Bài kiểm tra
Môn: Tâm lý học quản lý
Họ và tên: Đỗ Trờng Sơn
Lớp: Cao học K2A - Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Đơn vị công tác: Phòng GD-ĐT Thái Thụy - Thái Bình.
Đề bài: Phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân cách ngời cán bộ
lãnh đạo, quản lý. Liên hệ thực tiễn đơn vị đang công tác và rút ra bài học kinh
nghiệm.
Bài làm
1/ T tởng Hồ Chí Minh về nhân cách ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý:
Quản lý lãnh đạo là một hoạt động mang tính khoa học, tính nghệ thuật, mặt khác
nó cũng hàm chứa những khó khăn, phức tạp. Muốn thành công trong công việc quản
lý, lãnh đạo thì đòi hỏi ngời lãnh đạo phải có những phẩm chất nhân cách đặc biệt,
những phẩm chất nhân cách này xuất phát từ đặc điểm lao động quản lý, từ vai trò vị
trí của ngời lãnh đạo, từ đặc điểm, tính chất từng lĩnh vực, từng đối tợng quản lý cụ
thể. Mỗi ngời lãnh đạo quản lý cần xây dựng cho bản thân một tính cách lãnh đạo phù
hợp với yêu cầu đặc điểm công tác của mình. Tuy nhiên đa số các nhà khoa học quản
lý đều cho rằng có thể nêu lên đợc những nội dung, những yêu cầu về nhân cách
chung cần thiết mà mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải có.
Trong cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản
lý. Hệ thống những quan điểm và t tởng của Ngời về xây dựng phẩm chất và năng lực,
nhân cách cho đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói riêng chứa đựng
những nội dung lý luận sâu sắc và có ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Nhân cách của Ngời
cán bộ trong hệ thống chính trị ở nớc ta hiện nay là sự tổng hòa các yếu tố về phẩm
chất và năng lực. Việc rèn luyện nhân cách ngời lãnh đạo, quản lý là một nhiệm vụ
then chốt, thờng xuyên của công tác cán bộ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân cách
ngời cán bộ thể hiện trớc hết ở lòng "trung với nớc, hiếu với dân". Ngời coi "trung với
nớc, hiếu với dân" là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách
mạng và là yếu tố cơ bản của nhân cách ngời cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân thì trung với nớc là dám xả thân vì nền độc lập, tự do
ở đâu xa, mà trớc hết chính ngay tại trong gia đình, họ tộc, xóm giềng của bản thân
ngời cán bộ lãnh đạo đó.
Nhân cách của ngời lãnh đạo, quản lý còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô t - điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng trong việc rèn
luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Cần, theo quan điểm của Hồ Chí Minh ngoài việc đòi hỏi ngời cán bộ phải cần
cù, siêng năng, chịu khó, biết vợt khó khăn, gian khổ để làm việc, còn là yêu cầu tăng
năng suất lao động. Đây là một quan điểm hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác -
Lênin khi coi năng suất lao động chính là một điều kiện cốt yếu để chủ nghĩa xã hội
chiến thắng chủ nghĩa t bản. Năng suất lao động của mỗi cá nhân là điều kiện để tạo
thành năng suất lao đông xã hội, nhng điều đó mới chỉ nói lên phần nào sự phát triển
kinh tế, chứ cha phản ánh đợc nhiều tăng năng suất lao động xã hội. Đức tính "cần"
của ngời lãnh đạo, quản lý hiện nay là phải chú ý tới hiệu quả, chất lợng công tác,
phải đo đợc bằng kết quả cụ thể của từng ngời, từng ngành, từng địa phơng, từng đơn
vị.
Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là tiết kiệm. Đáng chú ý là tình trạng lãng
phí ở nớc ta hiện nay diễn ra khá phổ biến và nghiêm trọng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: cần
phải đi đôi với kiệm; cần mà không kiệm thì tiền nh "gió vào nhà trống". Thực tế hiện
nay lãng phí biểu hiện ở rất nhiều mặt: lãng phí tiền của đầu t, lãng phí trong chi tiêu,
lãng phí thì giờ, v.v Điều đáng chú ý, cần nhấn mạnh nhất trong quan điểm này của
Hồ Chí Minh là ở chỗ, kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, mà là việc gì đáng chi thì
phải chi, việc gì cha đáng chi thì khoan hẵng chi, việc gì không đáng chi thí dứt khoát
không chi. Đây chính là bài học cơ bản nhất, lâu dài nhất, cần phải học cả đời ngời,
đối với mọi đối tợng, từ con ngời bình thờng và càng đặc biệt hơn đối với ngời cán bộ
lãnh đạo, quản lý của Đảng, của Nhà nớc. Ngày nay, đời sống đã đợc cải thiện đáng
kể so với trớc đây, nhng những nội dung cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu ra trên đây còn
nguyên giá trị, kể cả sau này khi nớc ta đã trở nên giàu có. Ngời lãnh đạo, quản lý là
những ngời nắm quyền, nắm tiền, nếu không chịu rèn luyện đức tính tiết kiệm theo
quan điểm và tấm gơng của Hồ Chí Minh thì rất dễ bị tha hóa nhân cách.
