Báo cáo khoa học " NHỮNG DIỄN BIẾN MỚI CỦA KINH TẾ THẾ GIỚI TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM " - Pdf 15

1

NHỮNG DIỄN BIẾN MỚI
CỦA KINH TẾ THẾ GIỚI TỪ SAU KHỦNG HOẢNG
TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM

Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

I. Tóm lược tình hình kinh tế thế giới từ sau khủng hoảng
Cho tới giữa năm 2010, tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn ra hết sức phức tạp. Xu
hướng phục hồi tại các nền kinh tế lớn đã được khẳng định (hai nền kinh tế mới nổi hàng
đầu là Trung Quốc và Ấn Độ đang đóng vai trò là động lực chính cho tiến trình phục hồi
của kinh tế thế giới) nhưng không đồng đều và không chắc chắn, tốc độ phục hồi của các nền
kinh tế là rất khác nhau, những tín hiệu tốt xấu đan xen liên tục và những lo ngại về khủng
hoảng nợ tại châu Âu vẫn chưa chấm dứt. Kinh tế Mỹ và châu Âu dù đang khởi sắc nhưng
với tốc độ chậm hơn dự báo trước đó, trong khi đó châu Á vẫn tiếp tục là động lực và đang
phục hồi nhanh chóng vượt trội. Có thể nói, quá trình hồi phục của kinh tế thế giới đã được
khẳng định, dù khi này khi khác vẫn còn những nghi ngại và cần nhiều thời gian để khắc
phục và vượt qua.
Báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu ngày 21/4/2010 của IMF nhận định rằng việc
giải quyết vấn đề nợ công đang ở mức quá cao đòi hỏi nhiều nỗ lực và các biện pháp quyết
liệt của các Chính phủ cũng như cần nhiều thời gian hơn dự tính. IMF cũng dự báo tình
trạng thất nghiệp toàn cầu vẫn ở mức cao trong năm 2010 và 2011 và Chính phủ các nước
vẫn phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế để giảm tỉ lệ thất nghiệp. IMF cho rằng việc giải
quyết vấn đề thất nghiệp là thách thức chính sách lớn nhất khi kinh tế toàn cầu thoát ra khỏi
thời kỳ suy thoái tệ hại nhất từ chiến tranh thế giới thứ hai. Như vậy, mặc dù tăng trưởng
đã trở lại, nhưng sự phục hồi diễn ra không đồng đều và không chắc chắn, tỉ lệ thất
nghiệp tại nhiều nước vẫn cao quá mức cho phép và tác động xã hội của cuộc khủng
hoảng vẫn còn tồn tại nhiều nơi. Do đó, ưu tiên cao nhất hiện nay vẫn là tăng cường phục
hồi kinh tế, khôi phục việc làm, cải cách và tăng cường các hệ thống tài chính và tạo sự tăng
trưởng toàn cầu mạnh mẽ, bền vững và cân bằng.

tế TG
3.9 4.3 4.2 4.3
Các
nước
pt
2.1 2.4 2.3 2.4
Mỹ 2.7 2.4 3.1 2.6
Châu
Âu
1.0 1.6 1.0 1.5
Nhật
Bản
1.7 2.2 1.9 2.0
Trung
Quốc
10.0 9.7 10.0 9.9
Ấn
Độ
7.7 7.8 8.8 8.4
Mới
nổi và
đang
pt
6.0 6.3 6.3 6.5
Nguồn : IMF, Báo cáo triển vọng
kinh tế toàn cầu ngày 26/1/2010 và
21/4/2010.
Tiếp theo báo cáo tháng 1/2010 về triển vọng kinh
tế thế giới, vừa qua IMF tiếp tục nâng mức dự báo
về kinh tế thế giới và một số nền kinh tế lớn trong

(iii) năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế Mỹ còn thiếu hụt
và (iv) cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp hiện nay cũng sẽ tác động tới ngành xuất khẩu Mỹ và
hệ thống tài chính quốc tế, từ đó sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế Mỹ.
Thị trường tài chính Mỹ vẫn chưa thực sự thoát khỏi khủng hoảng khi số các ngân
hàng Mỹ bị phá sản tiếp tục tăng cao. Trong 7 tháng đầu năm 2010, tại Mỹ đã có thêm 102
ngân hàng phá sản, mặc dù đây chủ yếu là các ngân hàng nhỏ và ngân hàng địa phương
1
.
Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) dự đoán số lượng các ngân hàng Mỹ sụp đổ sẽ đạt
mức cao nhất trong quý III/2010
2
và việc các ngân hàng sụp đổ sẽ tiêu tốn khoảng 60 tỷ
USD trong khoảng thời gian 2010 - 2014.
Trước tình hình trên, ngày 21/7/2010, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký dự luật
"Bảo vệ người tiêu dùng và cải cách Phố Wall Dodd-Frank" nhằm bảo vệ người tiêu dùng
và đảm bảo sự ổn định kinh tế tốt hơn. Đây là đạo luật cải cách mạnh mẽ và sâu rộng nhất
kể từ thời kỳ đại suy thoái những năm 1930 tới nay và được xem là một bước ngoặt mang
tính lịch sử, khi đánh giá lại toàn bộ các quy định trong hệ thống tài chính Mỹ. Theo đó,
đạo luật Dodd-Frank sẽ ngăn chặn các công ty có khả năng đe doạ tới nền kinh tế, thành lập
một cơ quan mới bảo vệ người tiêu dùng và giám sát chặt chẽ hơn thị trường tài chính.
Tại châu Âu, kinh tế khu vực này quý I tăng trưởng 0,2% so với quý IV/2009, là
mức cao hơn kỳ vọng nhưng thấp hơn nhiều so với các nước và khu vực còn lại. Mặc dù
EU và Chính phủ các nước vẫn đang nỗ lực đưa nền kinh tế khu vực châu Âu thoát ra khỏi
khủng hoảng nhưng vấn đề thâm hụt ngân sách, nợ công và thất nghiệp là những trở ngại
cho sự phục hồi của khu vực châu Âu nói riêng và kinh tế thế giới nói chung. Vấn đề ở châu
Âu là khủng hoảng nợ công ngày càng lan rộng mặc dù lãnh đạo khu vực Eurozone đã phê
chuẩn gói cứu trợ 750 tỉ Euro (tương đương khoảng gần 1.000 tỉ USD) nhằm tránh nguy cơ
khủng hoảng nợ công gây đổ vỡ nền kinh tế khu vực này (Chi tiết sẽ được đề cập trong
phần II).


