Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU.
Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường chứng khoán trở
thành một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trường. Nó đang hoạt động khá sôi nổi tại nền kinh tế của các nước phát triển
như Mỹ, Anh, Pháp… Có thể nói thị trường chứng khoán là kênh thu hút vốn
nhanh chóng và có hiệu quả nhất cho các nước đang phát triển trong thời kì
đổi mới. Chính vì lý do trên thị trường chứng khoán là rất cần thiết.
Tại Việt Nam thị trường chứng khoán đã manh mún phát triển từ năm
2000 nhưng phải đến sau khi ra nhập WTO thị trường chứng khoán mới sôi
động và các công ty chứng khoán lần lượt ra đời. Kinh nghiệm còn hạn chế,
các công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu và rất mạnh mẽ về mảng tự
doanh chứng khoán. Hoạt động này tạo ra nguồn thu nhập chính cho các công
ty chứng khoán trong thời gian đầu bước chân vào lĩnh vực mới này.
Tìm hiểu về thị trường chứng khoán Việt Nam để thấy cơ hội và thách
thức. Từ hoạt động của Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình để thấy được
điểm yếu điểm mạnh trong thời điểm hiện nay. Từ đó đưa ra một số giải pháp
có thể có nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự doanh chứng khoán của
công ty. Với việc chọn đề tài:
“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự doanh
chứng khoán của Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình”
em mong sẽ hiểu rõ hơn về hoạt động của công ty chứng khoán, hiểu về hoạt
động kinh doanh diễn ra trên thị trường, biết được cơ hội thách thức đang chờ
đón chúng ta.
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kết cấu của bài viết gồm có 3 chương:
o Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán.
o Chương 2: Thực trạng hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty
Cổ phần Chứng khoán An Bình.
hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó
thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.(giáo trình kiến thức cơ bản về chứng
khoán và thị trường chứng khoán)
Khác với trước đây, việc huy động vốn tiết kiệm và đầu tư thường tách
rời nhau nên không thể biết khoản đầu tư của mình có hiệu quả hay không.
Nhưng ngược lại qua thị trường chứng khoán, quyền sở hữu vốn và quyền sử
dụng gắn liền với nhau, nhà đầu tư có thể kiểm soát, quản lý trực tiếp vốn đầu
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tư của họ, tính thanh khoản của thị trường cao. Đây là đặc tính ưu việt của
loại thị trường này.
1.1.2. Chức năng của thị trường chứng khoán.
1.1.2.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Trong dân cư luôn luôn tồn tại những khoản tiền nhàn rỗi. Vì thế thông
qua thị trường chứng khoán các nhà phát hành bán chứng khoán, các nhà đầu
tư có tiền nhàn rỗi mua chứng khoán đó. Và kết quả là số tiền của các nhà đầu
tư chảy vào các công ty phát hành. Các công ty này sẽ đưa vốn đó vào sản
xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất của công ty nói riêng, và sản xuất xã hội
nói chung. Mặt khác chính phủ và chính quyền các địa phương cũng có khả
năng huy động được vốn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, phục vụ
cho đất nước.
1.1.2.2. Chức năng cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng.
Trên thị trường chứng khoán có rất nhiều lựa chọn đầu tư phong phú và
đa dạng. Tại đây nhà đầu tư chủ động hơn với đồng vốn của mình, trực tiếp
tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát hoạt động của công ty. Mỗi công ty
niêm yết trên thị trường lại có những hấp dẫn riêng đối với từng nhà đầu tư
như: khả năng sinh lời, triển vọng phát triển trong tương lai, độ rủi ro… việc
tham gia vào thị trường chứng khoán rất dễ dàng, không quá phức tạp. Vì thế
những người có tiền nhàn rỗi sẽ có nhu cầu đầu tư nhiều hơn, làm tăng mức
các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm định hướng cho các nhà đầu tư để đảm bảo
cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Và thị trường chứng khoán chính là
nơi chính phủ có thể phát hành trái phiếu có hiệu quả để tạo nguồn thu bù đắp
thâm hụt ngân sách, quản lý lạm phát.
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.3. Phân loại thị trường chứng khoán.
