BỆNH HỌC THỰC HÀNH
BỤNG ĐAU
Bụng là một phần cơ thể chứa đựng nhiều cơ quan phức tạp gồm Gan,
Lách, Dạ dày, Ruột già, Ruột non, Tử cung, Buồng trứng. Do đó bệnh ở
vùng bụng rất khó chẩn đoán. Muốn biết rõ hơn phần nào cần biết qua vị trí
các cơ quan trong bụng như sau:
Phân Khu Bụng
Kẻ 2 đường ngang:
. Đường trên qua bờ dưới sườn (điểm thấp nhất).
. Đường dưới qua hai gai chậu trước-trên.
Kẻ hai đường thẳng đứng qua giữa cung đùi phải và trái.
Kết quả chia bụng thành 9 vùng, mỗi tầng có 3 vùng:
Tầng trên: ở giữa là thượng vị (1).
Hai bên là vùng hạ sườn phải (2) và hạ sườn trái (3).
Tầng giữa: ở giữa là vùng rốn (4), hai bên là vùng mạng mỡ phải (5)
và trái (6).
Tầng dưới: ở giữa là vùng hạ vị (7), hai bên là hố chậu phải (8) và trái
(9).
+ Phần trên phía tay phải của bụng có Gan, Ống dẫn mật, túi mật và
Tuỵ tạng.
+ Phần trên phía tay trái của bụng có Dạ dày, Lách, Kết tràng ngang.
+ Phần dưới phía tay phải của bụng có ruột dư.
+ Phần dưới phía tay phải của bụng có trực trường.
+ Phần bụng dưới ở phụ nữ có tử cung, buồng trứng, dây chằng, bộ
phận sinh dục, bàng quang, thận.
Dựa vào các vị trí sẵn của cơ thể như trên, khi thấy bệnh nhân đau ở
vùng nào, kết hợp dựa vào các huyệt chẩn đoán của hệ thống kinh lạc châm
cứu, có thể tạm chẩn đoán ra sự rối loạn ở các tạng phủ liên hệ với vùng đau.
* Bụng đau từ lỗ rốn đến phía dưới hông sườn bên tay phải, có thể
nghĩ đến các chứng bệnh sau:
+ Viêm gan, Áp xe gan (nếu ấn đau huyệt Kỳ môn và Can du).
Tỳ mất chức năng vận hoá, tà khí lưu trệ bên trong làm cho khí cơ bị nghẽn,
không thông, gây nên đau bụng. Thiên ‘Cử Thống Luận’ (Tố Vấn 39) viết:
“Hàn khí trú ở mạch Quyết âm, mạch Quyết âm vòng quanh âm khí thuộc
vào Can. Hàn khí ẩn náu trong mạch thì huyết khó lưu thông, mạch co lại
gây nên chứng đau sườn, thiếu phúc đau co rút”.
Hoặc nhiệt tà, thử thấp xâm nhập vào cũng gây nên đau bụng. Hàn tà
tụ lại lâu ngày uất hoá thành hoả, nhiệt tích bên trong cũng gây nên đau bụng.
Thiên ‘Cử Thống Luận’ (Tố Vấn 39) viết: “Nhiệt khí lưu ở Tiểu
trường thì trong tiểu trường đau”.
+ Ăn Uống Không Điều Độ hoặc ăn những thức không sạch, hoặc ăn
nhiều thức béo mỡ, cay nóng khiến cho thức ăn đình trệ không tiêu, nung
nấu thành thấp nhiệt, hoặc nhiệt kết ở Trường Vị khiến cho đường ruột
không thông, đều có thể gây nên đau bụng.
+ Do Trùng Tích: Trùng tích dẫn đến phúc thống, chủ yếu là giun đũa.
Giun thường quấy rối trong ruột, hoặc chui lên ống mật làm cho khí huyết
nghịch loạn gây đau.
+ Các Nguyên Nhân Khác: Hoặc thể chất vốn Tỳ dương suy yếu làm
cho rối loạn sự vận hoá, hàn thấp đình trệ, khí huyết không đủ để ôn dương
cũng dẫn đến đau bụng. Hoặc do tức giận, suy nghĩ quá, Can mất điều đạt,
khí huyết bị uất kết, Can Vị không hoà mà làm cho đau. Hoặc sau khi tiến
hành bị giải phẫu, cục bộ bị dính làm cho khí trệ huyết ứ cũng gây đau. Hoặc
do kết thành sỏi tắc nghẽn, doanh vệ không thông, khí cơ không lợi cũng
gây đau.