Như vậy, có thể thấy những chính sách kinh tế của các Chính phủ đã có tác dụng
tích cực đưa thế giới khỏi khủng hoảng, kinh tế nhiều nước trên thế giới tiếp tục đi vào
ổn định. Tuy nhiên, sự phục hồi diễn ra không đồng đều và không chắc chắn, vấn đề nợ
công, tỉ lệ thất nghiệp tại nhiều nước vẫn cao quá mức cho phép và tác động xã hội của
cuộc khủng hoảng vẫn còn tồn tại nhiều nơi.
Vấn đề nợ công và thâm hụt ngân sách tại châu Âu
Ủy ban châu Âu (EC) cho rằng giai đoạn suy thoái kinh tế tồi tệ nhất ở khu vực này
đã đi qua và nền kinh tế khu vực này sẽ dần phục hồi trong năm 2010, tỉ lệ thất nghiệp và
thâm hụt ngân sách sẽ giảm dần và các doanh nghiệp sẽ làm ăn có hiệu quả. Tuy nhiên, so
với các nền kinh tế châu Á, Mỹ đang có những bước phục hồi ngoạn mục thì sự phục hồi
của châu Âu vẫn ở mức rất khiêm tốn. Cuộc khủng hoảng nợ ngày càng lan rộng trong khối
EU khiến những lo ngại về sự sụp đổ của hệ thống tài chính châu Âu và nghiêm trọng hơn
là sự vỡ nợ của một số quốc gia và hệ thống đồng tiền chung châu Âu ngày càng trở nên rõ
nét hơn.
Nguy cơ khủng hoảng tại châu Âu đã có nhiều dấu hiệu từ trước, khi Hy Lạp có dấu
hiệu vỡ nợ, thâm hụt ngân sách đứng ở mức cao dẫn đến ngân sách công của các nước PIIGS

3
Quý 1/2010, kinh tế Nhật tăng trưởng 4,9%, mức tăng trưởng cao nhất trong gần 1 năm nhưng cao nhất là Trung
Quốc với mức tăng trưởng 11,9%.
5

(Bồ Đào Nha, Ailen, Italy, Hy lạp, Tây Ban Nha) ngày càng thu hẹp. Những số liệu thống kê
cho thấy nợ công và thâm hụt ngân sách tại hầu hết tất cả các nước khu vực này đã vượt
quá tỉ lệ quy định lần lượt là 60% và 3% GDP (chi tiết xem biểu đồ). Nghiêm trọng hơn, tỉ
lệ này được dự đoán là sẽ tiếp tục gia tăng trong năm 2010 và 2011
4
. Một trong những
nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là các nước đã phải chi tiêu quá nhiều tiền để giảm bớt
tác động xấu của khủng hoảng. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn đó là sự nóng vội và

Tây Ban Nha
Bồ Đào Nha
Hà Lan
Bỉ
Ai
-
len
Hy Lạp
2009
2010
2011
6

các quốc gia và bất đồng trong nội bộ của từng nước (Đức, Pháp) nên quá trình cứu trợ Hy
Lạp rất chậm trễ, các bên luôn đẩy trách nhiệm cho nhau và không thống nhất được cách
thức và biện pháp cứu trợ. Sự chậm trễ chủ yếu do những tranh cãi về số tiền các bên đóng
góp để cứu trợ Hy Lạp cũng như các bất đồng về các điều kiện kèm theo đối với Hy Lạp.
Ngay cả Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng không thể làm đầu não giải quyết bất
đồng giữa các quốc gia hay trực tiếp chỉ đạo thực hiện một biện pháp khả thi nào.
Chỉ khi cuộc khủng hoảng có nguy cơ ngày càng lan rộng, khiến liên minh tiền tệ
khu vực châu Âu có khả năng tan vỡ, các nước mới thực sự nghiêm túc khi thảo luận các
biện pháp cứu trợ Hy Lạp. Sau khoảng 1 tháng lãnh đạo các nước mới ra tuyên bố sẽ làm
bất kỳ điều gì cần thiết để đảm bảo sự ổn định kinh tế của khu vực và phê chuẩn gói cứu trợ
750 tỉ Euro nhằm tránh nguy cơ khủng hoảng nợ công gây đổ vỡ nền kinh tế khu vực này
5
.
Như vậy, số tiền mà EU phải bỏ ra nhằm tránh nguy cơ khủng hoảng nợ công, gây
đổ vỡ nền kinh tế khu vực này là con số khổng lồ so với dự tính ban đầu. Hầu hết các nhà
phân tích đều chung nhận định cho rằng gói cứu trợ khổng lồ này chỉ có tác dụng giúp các
quốc gia yếu kém trong khu vực Eurozone có thêm thời gian, chứ không thể giải quyết