1.1.3.1. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn gồm có thị trường sơ cấp và
thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát
hành. Thông qua thị trường sơ cấp các công ty có thể huy động vốn qua việc
phát hành chứng khoán, các khoản tiền trong dân cư được huy động một cách
có hiệu quả. Thường thì đây là nơi duy nhất để huy động vốn bằng chứng
khoán, giá của chứng khoán thì do các nhà phát hành, hoặc công ty tư vấn
phát hành xác định, nó được in ngay trên chứng khoán mà không thay đổi và
không có nhà đầu tư nơi đây mà chỉ có các công ty chứng khoán, kho bạc,
ngân hàng nhà nước…
Khác với thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp lại là nơi giao dịch các
chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Và giá của chứng
khoán do thị trường quyết định theo nguyên tắc cạnh tranh, sự chênh lệch về
giá của chứng khoán tạo ra khoản tiền thu được mà nó sẽ thuộc về nhà đầu tư,
nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về công ty phát hành chứng
khoán. Và hoạt động trên thị trường sơ cấp là hoạt động liên tục và nhiều lần,
các nhà đầu tư tự do mua bán mà không có cản trở gì. Hoạt động mua bán
trên thị trường không làm thay đổi vốn của công ty phát hành.
1.1.3.2. Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường chứng khoán gồm
có thị trường tập trung và thị trường phi tập trung.
Thị trường chứng khoán tập trung là thị trường hoạt động theo đúng
các quy định của pháp luật, là nơi các nhà đầu tư, người môi giới tập trung
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần.
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.1.2. Các hình thức phân loại.
Trên thực tế có nhiều cách phân loại cổ phiếu khác nhau. Nhưng cách
thức được sử dụng nhiều nhất là căn cứ vào quyền lợi cổ đông thì có cổ phiếu
thường và cổ phiếu ưu đãi. Một công ty thì không thể thiếu cổ phiếu phổ
thông, đó là điều bắt buộc, còn cổ phiếu ưu đãi thì có hay không không thật
cần thiết, nó là hình thức để khuyến khích đối với nhà đầu tư. Cổ phiếu phổ
thông là cổ phiếu khá phổ biến, là lựa chọn đầu tiên của các công ty. Vì nó có
nhiều đặc tính mà không loại cổ phiếu nào có như: quyền sở hữu, quyền mua
cổ phiếu mới và quyền nhận cổ tức. Điều này có thể hiểu như sau:
Cổ phiếu phổ thông không quy định số cổ tức sẽ được nhận mà cổ tức
được chi trả dựa trên thành tích hoạt động kinh doanh của công ty. Tỷ lệ chi
trả cổ tức do Hội đồng quản trị công ty xác định nhưng lại do đại hội đồng cổ
đông quyết định. Vì thế có thể nói cổ tức là không cố định. Khi công ty làm
ăn thất bát thì các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường sẽ không được nhận cổ
tức và ngược lại sẽ chia cổ tức khi hoạt động mang lại lợi nhuận. Cổ đông
cũng là người được nhận lại vốn sau lúc công ty trang trải hết các khoản nợ
khi công ty phá sản.
Người nắm giữ cổ phiếu có lợi là người được ưu tiên mua cổ phiếu mới
trước nhất với mức giá ưu đãi khi công ty có phương án phát hành thêm cổ
phiếu. Tỷ lệ mua cổ phiếu mới tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu mà cổ đông đang
nắm giữ, nếu cổ đông không sử dụng quyền này có thể chuyển nhượng trên
thị trường. Bằng cách này hay cách khác công ty đều có thể huy động thêm
được vốn. Một cái lợi nữa của cổ đông nắm giữ cổ phiếu phổ thông là cổ
đông có quyền biểu quyết, tham gia vào việc quản lý hoạt động của công ty.
Cổ phiếu phòng vệ là cổ phiếu có sức chống đỡ với thị trường ngay cả
khi nền kinh tế suy thoái.
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cổ phiếu thu nhập là cổ phiếu của công ty có mức trả cổ tức cao hơn
bình thường. Thích hợp cho những người muốn có thu nhập ổn định.
Trong mọi trường hợp đều không thể loại bỏ rủi ro được. Rủi ro luôn
tồn xung quanh chúng ta, có rủi ro từ bên ngoài (rủi ro hệ thống) và có những
rủi ro từ trong công ty (rủi ro không hệ thống), những rủi ro này sẽ ảnh hưởng
đến số lượng lợi tức cổ đông nhận được.
