Toàn cầu hóa tác động tới lao động và việc làm Việt Nam - Pdf 30

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Danh mục từ viết tắt
CN,CX CÔNG NGHIỆP,CHẾ
XUẤT
CNKT CÔNG NHÂN KỸ
THUẬT
LĐ LAO ĐỘNG
TCH TOÀN CẦU HÓA
TCTK TỔNG CỤC THỐNG

TCCN TRUNG CẤP CHUYÊN
NGHIỆP

1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Danh mục các bảng
Bảng 1:Cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế từ năm 2001 dến 2008
Nguồn: Lao động đang làm việc hàng năm phân theo thành phần kinh tế
và phân theo ngành kinh tế năm 2008- TCTK
Bảng 2: Lao động chuyên môn kỹ thuật trong khu vực FDI từ năm 2004 đến
2008
Nguồn: Cơ cấu lao động đang làm việc hàng năm phân theo thành phần
kinh tế và phân theo ngành kinh tế
Bảng 3: Tỷ lệ lao động phân theo giới tính và trình độ chuyên môn kỹ thuật năm
2007
Nguồn: Điều tra lao động - việc làm năm 2007 của Bộ Lao động -Thương
binh và Xã hội
Bảng 4 . Tình trạng việc làm của lao động nữ (đơn vị %)
Nguồn: Tổng cục Thống kê (năm 2008)
Bảng 5: Sử dụng lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của các loại hình
doanh nghiệp

tiễn cho thấy, xu thế toàn cầu hoa không những tác động đến toàn bộ nền kinh tế
mà còn tác động lớn đến các vấn đề về lao động. Các nhân tố của toàn cầu hoá đã
tác động đến mở rộng việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển thị
trường thị trường lao động, tăng thu nhập của người lao động trong nhiều khu
vực, ngành nghề. Năng suất lao động trong nhiều khu vực, ngành đã đạt mức cao
hơn nhiều so với thời kỳ trước đổi mới. Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng đặt ra
những thách thức đối với vấn đề laođộng, việc làm và phát triển nguồn nhân lực
nước ta. Lực lượng lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ còn thấp, chất lượng đào tạo
còn bất cập chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là cho các
ngành, lĩnh vực công nghệ cao, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các
loại hình dịch vụ hiện đại; tỷ lệ thất nghiệp còn cao; thu nhập của người lao động
con thấp. Lao động Việt Nam còn phải khắc phục những bất cập theo chuẩn mực
lao động của khu vực và quốc tế để có đủ điều kiện tham gia hội nhập. Bên cạnh
đó, quá trình hội nhập cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội của lao động. Vì thế quá
trình hội nhập kinh tế đòi hỏi nước ta phải vượt qua những yếu kém rất cơ bản,yêu
cầu đất nước phải tích cực và chủ động nhiều hơn.Xuất phát từ tình hình thực tế
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trên, em đã chọn đề tài “ Toàn cầu hóa tác động tới lao động và việc làm Việt
Nam.”
1.Mục đích nghiên cứu:
Giúp tìm ra giải pháp,định hướng cho sự phát triển của nguồn nhân lực trong
nước trước xu thế toàn cầu hó.
2.Phương pháp nghiên cứu:
Đề tàichủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp
với các phương pháp phân tích, thống kê so sánh, đối chiếu tổng hợp,… để làm
sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu.
3.Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số lĩnh vực đó là những thuận lợi và khó
khăn mà với lao động Việt Nam gặp phải trong tiến trình toàn cầu hóa.