Theo các chuyên gia kinh tế, khủng hoảng tại châu Âu đã phơi bày những nhược
điểm về cơ chế tài chính khu vực này, đó là không có một cơ cấu ngân sách tài chính thống
nhất, không có quyền điều động tài chính của các nước. Khi liên minh tiền tệ khu vực châu
Âu được thành lập, các nước này chỉ muốn xây dựng một liên minh về tiền tệ mà không
thành lập một liên minh chính trị, tức là chỉ đồng ý thiết lập NHTW châu Âu, chứ không
muốn cùng các cơ quan chia nhau quyền thu thuế, đây được coi là điểm mấu chốt dẫn tới
những vấn đề về nợ công và thâm hụt ngân sách nặng nề tại khu vực châu Âu hiện nay.
Chính vì vậy, mặc dù Chính phủ các nước đều bày tỏ quyết tâm giúp đỡ Hy Lạp và tuy
nhiên, các nước đều rất khó khăn khi đưa ra các cam kết giúp đỡ tài chính cụ thể. Một số
phân tích còn cảnh báo trừ khi khu vực EU có thể từng bước mở rộng nền tảng hợp tác
chính trị trong khu vực, nếu không toàn bộ liên minh các nước sử dụng chung đồng Euro có
thể sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Như vậy, châu Âu đang đứng trước những thách thức lớn và chỉ khi những nguyên
nhân căn bản được giải quyết thì những rắc rối mới không nảy sinh. Các phân tích đã cảnh
báo rằng cho dù EU có thể giải quyết được cuộc khủng hoảng nợ lần này của Hy Lạp,
nhưng trong tương lai chắc chắn vẫn sẽ phải đối mặt với một thử nghiệm lớn hơn nếu vẫn
chưa thành lập được liên minh cả về kinh tế và chính trị.
Đánh giá, nhận định về những giải pháp ứng phó và dự báo diễn biến mức độ
ảnh hưởng lan toả tiếp theo trong thời gian tới.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ nước Mỹ đã lan rộng khắp thế giới với
những ảnh hưởng nặng nề buộc chính phủ các nước phải chi rất nhiều tiền để hạn chế
những tác động tiêu cực. Có thể khẳng định giai đoạn tồi tệ nhất của khủng hoảng đã qua đi
nhưng những tác động của nó vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi. Nước Mỹ là nơi khởi nguồn cuộc
khủng hoảng nhưng đến nay kinh tế Mỹ đang có những dấu hiệu phục hồi và đà hồi phục tỏ
ra vững chắc, bất chấp khủng hoảng nợ ở châu Âu. Hơn nữa, các nhà lập pháp Mỹ đã có
những đạo luật mang tính lịch sử để cải cách mạnh mẽ và sâu rộng hệ thống tài chính Mỹ.
Trong khi đó, châu Âu với những nhược điểm về cơ chế tài chính như đã phân tích ở trên sẽ
vẫn phải đối mặt với những thách thức và khó có thể giải quyết tận gốc nếu không có sự
đồng lòng, hợp tác và đưa ra đạo luật để giải quyết một cách triệt để các khó khăn tương tự
như ở Mỹ.

- Thứ nhất : Duy trì niềm tin cho các nhà đầu tư, người dân về chính sách hỗ trợ
của Chính phủ đối phó với khủng hoảng
Chính phủ các nước đã đổ rất nhiều tiền vào các gói giải pháp ứng phó khủng hoảng.
Tuy nhiên, niềm tin vào hiệu quả do các chính sách đó mang lại đối với đầu tư và người dân
chưa thật sự cao. Thị trường tài chính thế giới vẫn ảm đạm : thị trường chứng khoán sụt
giảm, thị trường bất động sản không khởi sắc và thiếu tính thanh khoản, thị trường tiền tệ
ngân hàng vẫn còn trong giai đoạn chờ đợi phục hồi.
- Thứ hai : Phòng chống rủi ro đỗ vỡ thanh khoản toàn hệ thống tài chính, đặc
biệt là đổ vỡ khủng hoảng cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn
Việc hỗ trợ của Chính phủ đối phó với khủng hoảng nợ cho vay thế chấp dưới tiêu
chuẩn đã được thực thi thông qua nhiều biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của
9