Khi nắm giữ cổ phiếu của một công ty cổ đông không thể biết chính
xác giá cổ phiếu của công ty này tăng hay giảm như thế nào mà tất cả chỉ là
suy đoán. Tác động của rủi ro hệ thống không kiểm soát, điều chỉnh được mà
chỉ có thể hạn chế nó. Nó có ảnh hưởng đến tất cả các công ty, mọi ngành
nghề trong nền kinh tế không loại trừ một ai như: lạm phát, như chính sách
kinh tế vĩ mô của nhà nước... Còn rủi ro không hệ thống phát sinh từ hoạt
động nội tại của công ty, phụ thuộc vào năng lực quản lý, vào kế hoạch phát
triển và khả năng tiếp cận khách hàng... Ảnh hưởng chỉ ở phạm vi nhỏ trong
một ngành và trong một công ty. Rủi ro này thể hiện được năng lực hoạt
động của công ty, nhà đầu tư có thể dùng các phương pháp khác nhau để đánh
giá.
Nhà đầu tư khi trở thành cổ đông của công ty họ sẽ nhận ra một điều là
việc mua cổ phiếu là không có quy định thời gian trả vốn. Họ có thể nắm giữ
cổ phiếu đó đến lúc nào tùy theo mong muốn của họ. Các cổ đông khi thực
hiện chuyển nhượng cổ phiếu thì cổ phiếu đó lại thuộc về ai đó và người này
lại giữ cổ phiếu đó mà không cần có sự trả lại vốn của công ty phát hành, đó
là hoạt động chuyển giao quyền sở hữu thông qua hoạt động mua bán trên thị
trường. Đây là một đặc điểm riêng có của hầu hết các chứng khoán. Về mặt
bản chất cổ phiếu là phần vốn góp chứ không phải phần nợ nên nó chỉ được
và các công trình phúc lợi. Trái phiếu công ty do công ty phát hành vì mục
tiêu huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Nhưng đặc điểm khác lớn
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhất để phân biệt cổ phiếu và trái phiếu là người nắm giữ trái phiếu không
được tham gia vào hoạt động công ty, được thanh toán gốc trước các cổ đông
khi công ty giải thể, và để đảm bảo hơn thì có những tài sản đảm bảo cho
khoản vay.
1.2.2.3. Đặc điểm của trái phiếu.
Khác với cổ phiếu chỉ do công ty phát hành thì trái phiếu do công ty và
chính phủ phát hành. Trái phiếu về thực chất thể hiện quan hệ chủ nợ và con
nợ, người phát hành trái phiếu là con nợ còn trái chủ là chủ nợ. Vì đặc tính đó
này mà trái phiếu cần tài sản đảm bảo, không ít nhất cũng phải có ưu đãi nhất
định, những cam kết về vấn đề thanh toán nợ. Trái chủ chỉ nắm giữ phần nợ
nên không có quyền tham gia vào hoạt động của tổ chức phát hành.
Trái phiếu mang lại cho nhà đầu tư 3 khoản lợi đó là tiền lãi định kì,
chênh lệch giá khi tiến hành mua bán lại trái phiếu và khoản thứ 3 mà cổ
phiếu không có là lãi của lãi, với các khoản lãi nhận được nhà đầu tư có thể
tiến hành tái đầu tư thu lợi nhuận.
Trái phiếu có thời gian đáo hạn nhất định. Thời hạn này cho nhà đầu tư
biết chính xác thời điểm khi nào thì họ sẽ được nhận lại vốn đã cho vay. Thời
gian đáo hạn càng dài thì giá trị thực tế của trái phiếu càng nhiều biến động,
rủi ro càng lớn. Với trái phiếu thời gian thu hồi vốn là một con số hữu hạn.
Đến ngày đáo hạn nhà đầu tư sẽ được nhận cả gốc và lãi bằng chính mệnh giá
của trái phiếu họ sở hữu. Lãi suất dùng để tính toán trong trái phiếu là lãi suất
cuống phiếu hay chính là lãi suất danh nghĩa. Vì thế lãi suất thực của trái
phiếu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như lạm phát, cung cầu tín dụng,
thâm hụt ngân sách… Một sự biến động trong các yếu tố trên theo hướng tích
cực hay tiêu cực trong thời gian nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu đều ảnh hưởng
lượng chứng chỉ quỹ mà họ nắm giữ. Chứng chỉ quỹ được mua bán tự do trên
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thị trường. Nó dễ dàng chuyển đổi thành tiền, hay tính thành khoản của chứng
chỉ quỹ cao.
