Đề tài:Toàn cầu hóa tác động tới lao động và việc làm
Việt Nam.
A.Lời nói đầu
Thế giới đang chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hoà bình, hợp tác, phát
triển. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng tất yếu của thời i.đạ
Các qu c gia dân t c qua ó có th gi i quy t nh ng v n chung cùngố ộ đ ể ả ế ữ ấ đề để
phát tri n. Tuy nhiên ta c ng nh n ra m t trái c a nó khi m t th gi i bao g mể ũ ậ ặ ủ ộ ế ớ ồ
a d ng các qu c gia dân t c, v i s ph c t p, muôn màu c a các n n kinh t ,đ ạ ố ộ ớ ự ứ ạ ủ ề ế
chính tr , v n hoá-xã h i ang c ng tham gia vào quá trình này.ị ă ộ đ ũ
Trước xu hướng chung của thế giới, quá trình toàn cầu hoá đã mang lại
nhiều cơ hội cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội ở nước ta, là một
trong nh ng nhân t c c u l i và hi n i hoá n n kinh t phát tri n ngu nữ ố để ơ ấ ạ ệ đạ ề ế ể ồ
nhân l c, làm t ng n ng su t lao ng và c i thi n thu nh p c a ng i laoự ă ă ấ độ ả ệ ậ ủ ườ
ng. V c b n n c ta có n n chính tr -xã h i n nh, c coi là m tđộ ề ơ ả ướ ề ị ộ ổ đị đượ ộ
trong nh ng n i an toàn cho u t , h p tác và giao l u qu c t . T ng tr ngữ ơ đầ ư ợ ư ố ế ă ưở
kinh t ã c i thi n c tình tr ng thu nh p bình quân u ế đ ả ệ đượ ạ ậ đầ người quá thấp
trước chuyển đổi kinh tế.Và thực tiễn cho thấy, xu thế toàn cầu hoá không
những tác động đến toàn bộ nền kinh tế, mà còn tác động lớn đến các vấn đề
về lao động. Các nhân tố của toàn cầu hoá đã tác động đến mở rộng việc làm,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển thị trường thị trường lao động,
tăng thu nhập của người lao động trong nhiều khu vực, ngành nghề. Năng
suất lao động trong nhiều khu vực, ngành đã đạt mức cao hơn nhiều so với
thời kỳ trước đổi mới. Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng đặt ra những thách thức
đối với vấn đề laođộng, việc làm và phát triển nguồn nhân lực nước ta. Lực
1
lượng lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ còn thấp, chất lượng đào tạo còn bất
cập chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là cho các ngành,
lĩnh vực công nghệ cao, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các loại
hình dịch vụ hiện đại; tỷ lệ thất nghiệp còn cao; thu nhập của người lao động
con thấp. Lao động Việt Nam còn phải khắc phục những bất cập theo chuẩn
mực lao động của khu vực và quốc tế để có đủ điều kiện tham gia hội nhập.
1.Thực trạng về vấn đề việc làm đối với lao động Việt Nan trong bối
cảnh toàn cầu hoá
1.1.FDI và vấn đề việc làm
1.2. Tham gia các định chế thương mại khu vực, toàn cầu và ảnh hưởng tới việc
làm: Tham gia AFTA, APEC và các hiệp định thương mại khác
1.3. Biến động lao động và thất nghiệp dưới tác động của toàn cầu hoá
1.3.1Biến động lao động trong khu vực doanh nghiệp dưới tác động của toàn
cầu hóa
1..3.2. Vấn đề thất nghiệp dưới tác động của toàn cầu hoá
2.Thực trạng về vấn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
toàn cầu hóa
2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phù hợp với quá trình chuyển
giao công nghệ
2.2. Vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo, bồi dưỡng nhân lực
2.3. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của lao động
nước ta
2.4.Những bất cập trong việc phát triển nguồn nhân lực VN đáp ứng yêu cầu
toàn cầu hóa
III.GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VIỆT NAM DƯỚI
TÁC
ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ
1.Giải pháp về việc làm và chống thất nghiệp
+) Ổn định nền kinh tế vĩ mô và đào tạo bầu không khí đầu tư lành mạnh
trong toàn xã hội
+)Lựa chọn công nghệ ngoại nhập thích hợp
+) Hoàn thiện các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài
+) Xây dựng và hoàn thiện các chính sách đối phó với những khả năng tác
động mạnh mẽ của việc thực hiện các quá trình tự do hoá thương mại.