các tổ chức tài chính và ngân hàng như quốc hữu hoá ngân hàng, khuyến khích sáp nhập
ngân hàng, mua lại các khoản nợ của các ngân hàng có vấn đề hoặc bị phá sản,…
Biện pháp này đã và đang phát huy tác dụng về mặt ngăn ngừa tác động ảnh hưởng
đổ vỡ hệ thống tài chính. Thế nhưng chi phí cho gói giải pháp này vẫn đang tiếp tục tăng
lên và chưa có dấu hiệu kết thúc, điển hình là danh sách ngân hàng và các tổ chức tài chính
cần được hỗ trợ không ngừng tăng lên và mức độ bơm tiền của Chính phủ vào hệ thống tài
chính lại tuỳ thuộc vào khả năng của từng Chính phủ khi thi hành biện pháp này.
- Thứ ba : Khủng hoảng tín dụng lan sang khủng hoảng tài chính và khủng
hoảng kinh tế
Một thực tế cho thấy việc ứng phó khủng hoảng trong thời gian qua của Chính phủ
đã không lường hết tính liên thông thị trường của hệ thống tài chính. Khủng hoảng cho vay
cầm cố dưới chuẩn làm năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng và các quỹ đầu tư bất
động sản trở nên yếu kém. Các tổ chức tài chính và ngân hàng liên tiếp tuyên bố lỗ và trông
chờ ứng cứu của Chính phủ hoặc phải sáp. Cuộc khủng hoảng sau đó đã lan nhanh sang các
nước khác và ảnh hưởng của nó không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên cả thế giới với
nhiều mức tác động khác nhau tuỳ theo tình hình cụ thể của từng quốc gia.
- Thứ tư : Hiệu ứng của khủng hoảng kinh tế tài chính và vấn đề an sinh xã hội

gắn với việc triển khai quá nhanh quy định điều tiết mới mà không có các nghiên cứu thích
đáng xem liệu ảnh hưởng chung của chúng thế nào. Để cải cách chính sách thành công, các
quy định an toàn vĩ mô và vi mô sẽ phải bổ sung cho nhau và giúp giảm thiểu có hiệu quả
các rủi ro hệ thống. Chỉ khi đó hệ thống tài chính có thể thực hiện được tốt chức năng của
nó - trung gian các luồng vốn giữa bên tiết kiệm và bên đi vay theo các cách giúp cải thiện
sự tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định tài chính.
II. Đánh giá tổng quan tác động của kinh tế thế giới đến kinh tế Việt nam
1. Tác động của kinh tế thế giới và yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế của Việt
nam
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới không tránh khỏi sự ảnh hưởng từ
diễn biến kinh tế toàn cầu. Những tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế thế giới trước đây (từ tháng 9/2008) đối với Việt Nam được đánh giá là ít hơn các nước
khác trong khu vực, nền kinh tế chỉ mới chững lại nhưng chưa rơi vào suy thoái. Sớm nhận
thức được ảnh hưởng của khủng hoảng, từ đầu Quý IV/2008, Chính phủ đã chuyển mục tiêu
từ ưu tiên kiềm chế lạm phát sang ưu tiên ngăn chặn suy giảm tăng trưởng, coi trọng ổn
định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội. Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể
trong năm 2009 như kiềm chế được lạm phát ở mức 6,52%, tăng trưởng GDP đạt 5,32%
trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng âm, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tuy nhiên hầu
hết các lĩnh vực liên quan đến thế giới đều bị tác động mạnh, trong đó, giá trị xuất khẩu
giảm 9,7% trong năm 2009, du lịch giảm 15,4%, thu hút vốn đầu tư nước ngoài giảm trên
70%. Trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội
nhập sâu vào kinh tế thế giới, cụ thể Việt nam đã gia nhập AFTA và WTO. Việc hội nhập
kinh tế thế giới sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam thông qua hai thị trường chính là thị
trường hàng hoá, dịch vụ và thị trường tài chính.
11

Cuối Quý II/2009, các tín hiệu

một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, lạc hậu sang một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại;
một nền công nghiệp chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên khoáng sản và lắp ráp, gia công
sang các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến. Đặc biệt, phát triển mạnh các ngành dịch vụ,
nhất là các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Tái cấu trúc nền kinh tế là yêu cầu thường
xuyên của bất cứ nền kinh tế nào, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động càng đòi
hỏi mỗi quốc gia có sự linh hoạt, năng động để thích ứng.
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu và trong điều kiện kinh tế
thế giới chưa thật sự hồi phục sau khủng hoảng, việc tái cơ cấu nền kinh tế nước ta phải giải
12

quyết các vấn đề lớn sau : (1) tạo nền tảng vững chắc để chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng
cách tạo ra sự cải cách đột biến về thể chế, hoàn thiện hơn nữa thể chế kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với lộ trình cam kết WTO; (2) phát triển cơ sở
hạ tầng, thúc đẩy đầu tư một cách thông suốt cả về chiều sâu và trên diện rộng; và (3) phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
2. Khái quát các kết quả kinh tế đạt được trong 6 tháng đầu năm 2010
Cùng với sự hồi phục của kinh tế thế giới, kinh tế Việt nam 6 tháng đầu năm 2010 đã
có những nét khởi sắc. Trong 6 tháng đầu năm 2010, Chính phủ đã điều chỉnh chính sách
điều hành nền kinh tế hướng về mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững.
Trong các phiên họp thường kỳ hàng tháng, Chính phủ đều tổng kết tình hình thực tế và ban
hành các quyết sách kịp thời. Tiêu biểu nhất là Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06/4/2010 về
bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5%
trong năm 2010. Bên cạnh đó là Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 07/5/2010, Chính phủ điều
chỉnh mục tiêu phấn đấu kiềm chế lạm phát ở mức 8% và yêu cầu Ngân hàng Nhà nước
phải có biện pháp phù hợp để khẩn trương hạ lãi suất huy động xuống khoảng 10% và lãi
suất cho vay khoảng 12%. Tổng hợp kết quả đạt được cũng như những điểm còn hạn chế
trong 6 tháng đầu năm 2010 như sau :
 Những nét tích cực : Nền kinh tế phục hồi tăng trưởng khá nhanh và khởi sắc.
 Tăng trưởng GDP đạt mức khá cao và trên cả 3 ngành công nghiệp, dịch vụ và nông
lâm nghiệp, thuỷ sản.