Biện Chứng
Căn cứ vào nguyên nhân bệnh, vị trí đau, tính chất đau để phân biệt
tạng nào, kinh nào bị bệnh, biện chứng hàn nhiệt, hư thực v.v
Nói chung, bụng đau thuộc nhiệt chứng, thực chứng thường không
thích ấn vào, Hàn chứng, hư chứng thường thích xoa bóp. Do trùng tích thì
vùng bụng đau dữ dội lúc đau lúc không. Do thực trệ thì vùng bụng cứng,
bụng đầy, ấn vào đau. Do khí trệ thì vùng bụng chướng đau, đau không nơi
định, ấn vào đau, chất lưỡi tím tối, mạch hơi Sắc.
Biện chứng: Đau lâu phạm vào đường Lạc, huyết ứ nghẽn lại cho nên
đau có khi dữ dội và nơi đau cố định. Ứ huyết thuộc thực cho nên ấn vào đau
hoặc chạm vào cũng đau. Chất lưỡi tím tối, mạch hơi Sắc là dấu hiệu có
huyết ứ.
Điều trị: Hoạt huyết khử ứ. Dùng bài Thiếu Phúc Trục Ứ Thang.
(Quy, Khung, Xích thược, Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Một dược để hoạt
huyết khứ ứ. Phối hợp với Huyền hồ, Tiểu hồi để lý khí).
Nếu ứ ở dưới cách hoặc có khối u, nên thêm Đào nhân, Hồng hoa,
Hương phụ và Chỉ xác. Khí trệ với huyết ứ, khí trệ bệnh ở nông, huyết ứ
bệnh ở sâu; Lúc đầu khí bị trệ sau đó huyết bị ứ, huyết ứ lại thường kèm khí
trệ. Vì vậy, chữa huyết ứ thường dùng thêm thuốc lý khí, làm cho khí lưu
thông huyết cũng lưu thông. Điều trị khí trệ cũng có thể thêm thuốc lý khí
hoạt huyết, như Uất kim, Huyền hồ, làm cho huyết lưu thông khí cũng lưu
thông.
Trên lâm sàng rất ít gặp chứng bệnh khí trệ và huyết ứ đơn thuần;
trong biện chứng nên chia rõ chủ, thứ để dùng thuốc. Có khi phải coi trọng
lý khí hoặc coi trọng hoạt huyết khác nhau.
+ Nhiệt Chứng
Thường gặp hai loại hình thấp nhiệt và nhiệt kết.
+ Thấp Nhiệt: Phát sốt, đau bụng, chướng bụng, ấn vào đau, ngực khó
chịu, biếng ăn, khát nước mà không muốn uống, hoặc tiêu chảy, lý cấp hậu
trọng, hoặc hoàng đản, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác hoặc Nhu Sác.
Biện chứng: Thấp nhiệt nung đốt cơ biểu cho nên phát nhiệt, nếu thấp
nhiệt tích trệ trong ruột làm mất chức năng truyền đạo thì đau bụng, tiêu
chảy kèm theo lý cấp hậu trọng. Thấp nhiệt nung đốt Can Đởm, Đởm trấp đi
sai đường thì hoàng đản và đau sườn; Bụng trướng, cự án là do thấp nhiệt
kèm có nội kết ứ trệ, nên ngực khó chịu và biếng ăn. Khát nước là nhiệt, vì
thấp trọc nghẽn ở trong cho nên không muốn uống. Rêu lưỡi vàng nhớt,
mạch Sác hoặc Nhu Sác đều là dấu hiệu thấp nhiệt tà thịnh.
phác, Chỉ thực để tiêu bỉ kết).
Nếu đau bụng hoặc bên phải bụng dưới sờ có khối u và cự án, cũng có
thể chọn dùng Sinh Đại hoàng, Hậu phác, Hồng đằng. Bồ công anh; Bên
ngoài đắp Đại toán, Mang tiêu, Đại hoàng v.v Nếu vùng bụng có khối u,
không trung tiện, có thể chọn dùng Hậu phác, Lai bặc, Chỉ thực, Sinh đại
hoàng và Mang tiêu.