2.Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
+)Đào tạo nhân lực cho phát triển các lĩnh vực công nghệ cao.
thể được xem xét như một quá trình lịch sử tự nhiên.
Roland Robertson là người đi đầu trong quan niệm này. Ông gọi nó là
quá trình hội tụ thế giới trên phạm vi rộng, phân biệt với các quá trình trên
phạm vi nhỏ hơn diễn ra trong quốc gia hay địa phương. Hàm ý của
R.Robertson là lịch sử toàn thế giới đi theo một tiến trình hợp nhất, thông qua
việc hình thành nên những thực thể xã hội lớn dần ,mà lớn nhất là thực thể
toàn cầu và ngay trong quá trình hình thành các thực thể trung gian đã hàm
chứa quá trình toàn cầu hoá, dưới dạng manh nha. Ông cho rằng, tiến trình
toàn cầu hoá bắt đầu ở Châu Âu đầu thế kỷ XV. Nó được mở rộng ra ngoài
phạm vi Châu Âu từ giữa thế kỷ XVIII. Robertson phân quá trình này thành
hai giai đoạn: từ 1750 đến 1870 là giai đoạn “toàn cầu hoá phôi thai”, còn từ
1870 đến những năm 1920 như là giai đoạn thiết yếu của sự “cất cánh” đưa
đến sự thiết lập một xã hội toàn cầu. Hai giai đoạn này được xác định với một
hỗn hợp của những sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá và công nghệ. Từ
cách tiếp cận xã hội học tôn giáo, Robertson vẫn có được một cái nhìn khá
biện chứng về quá trình toàn cầu hoá. Ông không coi nó là quá trình đồng
nhất toàn cầu, mà là sự thâm nhập lẫn nhau giữa cái toàn cầu (the global) và
cái địa phương (the local).
Trong kinh doanh, nó thể hiện bằng sự hợp tác toàn cầu đáp ứng nhu cầu
sản phẩm và thị trường của địa phương theo từng hoàn cảnh cụ thể, tương
thích với sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng. Từ đó, Robertson đưa ra khái
niệm “glocalization” hay “local globalization” (toàn cầu hoá có tính địa
phương.
5
Tóm lại, toàn cầu hoá kinh tế bao hàm sự lưu chuyển ngày càng tự do
hơn và nhiều hơn hàng hoá, vốn, công nghệ và lao động vượt ra khỏi biên giới
quốc gia. Đó chính là phương thức để giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong
quá trình phát triển của sức sản xuất, một quá trình làm cân đối cung cầu đối
với những yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất, bao gồm vốn, công nghệ,
quản lý, nhân công và hàng hoá nhằm tối ưu hoá việc phân bố và sử dụng
việc làm và thu nhập cao hơn.
Xét theo nghĩa rộng đây chính là những hình thức khác nhau của thị
trường lao động quốc tế vì lực lượng lao động làm việc trong các công ty
được quản lý tập trung theo những tiêu chuẩn nhất định, buộc người lao động
phải học hỏi nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu công việc giống nhau trong
các chi nhánh của công ty tại các quốc gia khác nhau. Lao động tại các quốc
gia đang phát triển được thu hút vào các chi nhánh công ty xuyên quốc gia.