6%,
Nhập khẩu tăng 5-
6%)
Thâm hụt 6,8 tỉ
USD
(Xuất khẩu tăng
15,7%
Nhập khẩu tăng
29,4%)
FDI đăng ký 21,48 tỉ USD 22-25 tỉ USD 8,43 tỉ USD
FDI giải ngân 10,73 tỉ USD 10-11 tỉ USD 5,4 tỉ USD
Kiều hối 6,8 tỉ USD 7 tỉ USD 3,6 tỉ USD
ODA giải ngân 1,99 tỉ USD 2,47 tỉ USD 1,41 tỉ USD
Tăng trưởng TD 37,7% 25% 10,52%
Lãi suất cơ bản
(%/năm)
Duy trì lãi suất 7%
(T2 đến T12), sau
đó điều chỉnh tăng
lên 8%
Dao động trong
khoảng 7-9%
Giữ nguyên mức
8%. Từ tháng
2/2010 áp dụng cơ
chế LS thoả thuận
đối với cho vay
TDH và từ tháng
4/2010 áp dụng cơ
chế LS thoả thuận

Trong những tháng đầu năm 2009, khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang có tác
động mạnh, ngành công nghiệp Việt Nam phát triển chậm, với tốc độ tăng trưởng giá trị sản
xuất công nghiệp (GTSXCN) quý I chỉ tăng 2,7%. Tuy nhiên, bước sang quý II, khi những
nền kinh tế lớn trên thế giới bắt đầu có dấu hiệu hồi phục, cùng với việc triển khai quyết liệt
các giải pháp của Chính phủ, công nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển khả quan hơn,
với tốc độ tăng trưởng GTSXCN đạt 4,6%. Tiếp tục xu hướng này, trong quý III, ngành đạt
tốc độ tăng trưởng GTSXCN là 6,4 % và quý IV tăng 9,5% đã góp phần đưa tốc độ tăng
trưởng công nghiệp cả năm 2009 đạt khoảng 7,6%.

Biểu đồ 2 : GTSXCN các tháng 2007 –
2009
Nguồn : Bộ Công thương
Biểu đồ 3 : Tăng trưởng GTSXCN
phân theo thành phần kinh tế
Nguồn : Bộ Công thương
Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế tuy có chuyển dịch nhưng khá chậm :
- Khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỉ trọng 19,4% (giảm 0,3% so với năm 2008).
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỉ trọng 35,7% (tăng 0,1% so với năm 2008).
- Khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỉ trọng 44,9% (tăng 0,2% so với năm 2008).
0
10.000
20.000
30.000
40.000
50.000
60.000
70.000

T1


kinh tế, kinh tế Nhà nước có mức tăng
trưởng cao nhất 44,9%, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài tăng 41,1%; kinh tế ngoài
Nhà nước tăng 24,4% so với cùng kỳ. Xét
theo ngành kinh tế, ngành Thương nghiệp
tăng 27,6%; ngành Du lịch dịch vụ tăng
24,8%; ngành Khách sạn, nhà hàng tăng
22,1% so với cùng kỳ.
Có thể rút ra kết luận rằng, trong điều kiện hậu khủng hoảng, khi các thị trường xuất
khẩu chính của Việt Nam phục hồi chậm chạp và còn nhiều bất ổn thì thị trường trong nước
với gần 90 triệu dân là một thị trường đầy tiềm năng để các doanh nghiệp trong nước tiếp
tục tận dụng, khai thác.
2. Xuất nhập khẩu
Suy thoái kinh tế toàn cầu có tác động đáng kể đến xuất nhập khẩu của Việt Nam,
kênh truyền dẫn tác động của suy thoái chính là xuất khẩu với tổng giá trị xuất khẩu hàng
Cơ cấu tổng mức lưu chuyển hàng hoá phân
theo loại hình kinh tế
0%
20%
40%
60%
80%
100%
2005
2006
2007
2008
2009
Kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài

năm 2010 đạt 38,8 tỉ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ 2009, thâm hụt thương mại đứng ở
mức 6,8 tỉ USD (tương đương 20,8% giá trị xuất khẩu).
3. Thu hút đầu tư
Nguồn tín dụng đang dần trở nên cạn kiệt của thế giới trong khủng hoảng đã làm cho
hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam không
17

phải là một ngoại lệ. Dòng vốn FDI sau khi đạt mức kỷ lục vào năm 2008 đã giảm xuống
mức thấp vào năm 2009.