Đau bụng nhiệt chứng thường gặp ở loại đau cấp tính, bệnh thế rất gấp,
bệnh tình tiến triển rất nhanh. Khi điều trị cần quan sát chặt chẽ và dùng
thuốc kịp thời, khi cần, nên kết hợp với y học hiện đại.
+ Hàn Chứng: Cũng chia hai loại là Hàn thấp và Hư hàn.
+ Hàn Thấp: Sợ lạnh hoặc có khi sốt, đau bụng dữ dội đột ngột, không
khát, tiểu tiện trong, ngực khó chịu, biếng ăn, cơ thể nặng, mỏi mệt, đại tiện
lỏng, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch Trầm Khẩn.
Biện chứng: Bên ngoài bị hàn tà làm tổn thương cho nên sợ lạnh hoặc
có khi phát sốt. Hàn là âm tà, tính nó co rút, hàn phạm vào trong làm cho
dương khí không thông, khí huyết bị nghẽn cho nên đau bụng đột ngột dữ
dội. Miệng không khát, tiểu tiện trong là do ở trong có hàn thấp. Thấp trọc
nghẽn ở trong, Tỳ dương không mạnh không vận hoá được cho nên ngực
khó chịu và biếng ăn, cơ thể nặng, mỏi mệt, đại tiện lỏng, Rêu lưỡi trắng
nhớt, mạch Trầm Khẩn là dấu hiệu hàn thấp tà thịnh.
Điều trị: Tán hàn, táo thấp, phương hương hoá trọc. Dùng bài Hoắc
Hương Chính Khí Tán.
(Trong bài dùng Hoắc hương để phương hương hoá trọc, phối hợp với
Tử tô, Bạch chỉ để tán hàn, táo thấp; Hậu phác, Đại phúc bì để táo thấp trừ
đầy; Phục linh, Bạch truật kiện Tỳ hoá thấp).
Nếu là bệnh nhẹ, cũng có thể dùng viên Hoắc Hương Chính Khí ngày
3 lần mỗi lần uống 4 viên. Nếu mùa Hạ ăn uống không điều độ làm tồn
thương Tỳ Vị gây muốn nôn, nôn mửa, phát sốt không lui, có thể thêm Ý dĩ
nhân, Bạch khấu nhân, Sa nhân, Biển đậu y. Nếu mùa hạ tà xâm phạm phần
biểu, sợ lạnh không mồ hôi, có thể thêm Hương nhu, Đại đậu quyển.
Điều trị: Hoà trung tiêu thực. Dùng bài Bảo Hoà Hoàn; Đây là phương
thuốc tiêu thực hoá trệ, cũng có thể thêm các vị Mạch nha, Cốc nha, Kê nội
kim.
Nếu vừøa mửa vừa tiêu chảy, có thể thêm thuốc phương hương hoá
trọc như Hoắc hương, Bội lan. Nếu đầy bụng mà táo bón, có thể theo phép
công hạ thông phủ như dùng các vị Hậu phác, Chỉ thực, Đại hoàng.
+ Trùng Tích: Bụng lúc đau, lúc không, vùng Vị quản nôn nao khó
chịu, mặt vàng, cơ nhão, hoặc ngứa lỗ mũi, nghiến răng khi ngủ, phía trong
môi có nốt như hạt tấm hoặc trên mặt có vết lang trắng. Cũng có khi đau
bụng dữ dội đột ngột, sờ vào thấy khối u, hoặc đau dữ dội ở sườn, thậm chí
vã mồ hôi, lạnh chân tay thành chứng Quyết, nôn mửa ra giun đũa. Cũng có
khi đau và cự án vùng bụng phải và đùi phải co lại không duỗi ra được.
Biện chứng: Giun đũa quấy rối ở trong làm trong bụng nôn nao và đau.