2
hoàn thành tốt mọi công việc và nhiệm vụ đợc giao.
Ngời cán bộ lãnh đạo quản lý thể hiện thờng xuyên nói đi đối với làm. Đạo đức
cách mạng không phải cứ tự nhiên mà có, mà phải là kết quả của sự rèn luyện thờng
xuyên trong suốt cuộc đời. Tự giác, tự nguyện, tự tu dỡng nhân cách phải trở thành
nếp sống hàng ngày của ngời lãnh đạo. Hồ Chí Minh quan niệm "một con ngời hôm
qua là vĩ đại, đợc mọi ngời yêu mến thì hôm nay không còn là vĩ đại nữa, nếu lòng
mình không trong sáng". Nhân cách của ngời cán bộ lãnh đạo còn biểu hiện trong
mối quan hệ thống nhất giữa nói và làm, điều mà trong tác phẩm "Đờng kách mệnh",
Hồ Chí Minh đã nêu rõ: "nói thì phải làm". Ngời là một tấm gơng sáng về nói đi đôi
với làm, nói còn làm nhiều việc hơn nói. Là ngời cán bộ lãnh đạo mà nói không đi đôi
với làm thì sẽ bị sa vào lối đạo đức giả, phản tác dụng trong việc thực hiện nhiệm vụ
của cơ quan, đơn vị.
2/ Liên hệ với thực tiễn tại đơn vị đang công tác:
Bản thân em đang công tác tại Phòng GD - ĐT huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đây là một huyện miền biển thuộc "vùng sâu, vùng xa" của tỉnh, cách xa trung tâm
3
tỉnh lỵ trên 30km về phía Đông. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, kinh tế chậm
phát triển, chú yếu phát triển nông nghiệp lúa nớc.
Trong những năm qua, đợc sự quan tâm, lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính
quyền các cấp; đợc sự ủng hộ đồng tình của các tổ chức, cá nhân; sự cố gắng vợt khó
vơn lên của đội ngũ CBGV mà chất lợng giáo dục Thái Thụy đã từng bớc đợc cải
thiện một cách vững chắc - hàng năm đều đợc Sở GD - ĐT đánh giá là đơn vị mạnh,
xếp thứ nhất, nhì trong 8 huyện (thành phố) trong tỉnh. Có đợc kết quả đó, trớc hết
phải nói đến sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo đối với công tác tổ chức cán bộ, nhất là
đối với cán bộ lãnh đạo trong ngành GD trên địa bàn huyện nhà. Đảng thực hiện lãnh
đạo toàn diện đối với công tác cán bộ, từ khâu quy hoạch, bồi dỡng đào tạo, bổ
nhiệm, miễn nhiệm đến kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ đều đợc thực hiện một
cách bài bản, có chất lợng, đảm bảo đúng quy trình, dân chủ, khách quan. Vì vậy mà
về cơ bản, đa số CBQL các nhà trờng đều là những GV có thành tích tốt trong hoạt
động dạy - học; có tinh thần trách nhiệm cao với công việc đợc giao; có tinh thần
để quy hoạch nguồn. Việc quy hoạch nguồn đợc thực hiện thờng xuyên hàng năm, khi
4
cần có thể đa ra khỏi nguồn quy hoạch hoặc bổ sung cho nguồn quy hoạch cán bộ
lãnh đạo nếu thấy cần thiết.
Thứ hai, căn cứ nguồn cán bộ đã quy hoạch, cần xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi
dỡng cán bộ theo từng giai đoạn ngắn, trung và dài hạn. Trên cơ sở kết quả phấn đấu
và rèn luyện mà thực hiện bổ nhiệm một cách khách quan, công bằng, dân chủ. Việc
bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo phải dựa trên nguyên tắc vì yêu cầu công việc và năng lực,
sở trờng của từng ngời mà bổ nhiệm cho phù hợp, phát huy đợc sở trờng. Bên cạnh đó
cũng cần phải chú ý tới cơ cấu độ tuổi của đội ngũ lãnh đạo ở mỗi cơ quan đơn vị, có
sự kết hợp kinh nghiệm của lãnh đạo cao tuổi với sự nhanh nhạy, trình độ của cán bộ
lãnh đạo trẻ tuổi. Chủ trơng quy hoạch cán bộ phải đợc kết hợp chặt chẽ giữa sắp xếp,
kiện toàn và đào tạo, bồi dỡng cán bộ.
Thứ ba, thờng xuyên thực hiện việc đánh giá cán bộ, coi đánh giá, lựa chọn, đề
bạt cán bộ là một khâu trọng yếu trong nội dung công tác cán bộ. Đánh giá cán bộ
phải trong sự vận động và phát triển, trong các mối quan hệ một cách toàn diện. Đặt
lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, không vì những mối quan hệ thân thiết mà
đánh giá, sắp xếp một cách thiếu khách quan, thiếu trung thực, làm mất lòng tin trong
quần chúng. hờng xuyên động viên cán bộ một cách kịp thời, có chế độ chính sách
thỏa đáng đối với những ngời có công và đào thải những cán bộ yếu kém, tha hóa.
5