Biểu 7 : Vốn FDI 2006 - 6 tháng đầu 2010 Biểu 8 : FDI các tháng đầu năm 2010
(Đơn vị : tỉ USD) (Đơn vị : tỉ USD)

Nguồn : Cục đầu tư nước ngoài – Bộ KHĐT Nguồn : Tổng cục Thống kê

6 tháng đầu năm 2010, cùng với đà phục hồi tăng trưởng của nền kinh tế thế giới,
FDI giải ngân duy trì tốc độ khá, đạt khoảng 50% kế hoạch năm trong khi lượng vốn ODA
giải ngân đạt 57% kế hoạch năm. Giải ngân FDI mỗi tháng bình quân đạt 900 triệu USD,
tăng khoảng 6% so với cùng kỳ năm 2009. Mặc dù vậy, FDI đăng ký chưa thực sự có sự
bứt phá khi lượng vốn đăng ký chỉ đạt 1/3 kế hoạch của năm. Tuy nhiên, thu hút vốn FDI
cũng có những chiều hướng tích cực khi có sự cải thiện đang kể về cơ cấu vốn theo ngành
nghề. Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ, chế tạo và công nghệ cao dần thay thế cho
lĩnh vực khách sạn, bất động sản để trở thành những lĩnh vực chủ lực. Trong 6 tháng 2010,
công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư
nước ngoài với 164 dự án, tổng số vốn đầu tư 2,87 tỉ USD, chiếm 34% tổng vốn FDI đăng
ký.
Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII) đã được cải thiện đáng kể so với
năm ngoái, cho dù còn thua xa đỉnh cao của năm 2007. Theo Ngân hàng Nhà nước, luồng
vốn FII tiếp tục duy trì xu hướng thặng dư sau khi bị thâm hụt trong năm 2009. Tính chung
6 tháng đầu năm 2010, vốn FII ròng đạt mức thặng dư 1,8 tỉ USD (trong đó bao gồm 800

khoảng 14,5-17%/năm với kỳ hạn trung, dài hạn. Lãi suất huy động vốn vẫn được các ngân
hàng duy trì ở mức cao, cá biệt nhiều ngân hàng đã niêm yết lãi suất tới mức 11,99% hoặc
kèm theo các hình thức khuyến mại.
Trong quá trình thực hiện cho vay theo cơ chế trần lãi suất, nhiều ngân hàng đã áp
dụng hình thức "lách" trần thông qua thu phí cho vay, tập trung từ cuối năm 2009 đến đầu
năm 2010. Đặc biệt là thời điểm từ cuối năm 2009 đến trước tết Nguyên đán năm 2010,
đứng trước những khó khăn về thanh khoản, các NHTM đều mong muốn được dỡ bỏ cơ chế
trần lãi suất để linh hoạt hơn trong việc điều hành lãi suất cho vay và huy động vốn, góp
phần loại bỏ các hình thức bóp méo về lãi suất cho vay cũng như chi phí huy động vốn.
Trước yêu cầu đó, cơ chế lãi suất thoả thuận đã được NHNN hé mở từ tháng 1/2009 với
Thông tư quy định về cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời
sống. Đến tháng 2/2010, một lần nữa cơ chế trần lãi suất lại được dỡ bỏ dần khi NHNN Thông
tư số 07/2010/TT-NHNN quy định về cho vay bằng VND theo lãi suất thoả thuận của các tổ
chức tín dụng đối với khách hàng đối với các khoản vay trung và dài hạn. Ngày 14/4/2010,
19

NHNN ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN quy định về cơ chế cho vay theo lãi suất
thoả thuận đối với cả ngắn và trung dài hạn; chính sách này của NHNN đã được các ngân
hàng trong hệ thống hưởng ứng mạnh mẽ và cho đây là một quyết sách đúng đắn góp phần
khơi thông nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 về 6 giải pháp
bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế
khoảng 6,5% trong năm 2010, NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm hạ nhiệt lãi suất
thị trường là tăng cường hỗ trợ vốn cho các NHTM qua kênh thị trường mở. Ngày 11/6, sau
cuộc họp giữa NHNN và Hiệp hội ngân hàng cùng lãnh đạo các NHTM, thể hiện sự kiên trì
với định hướng "vào 10, ra 12" (lãi suất huy động 10%, lãi suất cho vay 12%) và Thống đốc
thông báo sẽ thanh tra các ngân hàng có lãi suất huy động 12%/năm, lãi suất huy động giảm
nhẹ về quanh mức 11,5%/năm. Ngày 7/5/2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết 23/NĐ-CP
quy định hạ mức lãi suất huy động và cho vay lần lượt ở mức 10%/năm và 12%/năm. Lãi
suất cho vay của các NHTM cũng đã hạ nhiệt, lãi suất cho vay VND bình quân thực tế của