2.3. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của lao động
nước ta
2.4.Những bất cập trong việc phát triển nguồn nhân lực VN đáp ứng yêu cầu
toàn cầu hóa
III.GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VIỆT NAM DƯỚI
TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ
1.Giải pháp về việc làm và chống thất nghiệp
+) Ổn định nền kinh tế vĩ mô và đào tạo bầu không khí đầu tư lành
mạnh trong toàn xã hội
+)Lựa chọn công nghệ ngoại nhập thích hợp
+) Hoàn thiện các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài
+) Xây dựng và hoàn thiện các chính sách đối phó với những khả
năng tác động mạnh mẽ của việc thực hiện các quá trình tự do hoá
thương mại.
2.Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
+)Đào tạo nhân lực cho phát triển các lĩnh vực công nghệ cao.
+)Đào tạo nguồn nhân lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải
cách lao động ở nông thôn
+)Đào tạo nhân lực cho xuất khẩu lao động
+)Hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực
3.Giải pháp về chính sách lao động và giải quyết các vấn đề xã hội
của LĐ
+)Hoàn thiện chính sách lao động
+)Chính sách giải quyết các vấn đề xã hội của lao động
IV.KẾT LUẬN
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. KHÁI QUÁT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẤU HOÁ ĐỐI VỚI
LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1. Khái quát chung về tác động của toàn cầu hoá

khá biện chứng về quá trình toàn cầu hoá. Ông không coi nó là quá trình đồng
nhất toàn cầu, mà là sự thâmnhập lẫn nhau giữa cái toàn cầu (the global) và cái địa
phương (the local).Trong kinh doanh, nó thể hiện bằng sự hợp tác toàn cầu đáp
ứng nhu cầu sản phẩm và thị trường của địa phương theo từng hoàn cảnh cụ thể,
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tương thích với sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng. Từ đó, Robertson đưa ra khái
niệm “glocalization” hay “local globalization” (toàn cầu hoá có tính địa phương.
Tóm lại, toàn cầu hoá kinh tế bao hàm sự lưu chuyển ngày càng tự do hơn và
nhiều hơn hàng hoá, vốn, công nghệ và lao động vượt ra khỏi biên giới quốc
gia .Đó chính là phương thức để giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình
phát triển của sức sản xuất, một quá trình làm cân đối cung cầu đối với những yếu
tố đầu vào và đầu ra của sản xuất, bao gồm vốn, công nghệ, quản lý, nhân công và
hàng hoá nhằm tối ưu hoá việc phân bố và sử dụng những yếu tố này trên phạm vi
toàn cầu.
Như vậy, toàn cầu hoá là một quá trình khách quan của xã hội loài người, cả
thế giới chỉ có một quá trình toàn cầu hoá duy nhất đang trải qua các giai đoạn
phát triển khác nhau, mỗi nước - đặt biệt là các nước đang phát triển – không thể
có sự lựa chọn: tẩy chay toàn cầu hoá này hay chỉ tham gia vào toàn cầu hoá kia,
hoặc chờ đợi làn sóng toàn cầu hoá mới nào đó có lợi cho mình. Việt Nam cũng
không là trường hợp ngoại lệ. Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Anan đã nói “
Những người thua cuộc thực sự trong một thế giới còn rất nhiều bất bình đẳng
ngày nay không phải là những người đã phải đối mặt quá nhiều với toàn cầu hoá
mà là những người bị gạt ra lề của quá trình ấy”. Thủ tướng Phan Văn Khải cũng
không chỉ rõ: “Chúng ta cần cùng nhau tìm ra các biện pháp nhằm tối đa hoá các
mặt tích cực và tối thiểu hoá các mặt tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá, đặc biệt
là ngăn chặn sự phát triển của đói nghèo tại các nước đang phát triển vì các nước
này tham gia vào quá trình toàn cầu hoá lànhằm đạt được một sự phát triển ổn
định và bền vững”.
1.2. Nhận xét chung về tác động của toàn cầu hoá đến thị trường lao động