6
Như vậy, thực chất vẫn có sự dịch chuyển lao động nhưng không vượt qua
biên giới quốc gia. Một hình thức phân công lao động quốc tế và dịch chuyển
lao động vô hình nữa là trong thời đại tin học và Internet này nay, một người
vẫn ngồi ở quốc gia mình mà vẫn có thể làm việc cho một công ty ở quốc gia
khác thông qua mạng Internet. Như vậy, cho dù không có sự di chuyển lao
động, trên thực tế lao động vẫn được quốc tế hoá, có sự phân công và ràng
buộc lẫn nhau. Đây là những điểm mới của thị trường lao động quốc tế trong
bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
Toàn cầu hoá, cùng với những nỗ lực cải cách đi liền với nó, đã làm tăng
áp lực cạnh tranh trên các thị trường sản phẩm. Áp lực cạnh tranh gia tăng
đến lượt mình sẽ làm giảm bớt mức độ định đoạt tiền lương và phân biệt đối
xử với lao động nữ của những người sử dụng lao động. Không chỉ có vậy,
nhờ có thương mại hàng hoá và dịch vụ, nhờ sự chu chuyển về vốn và các
luồng di chuyển trên thị trường, thu nhập từ lao động trong xu hướng dài hạn
ở các nước đang phát triển ngày một tăng. Tác động tích cực của toàn cầu hoá
đến tiền lương trước hết được chỉ ra trong mối liên hệ chặt chẽ giữa tiền
lương và năng suất ở trong một quốc gia. Nhìn chung các nhà kinh tế thừa
nhận: Năng suất lao động tăng nhanh hơn ở những nền kinh tế mở hơn, trong
khi đến 90% sự khác biệt về tiền lương được giải thích bởi sự khác biệt về
năng suất lao động. Với chừng mực nhất định, sự di chuyển các luồng vốn
quốc tế có thể làm cho khủng hoảng tài chính dễ xảy ra hơn, những mất mát
về thu nhập do toàn cầu hoá gây nên có thể lớn hơn rất nhiều so với những gì
Toàn cầu hoá đang đặt ra những yêu cầu và điều kiện cho việc điều
chỉnh
cơ cấu lao động xã hội sao cho có hiệu quả nhất đối với nền kinh tế.
Toàn
cầu hoá mở ra khả năng cho các quốc gia phát triển chậm hơn nhanh
chóng tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, từ đó hình
thành
một cơ cấu kinh tế – xã hội có hiệu quả hơn, đẩy nhanh, rút ngắn tiến
trình
hiện đại hoá. Xu hướng phân công lao động quốc tế đang chuyển từ phân
công theo chiều dọc sang phân công lao động theo chiều ngang , với nội
dung của nó là phân công theo bộ phận cấu thành sản phẩm. Các cơ sở
sản
xuất ở khắp các nơi trên thế giới tham gia vào sản xuất các bộ phận, chi
tiết, linh kiện theo một quy chuẩn rồi ráp nối với nhau thành sản phẩm
hoàn chỉnh. Về lâu dài, với hình thức phân công này, Việt Nam có thể
tham gia vào công đoạn nào đó của quá trình phân công lao động quốc tế
mà đẩy nhanh tiến trình điều chỉnh kết cấu ngành của nền kinh tế quốc
gia
như một số quốc gia trong khu vực, đặc biệt là các “con rồng, con hổ” đã
và đang áp dụng. Về chiến lược phát triển nguồn nhân lực, các nước phát
triển thường tập trung vào những ngành kỹ thuật cao, có tỷ trọng công nghệ
cao và vốn cao hơn trong khi các nước đang phát triển lại tập trung nhiều vào
những ngành sử dụng nhiều lao động. Điều đó cũng phản ánh một bức tranh
chung về phân công lao động quốc tế. Tuy nhiên, trong điều kiện phát
triển đan xen hiện nay, một mặt ta tiếp tục phát triển những ngành công
nghiệp sử dụng nhiều lao động, mặt khác vẫn có thể đầu tư phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng cho những ngành công nghệ cao để đa dạnh hoá
cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực
không thể cách ly, mà luôn phải gắn chặt với chiến lược phát triển kinh
hơn lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế. Như vậy, với những điều kiện
phù
hợp, toàn cầu hoá có thể đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, xoá
đói giảm nghèo và mở ra con đường phát triển lâu dài bền vững tiến kịp
các nước đi trước.
1.2.2Những thách thức lớn đối với Việt Nam
Tuy nhiên cũng cần phải nhấn mạnh rằng, cơ hội, xét về ý nghĩa thực
tiễn
chỉ là tiềm năng. Bản thân các cơ hội không mang lại các giá trị cụ thể.