Giun yên thì đỡ đau. Giun ở trong ruột, hút chất tinh vi thuỷ cốc làm hại khí
huyết cơ thể cho nên mặt vàng, gầy ốm. Kinh Thủ Dương minh Đại trường
đi vào hàm răng dưới, vòng quanh môi đi kèm bên lỗ mũi; Đường kinh Túc
Dương minh Vị bắt đầu từ mũi đi vào hàm răng trên. Giun ở Trường Vị do
thấp nhiệt quấy rối theo đường kinh lạc nên nghiến răng, ngứa mũi, trong
môi có nốt nhỏ. Hai đường kinh đều đi qua má, cho nên má có lang trắng.
Tính của giun ưa kết tụ kín đáo, thích ngoi lên tụ lại thành khối làm nghẽn
ruột, bế tắc không thông cho nên bụng có khối u, đau dữ dội. Nếu xuyên vào
ruột thừa thì đau bụng bên phải, ấn vào đau; Đau thì làm cho gân mạch co
rút lan toả xuống chi dưới, cho nên chân co lại mà không duỗi ra được. Vì
giun chui vào ống mật, cho nên đau dữ dội ở sườn phải.
Điều trị: Chủ yếu khu trùng, tiêu tích. Dùng bài Sử Quân Tử Thang.
Là bài thuốc khu trùng. Khổ luyện tử có thể đổi làm vỏ rễ Khổ luyện, có tác
dụng trừ giun đũa rất tốt. Nếu giun chui vào ống mật, nên dùng Ô Mai Hoàn.
Trong bài dùng Ô mai có vị chua Hoàng liên, Hoàng bá có vị đắng, giun đũa
gặp chua thì yên, gặp đắng thì tụt xuống, lại dùng các vị Phụ tử, Can khương,
Quế chi, Tế tân v.v Vị cay để tán kết, tính ấm để giảm đau đồng thời có thể
đau; Thiên khu, Khúc trì thanh tiết dương minh, đạo trệ, chỉ tả) (Tân Biên
Châm Cứu Trị Liệu Học).
. Châm tả Thiên xu, Hạ quản, Túc tam lý, Đại trường du, Công tôn,
Nội đình (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).
+ Bụng đau do Can uất: Vùng thượng vị và ngực đầy tức, khó chịu,
khi đau không thích xoa ấn, ợ hơi hoặc trung tiêu thì đỡ, rêu lưỡi mỏng,
mạch Huyền Tế.
Điều trị: Sơ Can, lý khí.
. Châm tả Chiên trung, Thái xung, Nội quan, Dương lăng tuyền.
(Chiên trung là huyệt hội của khí, hợp với Thái xung để sơ Can, lý
khí; Nội quan thông với mạch Âm duy hợp với Dương lăng tuyền để giải uất,
trừ phiền, làm cho Can khí được điều hoà, thư sướng, tình chí thoải mái thì
bụng sẽ hết đau (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
. Châm tả Thiên xu, Hạ quản, Túc tam lý, Đại trường du, Thái xung,
Hành gian (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).
+ Bụng đau do dương hư (Tỳ Vị hư hàn): Bụng đau liên miên, khi đau
khi không, thích nóng, ghét lạnh, mỏi mệt, hơi thở ngắn, tiêu sền sệt hoặc
lỏng, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Tế.
Điều trị: Bổ Tỳ, ôn Thận.
. Châm bổ Tỳ du, Thận du, Chương môn, Quan nguyên.
(Trong phương dùng cách phối hợp Du và Mộ. Tỳ du, Chương môn
kiện Tỳ, bổ khí để sinh huyết; Thận du, Quan nguyên ích Thận, tráng dương
để trừ hàn. Huyết chủ sự mềm mại, khí chủ sự hùng mạnh, kinh mạch thông
lợi, tạng phủ được ôn dưỡng thì đau do hư sẽ hết) (Tân Biên Châm Cứu Trị
Liệu Học).
. Cứu Thiên xu, Hạ quản, Túc tam lý, Đại trường du, Khí hải.
+ Trong mọi trường hợp đau bụng: Lấy ngón tay cái ấn mạnh vào
huyệt Âm lăng tuyền, 3 ngón sau ấn mạnh vào huyệt Túc tam lý, ấn cả hai
huyệt cùng lúc trong khoảng 10 phút thường sẽ dịu bớt.