mình sẽ làm giảm bớt mức độ định đoạt tiền lương và phân biệt đối xử với lao
động nữ của những người sử dụng lao động.Không chỉ có vậy, nhờ có thương mại
hàng hoá và dịch vụ, nhờ sự chu chuyển về vốn và các luồng di chuyển trên thị
trường, thu nhập từ lao động trong xu hướng dài hạn ở các nước đang phát triển
ngày một tăng.Tác động tích cực của toàn cầu hoá đến tiền lương trước hết được
chỉ ra trong mối liên hệ chặt chẽ giữa tiền lương và năng suất ở trong một quốc
gia. Nhìn chung các nhà kinh tế thừa nhận: Năng suất lao động tăng nhanh hơn ở
những nền kinh tế mở hơn, trong khi đến 90% sự khác biệt về tiền lương được giải
thích bởi sự khác biệt về năng suất lao động. Với chừng mực nhất định, sự di
chuyển các luồng vốn quốc tế có thể làm cho khủng hoảng tài chính dễ xảy ra
hơn, những mất mát về thu nhập do toàn cầu hoá gây nên có thể lớn hơn rất nhiều
so với những gì mà thương mại quốc tế mang lại. Khủng hoàng tài chính nổ ra
làm giảm mức thu nhập từ lao động là do các luồng vốn đã ngày càng tự do di
chuyển , trong khi lao động thì không như vậy. Do vậy, đồng thời với việc “làm
thông thoáng” thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần quản
lý kinh tế vĩ mô tốt và thực thi những chính sách tài chính có hiệu quả. Trong khi
tác động ngắn hạn của tự do hoá thương mại đến tiền lương có thể là tiêu cực, thì
tích cực ngắn hạn của đầu tư trực tiếp nước ngoài lại là tích cực. Do vậy, mở cửa
nền kinh tế, tự do di chuyển lao động mà không thu hút được vốn đầu tư nước
ngoài sẽ dẫn đến những mất mát lớn về tiền lương và thu nhập từ lao động. Tại
Việt Nam cũng đang diễn ra những xu hướng tiền lương và dòng dichuyển lao
động khác nhau. Những cơ hội việc làm được tạo ra bởi dòng FDI, nhất là ở
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
những khu công nghiệp và khu chế xuất và sự trả công hấp dẫn hơn đã tạo nên
dòng di chuyển lao động từ vùng nông thôn ra thành thị, từ khu vực nông nghiệp
chuyển đến khu công nghiệp, từ nơi có thu nhập thấp hơn đến khu có thu nhập cao
hơn. Ngoài ra, dòng di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc cũng tuân theo
quy luật trên, tức là tới những nơi có cơ hội việc làm nhiều hơn và trả công cao
hơn. Xét về khía cạnh kinh tế, đây là những sự dịch chuyển lao động tuân theo

ly, mà luôn phải gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế– xã hội, vừa có tác
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dụng phục vụ, vừa có tác dụng thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Đây
cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong lĩnh vực quản
lý và phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình toàn cầu hoá.Mặc dù toàn cầu hoá
đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, với nguy cơ về sựkhông ổn định và gạt ra bên lề
một số nước, kinh nghiệm hiện tại cho thấy toàn cầu hoá mở ra những triển vọng
mới cho hội nhập của các nước đang phát triển vào nền kinh tế thế giới.
1.2.1Những cơ hội mở ra đối với Việt Nam
Toàn cầu hoá đang mở ra những cơ hội chưa từng có cho các nước trên
thếgiới. Nhờ những tiến bộ của công nghệ thông tin và viễn thông mà chi phí giao
dịch giảm đi rất nhiều, khoảng cách về không gian và thời gian giữa các quốc gia
được thu hẹp, tốc độ và điều kiện tiếp cận với tri thức mới được tăng lên. Toàn
cầu hoá làm tăng thêm tính tự chủ của các tác nhân tham gia quá trình này vì làm
tăng cơ hội lựa chọn của họ, Toàn cầu hoá có lợi cho việc thúc đẩy các nhân tố
kinh tế như tiền tệ, kỹ thuật, tri thức, phân bổ hợp lý hoá các nguồn lực, mở rộng
hoạt động thương mại, nâng cao hiệu quả kinh tế, gắn chặt mối liên kết kinh tế ,
kỹ thuật giữa các nước và khu vực. Thị trường thế giới đã trở thành một nguồn
công nghệ và vốn vô cùng lớn lao mà các nước đều có cơ hội để khai thác. Tri
thức của loài người và thông tin toàn cầu được phổ biến rộng rãi mà mọi người
đều có cơ hội tiếp cận.
Đối với nước ta, toàn cầu hoá tạo cơ hội thu hút các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, tiếp thu các công nghệ mới để thúc đẩy phát triển kinh tế. Toàn cầu hoá
thúc đẩy phát triển thương mại và tạo điều kiện cho nước ta tham gia sâu rộng hơn
vào phân công lao động quốc tế nhằm phát huy tốt hơn lợi thế cạnh tranh của nền
kinh tế. Như vậy, với những điều kiện phù hợp, toàn cầu hoá có thể đóng góp
đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và mở ra con đường phát
triển lâu dài bền vững tiến kịp các nước đi trước.
1.2.2Những thách thức lớn đối với Việt Nam

