lịch sử
thì nghiên cứu thực nghiệm đã đi theo trật tự như sau. Các nghiên cứu ban đầu
gắn với các kiểm định dạng yếu, trong đó các tập thông tin được quan tâm là
mức giá (lợi suất) đã diễn ra trong quá khứ. Hầu hết các kết quả này đều xuất
phát từ lý thuyết bước ngẫu nhiên. Sau đó là các kiểm định dạng trung bình,
trong đó vấn đề quan tâm là tốc độ điều chỉnh giá trước các thông tin hiện có
được công bố (ví dụ thông báo về việc chia cổ tức, báo cáo hàng năm, phát
hành chứng khoán mới,…). Cuối cùng, các kiểm định dạng mạnh trong đó vấn
đề quan tâm là liệu gần đây, các nhà đầu tư hay các nhóm (ví dụ các nhà quản
lý các quỹ tương hỗ) có tính độc quyền trong việc tiếp cận đối với thông tin
liên quan về việc định hình giá hay không. Chúng ta sẽ điểm lại các nghiên
cứu thực nghiệm theo trật tự này.
(1) Các kiểm định dạng yếu đối với mô hình thị trường hiệu quả
Trước hết chúng ta sẽ điểm qua lại lịch sử của các nghiên cứu thực
nghiệm dạng này và sau đó sẽ là các kiểm định cụ thể về một số mô hình thị
trường hiệu quả ở dạng yếu.
17
Những nhận định đầu tiên và kiểm định mô hình bước ngẫu nhiên đầu
tiên là của Bachelier năm 1900 tuy vậy phải nhiều năm sau chúng mới tiếp tục

t t t t t t t
x
E x x x E x x f x dx
τ τ
+ +
=

% % % %
Trong đó f là hàm mật độ. Nhưng vì x
t
là một trò chơi công bằng nên
( )
| 0
t t
E x x
τ
+
=
% %
Từ đó rút ra cho tất cả các biến trễ thì chúng ta có hiệp phương sai
chuỗi giữa các giá trị trễ của một biến trò chơi bình đẳng bằng không. Do vậy
các quan sát của một biến trò chơi bình đẳng là độc lập tuyến tính với
nhau.
Nhưng mô hình trò chơi bình đẳng không nhất thiết hàm ý rằng hiệp
phương sai chuỗi của mức lợi suất một thời kỳ là bằng không. Trong các kiểm
định dạng yếu của mô hình này thì biến trò chơi công bằng là:
( )
, , , , 1 , 2
| , ,...
j t j t j t j t j t


% % % %
% % %
Và (9) không hàm ý rằng
( ) ( )
, 1 , 1
|
j t jt j t
E r r E r
+ +
=
% %
: trong mô hình thị trường
hiệu quả trò chơi công bằng, độ lệch của lợi suất thời kỳ t+1 so với mức kỳ
vọng có điều kiện của nó là một biến “trò chơi công bằng”, nhưng bản thân
giá trị kỳ vọng có điều kiện có thể phụ thuộc vào lợi suất quan sát được cho
thời kỳ t.
1
Trong lý thuyết bước ngẫu nhiên, vấn đề này không xảy ra, bởi vì nó
giả định rằng lợi suất kỳ vọng (và cả phân phối tổng thể của lợi suất) là dừng
theo thời gian. Trong thực tế, điều này hàm ý việc ước lượng hiệp phương sai
chuỗi bằng lấy tích chéo của độ lệch của lợi suất quan sát được so với lợi suất
trung bình của tổng thể mẫu. Thủ tục này biểu thị một xấp xỉ tổng nếu nhìn từ
1
Ví dụ, giả sử mức lợi suất một thời kỳ tuân theo một martingale. Khi đó ta có:
( )
, 1 , 1
| ,...
j t j t jt
E r r r

chứng khoán đó. Chúng ta chưa bàn luận về các kiểm định để xem liệu các
chứng khoán có được định giá hợp lý so với một chứng khoán khác hay chưa.
20
Nhưng để đánh giá liệu những khác biệt giữa lợi suất trung bình là phù
hợp hay chưa thì chúng ta cần xây dựng một lý thuyết kinh tế về lợi suất kỳ
vọng cân bằng. Hiện tại mới chỉ có một lý thuyết được xây dựng một cách
trọn vẹn là của Sharpe và Lintner. Trong mô hình này, (là sự phát triển trực
tiếp từ các mô hình danh mục trung bình-độ lệch chuẩn của trạng thái cân
bằng nhà đầu tư của Markowitz và Tobin, lợi suất kỳ vọng của chứng khoán j
từ thời kỳ t tới t+1 là:
( )
( )
( )
( )
( )
, 1 , 1
, 1 , 1
, 1 , 1
, 1 , 1
cov , |
|
|
| |
j t m t t
m t t f t
j t t f t
m t t m t t
r r
E r r
E r r

