ung thư tuyến giáp, chăm sóc và điều trị - Pdf 17

Ung thư
tuyến giáp
Ung thư tuyến giáp là ung thư về tuyến giáp, chiếm
khoảng 1% các loại ung thư. Nó là ung thư
tuyến nội tiết thường gặp nhất. Đa số ung thư tuyến
giáp là carcinôm biệt hoá tốt, điều trị chính yếu là
phẫu thuật và có tiên lượng rất tốt.
VÕ VĂN CHI/Cam Ranh.khánh hòa.Sưu tầm
Dịch tễ học
Tại Hoa Kỳ ung
thư tuyến giáp có
khoảng 2 - 4 ca
mới/100.000
dân/năm, tỷ lệ
nam/nữ là 1/2,7
và tỉ lệ tử vong
hằng năm là 0,2 -
2,8/ 100.000 dân.
Các trường hợp
thường gặp là trẻ
dưới 20 hoặc lớn
hơn 50 tuổi.
Theo ghi nhận
ung thư toàn cầu
2002, ở Việt Nam,
xuất độ chuẩn
theo tuổi là
2,7/100.000 dân
đối với nữ và
1,3/100.000 đối
với nam

Hạt giáp lớn nhanh
Mật độ cứng khi sờ
Dính vào các cấu trúc lân cận
Tiền căn gia đình có ung thư tuyến giáp
Liệt dây thanh (gây khàn tiếng)
Có hạch cổ
Khối u nhỏ nghi ngờ ung thư phát hiện tình cờ qua siêu âm vùng cổ, qua đánh
giá phình giáp đa hạt hoặc bệnh Graves.
Hạch cổ di căn tiềm ẩn của carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.
Các phương tiện chẩn đoán
Siêu âm
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn của tuyến giáp. Phương
tiện này có lợi điểm là an toàn, không độc hại, rẻ tiền và rất hiệu quả để đánh giá
cấu trúc của tuyến giáp. Ngoài ra siêu âm có thể đánh giá chính xác kích thước, vị
trí của hạt giáp và rà tìm các hạt giáp không sờ thấy lâm sàng. Siêu âm ngày càng
được sử dụng nhiều để hướng dẫn làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA: Fine
Needle Aspiration) hạt giáp.
Các dấu hiệu của một hạt giáp nghi ngờ trên siêu âm:
Tăng sinh mạch máu ở trung tâm
Hạt giáp phản âm kém
Bờ không đều
Vi vôi hoá bên trong
Xạ hình
Xạ hình tuyến giáp dùng để đánh giá sự hấp thu iod của các hạt giáp. Các hạt
nóng ít có nguy cơ ác tính hơn các hạt lạnh. Các hạn chế của phương tiện này là:
độc hại phóng xạ, mắc tiền và độ ly giải hình ảnh kém. Ngày nay ung thư tuyến
giáp thừơng được chẩn đoán bằng FNA và xạ hình tuyến giáp hiếm khi cần trong
đánh giá thường qui của một hạt giáp.
Chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ
Chụp cắt lớp điện toán (computerized tomography hay CT) và


Các loại phẫu thuật được chấp nhận hiện nay là:

Cắt thuỳ giáp toàn phần.
Cắt giáp quá bán (subtotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 2-4 gram mô giáp.
Cắt giáp gần toàn phần (neartotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 1 gram mô giáp và
Cắt giáp toàn phần.
Biến chứng phẫu thuật: liệt thần kinh hồi thanh quản và suy giáp khoảng 1%.
Nạo hạch cổ chức năng (nhóm II, III,IV, VI) thường được lựa chọn nhất
Liệu pháp kích tố đè nén: dựa vào cơ chế phản hồi ngược, dùng thyroxin liều cao để ức chế TSH, kìm hãm sự phát triển của bướu trong các trường
hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt. Liều dùng được cân nhắc với tác dụng phụ của điều trị trên tim mạch, xương, và độc giáp trạng nhất là ở người
lớn tuổi. Nồng độ TSH trong máu được duy trì trong khoảng 0,1-0,5 mU/L ở nhóm nguy cơ thấp và nhỏ hơn 0,01 mU/l ở nhóm nguy cơ cao
Liệu pháp 131I: dựa vào cơ chế hấp thu iốt của các carcinôm biệt hoá tốt. Liệu pháp này được dùng hỗ trợ sau mổ để diệt mô giáp hay bướu còn sót và
trong các trường hợp di căn xa có bắt iốt. Liều 131I từ 30 mCi đến 200 mCi tuỳ vào tuổi, mức độ xâm lấn của các bướu hoặc vị trí di căn xa.
Xạ trị ngoài dành cho các trường hợp carcinôm biệt hoá không phẫu thuật được hoặc không bắt iod, hỗ trợ sau mổ các trường hợp carcinôm dạng tuỷ
hoặc carcinôm không biệt hoá.
Hoá trị ít có vai trò trong carcinôm biệt hoá tốt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status