vay vẫn ở mức cao, do các doanh nghiệp chưa thể tiếp cận vốn vay từ ngân hàng, ngoài ra
còn do các doanh nghiệp đang gặp khó khăn ở thị trường đầu ra. Theo thống kê, đến thời
điểm 30/6/2010, có đến 1/6 lượng hàng công nghiệp tồn kho, tăng 27,5% so với cùng kỳ
năm ngoái, nên trước mắt, khu vực sản xuất - kinh doanh khó hấp thụ được thêm lượng vốn
lớn trong thời gian ngắn, dù lãi suất đã giảm.
Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, với dư nợ tăng trưởng tín dụng toàn
ngành 6 tháng đầu năm chỉ mới đạt trên 10%, trong đó chủ yếu là vốn vay bằng ngoại tệ thì
việc thực hiện tốc độ tăng trưởng dư nợ khoảng 25% như mục tiêu Ngân hàng Nhà nước đề
ra trong năm nay là không dễ. Trong khi nguồn thu của các NHTM chủ yếu vẫn là từ hoạt
động tín dụng, với diễn biến chưa khả quan của thị trường tín dụng, nhiều khả năng các
NHTM khó có thể hoàn thành kế hoạch lợi nhuận đặt ra trong năm 2010.
Diễn biến thanh khoản của ngân hàng thương mại
Trên thị trường liên ngân hàng, từ đầu năm 2010 đến tuần thứ 3 của tháng 2/2010,
thanh khoản VND trên thị trường LNH hết sức căng thẳng, đặc biệt vào thời điểm giáp Tết
Nguyên đán, lãi suất thị trường tăng vượt mức trần quy định 12%/năm. Trước tình hình đó,
NHNN đã có những hỗ trợ kịp thời khiến thị trường nhanh chóng trở lại ổn định vào thời
điểm cuối tháng 2. Từ sau Tết Nguyên đán (tuần cuối tháng 2) đến nay, tính thanh khoản
của thị trường đã được cải thiện, nguồn cung VND dồi dào ở kỳ hạn ngắn dưới 1 tháng. Lãi
suất giao dịch luôn xoay quanh mức lãi suất thị trưởng mở của NHNN. Trong tháng 6, thị
trường LNH tiếp tục ổn định nguồn cung trên thị trường dồi dào khiến cho lãi suất duy trì ở
mức thấp (lãi suất kỳ hạn O/N – 1 tuần phổ biến từ 6-7%; 2 tuần -1 tháng từ 7,2-8,6%). Một
số thời điểm lãi suất giao dịch dưới cả lãi suất thị trường mở do nhu cầu thị trường ở mức
thấp. Doanh số giao dịch tập trung ở các kỳ hạn ngắn, O/N – 2 tuần.
Đến nay, nhu cầu vốn ngắn hạn của các NHTM đang gia tăng. Điều này thể hiện rất
rõ qua giá trị giao dịch hàng ngày của các NHTM trên thị trường mở. Tuần thứ ba trong
tháng 7, tổng lượng tiền chào thầu trên thị trường mở của NHNN là khá cao, đạt 61.000 tỉ
đồng, tăng 3.000 tỉ đồng so với tuần trước đó, tỉ lệ vốn chào thầu so với vốn đăng ký đấu
thầu giảm xuống 60,7% trong tuần trước so với mức 73% của tuần trước đó. Điều này là do
lượng vốn đăng ký đấu thầu tăng 27,6%, lên mức 101.000 tỉ đồng trong tuần thứ ba của


2006

2007

2008

2009

HOSE
Khối lượng CP (triệu) 539

1,817

2,978

10,432

Giá trị tỉ VND 35,742

217,835

124,576

423,299

Giá TB 1 CP (VND) 66,37

119,9



Giá TB 1 CP (VND) 40,97

103,63

37,31

34,263

Nguồn : HOSE và HNX
Giai đoạn thị trường hạ nhiệt và dao động trong biên độ hẹp
Thị trường chứng khoán Việt nam trong 6 tháng đầu năm 2010 dao động trong biên
độ hẹp trên cả hai sàn do phụ thuộc nhiều vào tâm lý của nhà đầu tư, cũng như dòng tiền
chảy vào thị trường trong thời gian qua do những biến động của kinh tế vĩ mô. VN-Index
đạt mức thấp nhất ngày 22/01/2010 ở mức 447.59 điểm và đạt mức cao nhất ngày
06/05/2010 ở mức 549.51 điểm, với biên độ dao động tối đa là 23%, thấp hơn rất nhiều so
với biên độ dao động 111% cùng kỳ năm ngoái. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra trên sàn
Hà Nội, khi HNX-Index dao động trong biên độ hẹp 23%, so với mức 129% cùng kỳ năm
ngoái. Khối lượng giao dịch, tuy có sụt giảm so với 6 tháng cuối năm 2009 nhưng được duy
trì ở mức ổn định, bình quân 1,850 tỉ đồng/ngày trên sàn HOSE và 1,079 tỉ đồng/ngày trên
sàn Hà Nội.
TTCK Việt Nam trong 6 tháng đầu năm tiếp tục được hỗ trợ bởi xu hướng mua ròng
của NĐTNN. Trong khi nhà đầu tư trong nước còn đang thận trọng thì NĐTNN duy trì
động thái mua bán ổn định và mua ròng trong suốt 6 tháng đầu năm mà không chịu ảnh
hưởng nhiều từ biến động tăng giảm của cả hai chỉ số. Trong đó, đỉnh điểm là trong tháng
4/2010, NĐTNN đã mua ròng lên tới 2,313 tỉ đồng trên sàn HOSE. Qua biến động về tỉ
trọng giao dịch cũng như giá trị giao dịch của NĐTNN, có thể thấy NĐTNN đã có gắn bó
lâu dài với TTCKVN, luôn đặt kỳ vọng vào sự tăng trưởng trở lại của TTCK VN.
5. An sinh xã hội
Khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động trực tiếp đến tình hình an sinh xã hội trong