|
m t t
r
+
Φ
%
là phương sai của lợi suất của m; cov
( )
, 1 , 1
, |
j t m t t
r r
+ +
Φ
% %

hiệp phương sai giữa mức lợi suất của j và m; và sự xuất hiện của Φ
t
chỉ ra
rằng các lợi suất kỳ vọng, phương sai và hiệp phương sai về mặt nguyên tắc
có thể phụ thuộc vào Φ
t
.
Biểu thức (10) nói rằng lợi suất một thời kỳ của một chứng khoán được
kỳ vọng sẽ bằng với lãi suất phi rủi ro một thời kỳ là r
f,t+1
cộng với “phần
thưởng rủi ro” tỷ lệ với
( )
( )

m t t f t
m t t
E r r
r
σ
+ +
+
Φ −
Φ
%
%
là như nhau đối với tất cả các
chứng khoán, và được xem là giá thị trường của rủi ro.
Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định mức độ liên hệ của lợi suất
một loại chứng khoán cho trước với lợi suất của các chứng khoán khác. Nó
bắt đầu từ kết quả của Kendall: mặc dù những thay đổi giá cổ phiếu phổ thông
dường như không tương quan chuỗi với nhau nhưng lại có một mức độ tương
quan chéo khá cao giữa các lợi suất đồng thời của các loại chứng khoán. Điều
này đã được King tiếp tục nghiên cứu, ông đã sử dụng phân tích nhân tử của
một mẫu lợi suất hàng tháng của sáu mươi loại cổ phiếu N.Y.S.E trong giai
đoạn 1926-60 và phát hiện rằng: tính trung bình có khoảng 50% phương sai
của lợi suất của cổ phiếu cá biệt có thể được giải thích bằng “nhân tử thị
trường”, nó ảnh hưởng tới lợi suất của tất cả cổ phiếu, với “nhân tử ngành”
giải thích khoảng tối đa thêm 10% phương sai.
Tuy nhiên xuất hiện nghiên cứu của Fama, Fisher, Jensen và Roll
(FFJR) và một nghiên cứu mở rộng hơn của Blume đối với dữ liệu lợi suất
tháng là phù hợp hơn. Họ kiểm định mô hình thị trường do Markowitz đề xuất
lần đầu:
, 1 , 1 , 1j t j j M t j t
r r u

, 1 , 1 , 1 , 1
cov , | | |
j t m t t m t t m t t
j
r r r r
σ σ
+ + + +
Φ Φ = Φ

% % % %
22
thế giới lần thứ hai trong nghiên cứu của Blume), và (ii) r
M,t+1

, 1
ˆ
j t
u
+
ước
lượng được có tính độc lập chuỗi, và (iii)
, 1
ˆ
j t
u
+
dường như độc lập với r
M,t+1
.
Do vậy, các tính chất quan sát được của mô hình thị trường phù hợp với

vậy ta có:
, 1
( ) 1 ( )
j t f t j t
r
α β
+
 
Φ = − Φ
 
(14)

( )
( )
, 1 , 1
2
, 1
cov , |
( )
|
j t m t t
j t
m t t
r r
r
β
σ
+ +
+
Φ

(17)
Cả FFJR lẫn Blume đều không trực tiếp đề cập tới câu hỏi này, mặc dù
có một số minh chứng của Blume có liên quan tới. Cụ thể, quy mô của giá trị
23
j
α
%
ước lượng được rất phù hợp với (16) theo nghĩa là các ước lượng luôn gần
bằng không (phù hợp với dữ liệu lợi suất tháng).
3
(2) Các kiểm định mô hình martingale dạng trung bình
Các kiểm định dạng trung bình của mô hình thị trường hiệu quả đề cập
tới việc liệu mức giá hiện tại có phản ánh đầy đủ tất cả thông tin công bố công
khai không. Tuy nhiên, mỗi kiểm định cá biệt liên quan tới việc điều chỉnh giá
chứng khoán trước một sự kiện thông tin mới (ví dụ chia cổ tức, công bố các
báo cáo tài chính của doanh nghiệp, chia tách cổ phiểu, phát hành chứng
khoán mới,…).
Nghiên cứu lớn đầu tiên về việc chia tách cổ phiếu là của Fama, Fisher,
Jensen, và Roll (FFJR), và các nghiên cứu sau đó đều phù hợp hoặc mở rộng
hơn các kỹ thuật đã được xây dựng trong FFJR. Trước hết chúng ta hãy xem
xét về thực nghiệm của FFJR.
a. Thông tin về việc chia tách cổ phiếu
Việc chia tách cổ phiếu tức là làm tăng số cổ phiếu mà mỗi cổ đông
nắm giữ mà không làm tăng tài sản thực nên việc phân chia không nhất thiết
là nguồn thông tin mới. Giả thiết của FFJR đặt ra là việc phân chia này thường
đi kèm với sự xuất hiện của thông tin cơ sở quan trọng hơn. Ý tưởng là xem
xét lợi suất chứng khoán xung quanh thời điểm phân chia để xem liệu có một
3
Áp dụng bình phương nhỏ nhất vào dữ liệu lợi suất tháng, ước lượng của α
j