trở yêu cầu tăng cường giáo dục và đào tạo cho người lao động tại các vùng chậm
phát triển và cho người nghèo .
2.Tổng quan về tác động của toàn cầu hoá đối với một số vấn đề lớn
trên thị trường lao động Việt Nam
Đối với Việt Nam trong gần hai thập kỷ qua, nhiều thay đổi đã và đang diễn ra
dưới những tác động kép. Thứ nhất, đó là những thay đổi do quá trình đổi mới mà
Đảng và nhân dân ta chủ động khởi xướng và thực hiện mang lại. Thứ hai là tác
động của xu hướng toàn cầu hoá. Đường lối đổi mới của Việt nam được thực hiện
trong bối cảnh trên thế giới đang diễn ra xu hướng toàn cầu hoá và yếu tố toàn cầu
hoá được tính đến trong quá trình triển khai đường lối đổi mới. Bởi vậy, chúng ta
cần đánh giá, dự báo đúng những thay đổi đã và có thể diễn ra dưới những tác
động của nhữngyếu tố nội tại trong đường lối đổi mới và những tác động từ bên
ngoài của xu hướng toàn cầu hoá. Nói cách khác, chúng ta cần đánh giá đúng
mức độ và phạm vi tác động của toàn cầu hoá đổi với những thay đổi của Việt
Nam để có những đối sách thích hợp. Trong lĩnh vực lao động – việc làm và các
vấn đề xã hội, có thể khái quátmột số tác động của toàn cầu hoá như sau
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.1. Tác động của toàn cầu hoá đối với vấn đề việc làm
Về tổng thể trên phạm vi toàn cầu, quá trình toàn cầu hoá làm tăng lưu lượng
giao dịch trên cả 3 thị trường là thị trường hàng hoá-dịch vụ, thị trường tài chính
và thị trường lao động. Đối với thị trường lao động thế giới, tổng cầu về lao động,
tức số việc làm mới được tạo ra nhiều hơn, nhưng đi kèm theo đó sẽ là sự dư thừa
lao động cục bộ, tức thất nghiệp do sự cạnh tranh và sự phân bổ lại các nguồn lực
dưới tác động điều chỉnh của thị trường toàn cầu. Như vậy, sự gia tăng của tổng
cầu về lao động và suy giảm cục bộ về lao động chính là hai yếu tố mang đến thời
cơ và thách thức cho mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp trong quá trình toàn cầu
hoá. Trong khi toàn cầu hoá vừa làm mất đi việc làm vừa tạo ra việc làm mới, hai
quá trình này không diễn ra đồng thời. Trong giai đoạn tự do hoá thương mại, và
nói chung hơn là giai đoạn của cải cách kinh tế, tốc độ mất việc làm có thể cao