công nghệ thành những trụ cột cho nền kinh tế.
2. Nhằm giảm thâm hụt cán cân thương mại, đối với một nước đang phát triển có
nhu cầu lớn về nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất như Việt
Nam thì kiềm chế nhập khẩu đặt ra trong ngắn hạn là một thách thức lớn. Tuy nhiên, nhằm
dần cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trong dài hạn thông qua việc đẩy
mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, các giải pháp cần phải thực hiện đồng bộ gồm :
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước thông qua
việc đầu tư, cải tiến thiết bị công nghệ, năng lực quản lý, tổ chức sản xuất,… nhằm tạo ra
các sản phẩm nội địa chất lượng cũng như tạo uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp Việt
Nam. Qua đó, cả chất lượng và số lượng hàng xuất khẩu đều được nâng lên.
- Tăng cường tỉ lệ nội địa hoá của sản phẩm thông qua việc sử dụng các chi tiết, linh
kiện sản xuất nội địa, chỉ nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu đầu vào cần thiết mà
doanh nghiệp Việt Nam chưa thể sản xuất. Hạn chế nhập khẩu, đặc biệt là các mặt hàng tiêu
dùng xa xỉ, không thiết yếu.
- Đẩy mạnh thực hiện phong trào "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam" nhằm thay đổi tâm lý "sính hàng ngoại" giúp đẩy mạnh tiêu dùng hàng hoá nội địa
cũng như hạn chế hàng nhập khẩu.
24

3. Để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài : Việt Nam cần nỗ lực đẩy mạnh cải
thiện môi trường kinh doanh bao gồm giải quyết những bất cập về hạ tầng, thủ tục hành
chính, thực hiện các cam kết với quốc tế, minh bạch thông tin, tăng cường năng lực thể chế.
Đây là những yếu tố cốt lõi để không chỉ giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà còn có tác
động tích đối với phát triển kinh tế trong dài hạn cũng như khuyến khích được đầu tư tư
nhân trong nước. Với mức vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm trong 6 tháng đầu năm 2010
còn khiêm tốn như hiện nay, để đạt được mục tiêu thu hút vốn FDI từ 22 - 25 tỉ USD trong
năm 2010 thì trong những tháng còn lại Chính phủ cần tăng cường các chính sách thu hút
vốn như vận động xúc tiến đầu tư mạnh mẽ hơn, đẩy nhanh quá trình cải thiện môi trường
đầu tư và cải cách thủ tục hành chính một cách đồng bộ.
4. Về chính sách tiền tệ

thêm vốn (mua cổ phần bằng mệnh giá) và đóng vai trò là chủ sở hữu, thực hiện cơ cấu lại
hoạt động của các ngân hàng này. Sau đó thực hiện thoái vốn thông qua việc bán cổ phần
cho các NHTM lớn có uy tín tiếp tục tham gia điều hành, quản lý; (ii) Giao trực tiếp cho các
NHTM lớn (đặc biệt là các NHTMNN) tham gia vào quá trình xây dựng phương án sắp
xếp, cơ cấu lại các NHTMCP nhỏ theo phương thức mua lại toàn bộ hoặc một phần để tham
gia điều hành, quản trị đảm bảo các ngân hàng này hoạt động an toàn, hiệu quả (thực hiện
theo hướng dẫn tại Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy định việc sáp
nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD).
6. Phát triển thị trường trái phiếu để làm kênh huy động vốn dài hạn cho DN
Mặc dù, hiện nay thanh khoản và nguồn vốn khả dụng của các NHTM đã từng bước
được bình ổn trở lại, nhưng sự mất cân đối về kỳ hạn giữa huy động vốn và sử dụng vốn
vẫn đang là một vấn đề lớn của các NHTM. Các NHTM chủ yếu chỉ huy động được nguồn
vốn ngắn hạn, gần như không có ngân hàng nào huy động được nguồn vốn với kỳ hạn trên
1 năm. Trong khi đó, nhu cầu tín dụng cho các dự án trung dài hạn của doanh nghiệp rất
lớn, vì vậy hầu hết các ngân hàng đều thiếu nguồn vốn trung dài hạn để cho vay. Đề tháo gỡ
khó khăn này, đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính xây dựng Đề án phát triển thị trường
trái phiếu, bao gồm trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp để tăng khả năng huy
động vốn trung dài hạn của nền kinh tế, đảm bảo nguồn vốn cho NSNN và nguồn vốn thực
hiện đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Theo đó sớm cụ thể hoá các biện pháp khuyến khích
các doanh nghiệp huy động vốn trái phiếu để đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, giảm
áp lực tín dụng trung dài hạn cho các NHTM.
7. Phát triển thị trường chứng khoán
Để TTCK Việt Nam phát triển bứt phá, thực sự là một kênh huy động vốn dài hạn
quan trọng nhất của các doanh nghiệp, cũng như thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, cần
phải tập trung vào một số giải pháp sau đây :
- Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động đầu tư, M&A, mua bán doanh nghiệp.
Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho các sản phẩm tài chính mới như các sản phẩm
phái sinh, hedging
- Tăng cường tính công khai minh bạch, thông tin thông suốt cho thị trường, xây
dựng định chế trung gian (công ty chứng khoán, ngân hàng thanh toán, ngân hàng giám sát,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status