= − = + − + = − +
Do vậy, điều này mà Blume tìm ra là đối với hầu hết tất cả chứng khoán,
ˆ
ˆ
' 1
j j
β α
+ ≅
, nó hàm ý
rằng
ˆ
j
α
gần bằng không.
24
hành vi nào đó không bình thường, và nếu có thì mức độ nó được tính tới
trong các quan hệ giữa việc phân chia và các biến cơ sở khác là như thế nào.
Cách tiếp cận của FFJR đối với vấn đề này chủ yếu dựa vào mô hình thị
trường (11). Trong mô hình này, nếu việc chia tách cổ phiếu gắn với một hành
vi không bình thường thì điều này sẽ được phản ánh trong phần dư hồi quy
ước lượng được tại những tháng xung quanh thời điểm phân chia. Với việc
phân chia đã cho, coi tháng 0 là tháng diễn ra thời điểm phân chia thực sự,
tháng 1 là tháng ngay sau tháng phân chia, tháng -1 là tháng ngay trước khi
phân chia. Định nghĩa phần dư bình quân của toàn bộ các chứng khoán đêm
chia trong tháng m (lúc đó, với mỗi chứng khoán thì m sẽ được đo tương đối
với tháng chia) là:
1
ˆ
N
jm

m
là độ chệch tích lũy (của cả giai
đoạn khảo sát). Cuối cùng, chúng ta định nghĩa
, , ,
m m m m
u u U U
+ − + −
là các phần dư
bình quân và phần dư bình quân tích lũy của các chứng khoán chia tương ứng
với các mức cổ tức tăng (+) và giảm (-). Tăng là trường hợp phần trăm thay
đổi cổ tức của cổ phiếu đem chia trong năm sau năm chia lớn hơn phần trăm
thay đổi của toàn bộ thị trường, còn giảm là trường hợp ngược lại.
25
Khảo sát của FFJR cho biết phần dư bình quân tích lũy U
m
,
,
m m
U U
+ −
với
-29 ≤ m ≤ 30. Mẫu bao gồm tất cả 940 cổ phiếu chia tách trên N.Y.S.E trong
giai đoạn 1927-59, trong đó tỷ lệ trao đổi ít nhất là năm cổ phiếu mới đổi bốn
cổ phiếu cũ, và trong đó chứng khoán được liệt kê ra ít nhất mười hai tháng
trước và sau thời điểm chia.
Tức là các tác giả đã tiến hành ba kiểm định:
- Kiểm định trên toàn bộ mẫu.
- Kiểm định với một phần mẫu gồm nhóm những doanh nghiệp thực
hiện chia tách cổ phiếu (thưởng) nhưng cổ tức bằng tiền cao hơn mức trung
bình trên thị trường.

hơn. Do vậy, việc tăng giá mạnh trong những tháng ngay trước thời điểm trả
cổ tức có thể là do sự thay đổi kỳ vọng liên quan tới mức thu nhập tiềm năng
của doanh nghiệp chứ không phải là tác động cố hữu của bản thân việc chia
tách cổ phiếu.
Nếu giả thuyết này đúng thì hành vi lợi suất sau khi chia sẽ phải khác
rất nhiều đối với những trường hợp mà cổ tức thực sự tăng lên so với những
trường hợp chúng chưa thực sự tăng. FFJR lý luận rằng những khác biệt nằm
ở hướng được dự đoán. Thực tế là phần dư bình quân tích lũy đối với các
trường hợp cổ tức tăng có khuynh hướng tăng lên nhưng chỉ tăng một chút
trong năm sau khi chia cổ tức là phù hợp với giả thuyết cho rằng khi việc chia
tách cổ phiếu được công bố thì có một điều chỉnh giá với dự kiến mức cổ tức
tương lai sẽ tăng. Nhưng hành vi của phần dư của chứng khoán sau khi chia
gắn với trường hợp cổ tức giảm lại còn đưa ra bằng chứng rõ nét hơn cho giả
thuyết chia tách cổ phiếu. Phần dư bình quân tích lũy của những cổ phiếu này
tăng trong một khoảng thời gian rất ngắn trước khi chia, nhưng sau đó lại
giảm mạnh trong một thời gian rất ngắn sau khi chia khi dự kiến tăng cổ tức
thường và dương. Các tháng có phần dư lớn cũng không giống nhau giữa các chứng khoán, và những khác
biệt về thời điểm giải thích tại sao dấu của phần dư bình quân thường dương trong nhiều tháng trước khi chia
cổ tức.
27

Trích đoạn Một số kiến nghị Kiểm định thực tế với thị trường hiệu quả trung bỡnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status