tổng kim ngạch xuất khẩu lớn và sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép,
nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây nông nghiệp
và công nghiệp như lúa, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su, cây ăn quả....
Về xuất khẩu lao động, Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết từ đầu năm
2009 đến nay, cả nước đã đưa được 65.787 người đi xuất khẩu lao động, đạt
73,1% kế hoạch. Xét trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kết quả này thể
hiện sự nỗ lực của đội ngũ làm công tác xuất khẩu lao động. Tuy nhiên, nhiều nhà
phân tích cho rằng, đằng sau các con số là những vấn đề cần mổ xẻ một cách
nghiêm túc, để đánh giá triển vọng một cách chính xác.Nhiều doanh nghiệp xuất
khẩu lao động cho rằng, diễn biến trên thị trường lao động ngoài nước thời gian
qua là khá phức tạp và không sát dự kiến. Ví dụ, khoảng 2 năm trở về trước,
Malaysia là thị trường dẫn đầu về số lượng, tiếp nhận khoảng 35.000 - 40.000 lao
động/năm.Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cũng xác định từ năm 2009 trở
về sau, thị trường Trung Đông đóng vai trò trọng điểm, với mục tiêu mỗi năm đưa
được khoảng 25.000 người. Ngoài ra, thị trường Đông Âu (gồm Nga, Czech,
Slovakia, Bulgaria, Romania,...) cũng từng được đặc biệt quan tâm với kỳ vọng
mỗi năm giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn người.
Tuy vậy, số liệu tổng kết từ Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cho thấy,
năm 2009, Đài Loan là thị trường tiếp nhận nhiều nhất, với 19.577 người lao
động, Hàn Quốc 7.175 người, Nhật Bản 4.959 người. Điều khá bất ngờ, Lào đột
ngột “bứt phá” và vươn lên trở thành thị trường lao động xuất khẩu lớn thứ tư, với
4.580 người. Kế đến là Libya 4.550 người, UAE 3.933 người... Các thị trường
được xác định là trọng điểm trước đây, hoặc cơ bản không còn tồn tại (như Đông
Âu), tiếp nhận lao động nhỏ giọt (như Trung Đông), hoặc thiếu “nguồn” (như
Malaysia).
Ngoài ra, còn phải kể đến hàng chục ngàn lao động bằng cách này cách khác đã
tìm được cách ra nước ngoài làm ăn sinh sống, phần lớn ở các nước Đông Âu và
các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ, và trong thời gian gần đây là sang Trung
Quốc và Căm Pu Chia. Trong số này có những người làm ăn nghiêm túc, có
những đóng góp cho kinh tế của nước sở tại và tạo thu nhập cho bản thân và gia

Nhà nước sẽ thuộc diện dôi dư. Bởi vậy, trong những năm tới, xử lý vấn đề lao
động dôi dư từ các doanh nghiệp Nhà nước đang là vấn đề trọng tâm của ViệtNam
trong lĩnh vực lao động việc làm.
2.2. Tác động của toàn cấu hoá đối với vấn đề nguồn nhân lực
Toàn cầu hoá không chỉ là vấn đề của Quốc gia, khu vực mà là công việc của
từng cá nhân và từng doanh nghiệp, họ là chủ thể chính của quá trình toàn cầu hoá
đang diễn ra trên thế giới. Với cách nhìn này nhiều người còn nói toàn cầu hoá là
một hiện tượng vi mô. Bởi lẽ:
Quá trình toàn cầu hoá hiện nay với nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển,
yếu tố con người được phát huy hơn bao giờ hết so với giai đoạn phát triển trước
đây của xã hội loài người. Tính chất toàn cầu hoá trong sản xuất và cạnh tranh của
mỗi quốc gia ngày càng đi vào chiều sâu; sự phát triển của nền kinh tế tri thức với
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
động lực là sự tiến triển vũ bão và không ngừng của khoa học kỹ thuật và công
nghệ ngày càng làm sâu sắc thêm đặc điểm trên, qua đó con người – với tính cách
và trình độ từng cá nhân – ngày càng đóng vaitrò trung tâm trong mọi hoạt động,
mọi quyết định của quá trình sản xuất và cạnh tranh.
Môi trường để con người phát huy vai trò nói trên của mình là doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là người trực tiếp nhất trong đối chọi hay hợp tác với mọi đối tác
trong nền kinh tế toàn cầu hoá- Nhà nước chỉ đứng đằng sau làm hậu thuẫn.
Đương nhiên đến lượt mình, bản thân sự phát triển của mỗi doanh nghiệp lại cũng
do yếu tố con người quyết định. Lao động giản đơn ngày càng giảm ý nghĩa trong
sản xuất và cạnh tranh mang tính toàn cầu, trái lại năng lực và tư chất con người
quyết định biến những cơ hội do môi trường mới mang lại thành những hoạt động
sản xuất thiết thực, mở đường “tiến kịp” các nước đi trước.Toàn cầu hoá càng
phát triển, các thị trường càng được mở rộng, thương mại càng tự do thì sức ép về
tính cạnh tranh càng cao đối với mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, thậm chí mỗi
cá nhân. Trước đây, giá nhân công rẻ là lợi thế của các nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam, để thu hútvốn đầu tư nước ngoài và xuất khẩu lao động. Nhưng