Các cơ hội có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi các điều kiện cần
thiết
để thực hiện đã được hội đủ. Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá cũng
có nghĩa là nước ta cần phải tuân thủ hàng loạt các yêu cầu để hôị nhập, từ
các luật lệ về bản quyền đến các tiêu chuẩn về ngân hàng. Trong khi đó , rất
nhiều chuẩn mực, quy tắc quốc tế được soạn thảo trong tình hình các nước
phát triển giữ vai trò chính. Như vậy, đối với các nước có trình độ phát triển
thấp như nước ta, rủi ro trong vận hành kinh tế sẽ gia tăng.
9
Toàn cầu hoá kinh tế đưa đến nhiều cơ hội lập nghiệp, nhiều cơ hội
việc
làm, nhưng kèm theo là đổi mới kỹ thuật nhanh hơn , vòng quay tuổi thọ
ngắn hơn, vốn lưu thông linh hoạt hơn, sự cạnh tranh nhân lực sâu sắc
hơn
và tính rủi ro trong việc làm cũng cao hơn.
Những thách thức lớn nhất đối với nước ta hiện nay và trong tương
lai là
làm thế nào để vượt qua được những yếu kém của nền kinh tế và sự tụt
hậu của nguồn nhân lực như:
Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của từng loại hàng
hoá, dịch vụ nói riêng còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và
2.1. Tác động của toàn cầu hoá đối với vấn đề việc làm
Về tổng thể trên phạm vi toàn cầu, quá trình toàn cầu hoá làm tăng lưu
lượng giao dịch trên cả 3 thị trường là thị trường hàng hoá-dịch vụ, thị
trường tài chính và thị trường lao động. Đối với thị trường lao động thế
giới, tổng cầu về lao động, tức số việc làm mới được tạo ra nhiều hơn,
nhưng đi kèm theo đó sẽ là sự dư thừa lao động cục bộ, tức thất nghiệp
do
sự cạnh tranh và sự phân bổ lại các nguồn lực dưới tác động điều chỉnh
của thị trường toàn cầu. Như vậy, sự gia tăng của tổng cầu về lao động
và
suy giảm cục bộ về lao động chính là hai yếu tố mang đến thời cơ và
thách
thức cho mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp trong quá trình toàn cầu hoá.
Trong khi toàn cầu hoá vừa làm mất đi việc làm vừa tạo ra việc làm mới,
hai quá trình này không diễn ra đồng thời. Trong giai đoạn tự do hoá
thương mại, và nói chung hơn là giai đoạn của cải cách kinh tế, tốc độ
mất
việc làm có thể cao hơn so với tốc độ tạo việc làm. Những nguyên nhân
thường được nêu ra là:
- Do phải sắp xếp lại lao động khi dỡ bỏ những rào cản thương mại,
đặt
biệt là trong những ngành được Nhà nước chính thức bảo hộ dựa vào
nguồn lao động rẻ và chất lượng thấp.
- Song song với quá trình trên là việc thu hẹp “đặc quyền” và giảm dư
thừa lao động trong doanh nghiệp Nhà nước cùng các cơ quan hành
chính. Quá trình này làm tăng đáng kể tỷ lệ thất nghiệp trong những
năm đầu của “mở cửa”.
Nhưng hội nhập với thị trường thế giới, đẩy mạnh cạnh tranh, cổ phần
hoá
doanh nghiệp Nhà nước, bãi bỏ độc quyền trong một số ngành cung cấp
sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, nuôi trồng và chế biến
thuỷ
sản, thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây nông nghiệp và công nghiệp
như
lúa, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su, cây ăn quả....
Về xuất khẩu lao động, Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết từ
đầu năm 2009 đến nay, cả nước đã đưa được 65.787 người đi xuất khẩu lao
động, đạt 73,1% kế hoạch. Xét trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
kết quả này thể hiện sự nỗ lực của đội ngũ làm công tác xuất khẩu lao động.
Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích cho rằng, đằng sau các con số là những vấn đề
cần mổ xẻ một cách nghiêm túc, để đánh giá triển vọng một cách chính xác.
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động cho rằng, diễn biến trên thị trường
lao động ngoài nước thời gian qua là khá phức tạp và không sát dự kiến. Ví
dụ, khoảng 2 năm trở về trước, Malaysia là thị trường dẫn đầu về số lượng,
tiếp nhận khoảng 35.000 - 40.000 lao động/năm.
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cũng xác định từ năm 2009 trở về
sau, thị trường Trung Đông đóng vai trò trọng điểm, với mục tiêu mỗi năm
đưa được khoảng 25.000 người. Ngoài ra, thị trường Đông Âu (gồm Nga,
Czech, Slovakia, Bulgaria, Romania,...) cũng từng được đặc biệt quan tâm với
kỳ vọng mỗi năm giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn người.
12
Tuy vậy, số liệu tổng kết từ Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cho thấy,
năm 2009, Đài Loan là thị trường tiếp nhận nhiều nhất, với 19.577 người lao
động, Hàn Quốc 7.175 người, Nhật Bản 4.959 người. Điều khá bất ngờ, Lào
đột ngột “bứt phá” và vươn lên trở thành thị trường lao động xuất khẩu lớn
thứ tư, với 4.580 người. Kế đến là Libya 4.550 người, UAE 3.933 người...
Các thị trường được xác định là trọng điểm trước đây, hoặc cơ bản không còn
tồn tại (như Đông Âu), tiếp nhận lao động nhỏ giọt (như Trung Đông), hoặc
thiếu “nguồn” (như Malaysia).
Ngoài ra, còn phải kể đến hàng chục ngàn lao động bằng cách này cách
hết,
cần khảng định chủ trương tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà
13
nước là chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm làm cho khu vực kinh
tế
Nhà nước làm ăn có hiệu quả hơn, sử dụng hợp lý và kinh tế hơn các
nguồn lực của xã hội. Quá trình sắp xếp , tổ chức lại doanh nghiệp Nhà
nước lại diễn ra trong điều kiện toàn cầu hoá nên nhiều doanh nghiệp
chịu
sức ép cạnh tranh hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp từ thị trường quốc tế.
Trong
thời đại ngày nay, khó có thể tìm thấy một doanh nghiệp nào mà các yếu
tố đầu vào hoặc đầu ra, hoặc các phần cấu thành nên yếu tố đầu vào
không
chịu ảnh hưởng của giá cả thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, nhiều
doanh nghiệp Nhà nước đã bộc lộ yếu kém trong quản lý và sử dụng
nguồn lực, trong đó có nguồn lực lao động. Để đảm bảo tính hiệu quả và
sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của toàn bộ khu vực kinh tế
Nhà
nước, một bộ phận lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp Nhà
nước sẽ thuộc diện dôi dư. Bởi vậy, trong những năm tới, xử lý vấn đề
lao
động dôi dư từ các doanh nghiệp Nhà nước đang là vấn đề trọng tâm của
Việt Nam trong lĩnh vực lao động việc làm.
2.2. Tác động của toàn cấu hoá đối với vấn đề nguồn nhân lực
Toàn cầu hoá không chỉ là vấn đề của Quốc gia, khu vực mà là công
việc
của từng cá nhân và từng doanh nghiệp, họ là chủ thể chính của quá trình
toàn cầu hoá đang diễn ra trên thế giới. Với cách nhìn này nhiều người
còn
này
đang dần mất đi ý nghĩa. Trong bối cảnh khả năng tiếp cận đối với các
thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại của các doanh nghiệp là gần như
nhau, yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, mỗi nền kinh
tế
chủ yếu nằm ở yếu tố quản lý và chất lượng nguồn nhân lực. Ngoài ra,
yếu
tố giá lao động rẻ chỉ có lợi thế tuyệt đối với những ngành kinh tế sử
dụng
công nghệ cao hoặc những ngành sử dụng nhiều vốn. Bởi vậy, việc
không
ngừng nâng cao tính cạnh tranh của nguồn nhân lực đang trở thành cuộc
chạy đua giữa các doanh nghiệp, giữa các nền kinh tế. Có thể nói toàn
cầu
hoá đang tạo ra yêu cầu, động lực và điều kiện để phát triển nguồn nhân
lực, đào tạo và nâng cao tay nghề chuyên môn kỹ thuật. Đây vừa là điều
kiện thuận lợi , vừa là thách thức lớn đối với Việt Nam trong lĩch vực
phát
triển nguồn nhân lực.