Những người có tiền nhàn rỗi thường có mong muốn đầu tư kinh
doanh, nhưng với lượng kiến thức về lĩnh vực họ muốn đầu tư không cao.
Hoặc do họ bị hạn chế về vốn vì thế kèm theo đó là tỷ trọng phí giao dịch
trong tổng vốn đầu tư sẽ cao. Họ sẽ không thu được nhiều lợi trong việc đầu
tư và gặp nhiều rủi ro nếu họ bỏ hết vốn vào trong cùng “một giỏ” hàng hóa.
Chính vì thế đây là lựa chọn có lợi nhất cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Với một số
vốn khiêm tốn nhà đầu tư vẫn có thể sở hữu một danh mục đầu tư đa dạng và
ngăn chặn được những rủi ro có thể tránh được: rủi ro về sự thiếu thông tin
đầu tư, rủi ro chi phí…
1.2.4. Chứng khoán có thể chuyển đổi.
1.2.4.1. Định nghĩa.
Chứng khoán có thể chuyển đổi là chứng khoán cho phép người nắm
giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể chuyển
đổi nó lấy một chứng khoán khác.
Thông thường có loại trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu thường và
cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường.
1.2.4.2. Đặc điểm.
Chứng khoán có thể chuyển đổi là biện pháp được thực hiện để tăng
vốn tự có khi mà tổ chức phát hành chưa có đủ điều kiện để phát hành cổ
phiếu thường hoặc trong trường hợp muốn tăng sức hấp dẫn cho đợt phát
hành của tổ chức. Loại chứng khoán này hấp dẫn vì nó mang lợi ích cho cả
nhà phát hành và nhà đầu tư. Cụ thể:
Chứng khoán có thể chuyển đổi có lợi cho nhà phát hành trong việc
giảm các khoản phải trả cố định và tăng thêm cổ đông cho công ty. Trái phiếu
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.5.2. Các công cụ chứng khoán phái sinh.
* Quyền mua cổ phần là quyền ưu tiên mua trước dành cho cổ đông hiện
hữu của công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong đợt phát hành
tương đương với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại một mức giá
xác định, thấp hơn mức giá chào bán và trong thời hạn nhất định.
Mức giá đăng kí trong quyền mua cổ phiếu luôn luôn thấp hơn giá hiện
hành của cổ phiếu đó trên thị trường tại thời điểm phát hành. Sự chênh lệch
này tạo ra sự hấp dẫn cho đợt phát hành và cũng để tránh rủi ro khi giá cả trên
thị trường sụt giảm phá hoại thành công của đợt phát hành.
Mỗi một cổ phần đang lưu hành tương ứng với một quyền. Để biết mỗi
cổ phiếu mới được phép mua tương ứng với bao nhiều quyền thì các công ty
phát hành thường tính theo cách sau:
Số lượng quyền cần để mua một cổ phần mới = số lượng cổ phần đang lưu
hành / số lượng cổ phần mới.
Cổ đông nào cũng có quyền nhưng nếu không muốn thực hiện quyền
thì họ có thể bán chúng trên thị trường trong thời hạn thực hiện quyền.
* Chứng quyền là loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền
được mua một số lượng xác định một loại chứng khoán khác với một mức giá
xác định và trong thời hạn nhất định. Mức giá cổ phiếu ghi trong chứng quyền
thường cao hơn mức giá thị trường của cổ phiếu đó (thường 15%) vì thị
trường luôn có biến động theo chiều tích cực theo như mong muốn của tổ
chức phát hành.
Người sở hữu chứng quyền có quyền mua cổ phiếu thường với mức giá
xác định và thời gian thực hiện dài. Nhà đầu tư nắm giữ chứng quyền không
phải là cổ đông trong công ty, không được nhận cổ tức và không có quyền
biểu quyết. Nhà đầu tư chỉ trở thành cổ đông khi thực hiện chứng quyền đó.
Nguyễn Thị Tâm QLKT46B