lao động nước ta không chỉ thể hiện ở trình độ chuyên môn, tay nghề chưa cao ,
thiếu ngoại ngữ, mà còn ở tinh thần chấp hành kỷ luật, hiểu biết pháp luật còn hạn
chế, văn hoá ứng sử trong công việc chưa phù hợp với tác phong làm việc hiện
đại. Tính cạnh tranh chưa cao của lực lượng lao động Việt Nam tiếp tục là những
thách thức lớn đối với Việt Nam trong quá trình toàn cầu hoá, đòi hỏi chúng ta
phải có những cố gắng lớn hơn trong chiến lược giáo dục và phát triển nguồn nhân
lực cho phù hợp với yêu cầu của thời đại.
2.3. Tác động của toàn cầu hoá đối với vấn đề quan hệ lao động
Dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế cơ chế quan hệ lao động mới được hình
thành. Trong đó, cơ chế thoả ước lao động tập thể (cộng đồng hiệp ước) và hợp
đồng lao động nguyên tắc cơ sở để người lao động và người sử dụng lao động cam
kết thực hiện quan hệ lao động. Thoả ước lao động tập thể và hợp động lao động
được sử dụng rộng rãi trong quan hệ lao động tại các nước kinh tế thị trường trên
thế giới, là căn cứ để bảo vệ người lao động và người sử dụng lao động trước pháp
luật có sự tham gia của đại diện Công đoàn, Nghiệp đoàn.Nhà nước thực hiện việc
điều chỉnh quan hệ lao động thông qua Bộ luật lao động và các văn bản pháp luật
hướng dẫn áp dụng Bộ luật lao động. Cơ chế quan hệ lao động mới bao hàm việc
trao quyền tự chủ hoàn toàn cho người sử dụng lao động trong tuyển dụng, sử
dụng, trả lương (trảcông) và kết thúc hợp đồng đối với người lao động trên cơ sở
tuân thủ các quy định pháp luật lao động, bảo vệ các lợi ích của người lao động và
của người sử dụng lao động. Dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế với sự phát
triển của nhiều loại hình doanh nghiệp, quan hệ lao động có những đặc trưng
riêng. Đó là quan hệ lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, hợp tác xã
kiểu mới, doanh nghiệp FDI. Nhà nước đã có một số quy định riêng đối với quan
hệ lao động trong các doanh nghiệp loại này; đặc biệt là về tiền lương tối thiểu, cổ
phần của các cổ đông, các quyền lợi vật chất khác của người lao động... Phù hợp
với quan hệ lao động mới, quyền đình công của người lao động được luật pháp lao
động quy định. Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động mang tính phổ biến của các
nước trên thế giới được hình thành (hệ thống hoà giải lao động, toà án lao động...).
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status