Về mặt thuận, toàn cầu hoá đã có một số tác động tích cực đối việc nâng
cao chất lượng lao động của Việt Nam.
Thứ nhất, toàn cầu hoá kích thích sự phát triển nhanh chóng của Khoa
học
công nghệ đòi hỏi người dân nói chung và lực lượng lao động nói riêng
phải không ngừng nâng cao trình độ cho theo kịp sự phát triển của khoa
học, công nghệ và yêu cầu của công việc, của cuộc sống. Toàn cầu hoá
cũng tạo điều kiện cho người lao động nhanh chóng tiếp nhận được
thông
tin, tri thức mới, góp phần nâng cao dân trí. Đây là điều kiện và động lực
quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
có
sự tham gia của đại diện Công đoàn, Nghiệp đoàn.
Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh quan hệ lao động thông qua Bộ luật
lao động và các văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật lao động.
Cơ chế quan hệ lao động mới bao hàm việc trao quyền tự chủ hoàn toàn
cho người sử dụng lao động trong tuyển dụng, sử dụng, trả lương (trả
công) và kết thúc hợp đồng đối với người lao động trên cơ sở tuân thủ
các
quy định pháp luật lao động, bảo vệ các lợi ích của người lao động và
của
người sử dụng lao động.
Dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế với sự phát triển của nhiều loại
hình doanh nghiệp, quan hệ lao động có những đặc trưng riêng. Đó là
quan
16
hệ lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, hợp tác xã kiểu mới,
doanh nghiệp FDI. Nhà nước đã có một số quy định riêng đối với quan
hệ
lao động trong các doanh nghiệp loại này; đặc biệt là về tiền lương tối
thiểu, cổ phần của các cổ đông, các quyền lợi vật chất khác của người
lao
động...
Phù hợp với quan hệ lao động mới, quyền đình công của người lao động
được luật pháp lao động quy định. Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động
mang tính phổ biến của các nước trên thế giới được hình thành (hệ thống
hoà giải lao động, toà án lao động...).
Chính sách mở cửa, tự do hoá có các nội dung chính là loại bỏ dần các
hàng rào nhân tạo cản trở sự giao lưu quốc tế như hạn chế dần sự độc
quyền của nhà nước trong sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu, cho
phép nước ngoài đầu tư kinh doanh một cách ít hạn chế nhất, thực hiện
n đế
40 tri u vi c làm tr c ti p do FDI t o ra, con s này trong các n m th pệ ệ ự ế ạ ố ă ậ
kỷ
80 là 65 tri u vi c làm và th p k 90 là 70-75 tri u vi c làm ệ ệ ậ ỷ ệ ệ
i v i n c ta, dòng ch y c a FDI (ch y u là t các Công ty xuyên Đố ớ ướ ả ủ ủ ế ừ
qu c gia) là b ph n v n u t quan tr ng trong t o vi c làm. ố ộ ậ ố đầ ư ọ ạ ệ
V n FDI hàng n m giai o n 2001-2008 trong t ng v n u t c b nố ă đ ạ ổ ố đầ ư ơ ả
c a ủ
toàn xã h i.ộ
B ng 1:C c u v n u t phân theo thành ph n kinh t ả ơ ấ ố đầ ư ầ ế
n v tính:%Đơ ị
Thành phần kinh tế
Năm Tổng số
Kinh tế
nhà nước
Kinh tế
nước ngoài
nhà nước
Khu vực
có vốn đầu tư
nước ngoài
2001 100
59,8 22,6 17,6
2002 100
57,3 25,3 17,4
2003 100
52,9 31,1 16,0
2004 100
48,1 37,7 14,2