Nhĩ Châm: Chọn huyệt đại trường, Tiểu trường, Vị, Tỳ, Thần môn,
dữ dội, đi bệnh viện. Muốn nôn, nôn mửa, ngực bụng trướng đầy, mình nặng,
phát sốt, táo bón, nước tiểu vàng đỏ.
Xét nghiệm Tình trạng cấp tính, nhiệt độ 38,5oC. Vùng bụng trên có
điểm ấn đau, lớp cơ không có cảm giác đau và mức độ căng thẳng, Mạnh
Huyền Sác, rêu lưỡi vàng nhớt, chất lưỡi hơi đỏ, trong nước tiểu có cặn vẩn
đục. Chẩn đoán là Viêm tuyến tuỵ cấp tính.
- Y án: Vùng bụng đau mà chướng đầy, lúc nóng lúc lạnh, cơ thể nặng
nề, mệt mỏi, muốn nôn, nôn mửa, táo bón, nước tiểu đỏ, mạch Huyền Sác,
rêu lưỡi vàng nhớt Đó là Thiếu Dương, Dương minh đồng bệnh. Điều trị
bên ngoài phải giải Thiếu dương, bên trong phải thanh nhiệt kết, cho uống
Đại Sài Hồ Thang gia giảm. Dùng Sài hồ 12g, Hoàng cầm 12g, Hoàng liên
4g, Hậu phác 12g, Bán hạ 12g, Chỉ xác 6g, Mộc hương 12g, Sinh đại hoàng
(cho vào sau) 12g, Mang tiêu 12g. Sau khi uống 4 thang theo đơn trên, hết
đau bụng, đại tiện dễ, thể ôn bình thường, các xét nghiệm cùng kết quả bình
thường, cho xuất viện.
- Nhận xét: Các chứng nóng rét qua lại, muốn nôn, nôn mửa, dùng các
vị Sài Hồ, Bán hạ, Hoàng cầm để hoà giải Thiếu dương. Phần lý có thực
nhiệt, bụng đầy và đau, táo bón, nước tiểu đỏ, cho nên dùng Đại hoàng,
Mang tiêu để tả bỏ nhiệt kết. Phối hợp với Hoàng liên, Hoàng cầm để tăng
cường tác dụng khổ hàn tiết nhiệt. Dùng Chỉ xác, Mộc hương để lý khí, chỉ
thống.
Đỗ X, nam, 33 tuổi. Bị bệnh loét đường tiêu hoá đã 8 năm, nằm viện
điều trị vài lần. Chụp phim xác định loét Dạ dày tá tràng. Mấy tháng gần đây
do ăn uống thất thường, bệnh tình nặng hơn, nhất là khi đói đau nhiều, ăn
vào thì đỡ đau, ban đêm đau nhiều xiên ra sau lưng, ăn thức sống lạnh càng
đau. Khi đau có cảm giác sợ lạnh, thích nóng thích xoa bóp, mệt mỏi, hơi
thở ngắn, ăn không ngon, khi đau có cảm giác buồn nôn, nôn ra nước chua,
chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch Tế.
Dùng Hoàng kỳ (nướng) 12g, Quế chi 12g, Bạch thược 16g, Bào
khương (tro) 4g, Ô tặc cốt 40g, Thần khúc 12g, Toàn phúc hoa 12g, Cam
đau nhói, chất lưỡi xanh tía, gốc lưỡi rêu mỏng nhớt, mạch Tế hơi Hoạt, đại
tiện khô, ăn khá hơn. Bệnh kéo dài đã 8 năm, hàn khí ngoan cố kết ở trong,
lại kèm trùng tích, từ khi điều trị đến giờ, giun rút, hàn tan, ứ trọc chưa sạch,
tiếp tục theo phép ôn thông tuyên hoá, hoà vị, thông trung tiêu. Dùng đơn
trên bỏ Chỉ xác, Đại phúc bì, Nhục quế tăng lên thành 3g, lại thêm Giới bạch
6g, Đào nhân 12g.
- Khám lần thứ tư: Sau khi uống 7 thang đơn trên, đau bụng đã giảm
bảy tám phần mười, ăn uống bình thường, quá thời kỳ kinh nguyệt, ven lưỡi
tía, ngực khó chịu chưa hết, vẫn điều trị theo phép cũ. Nhục quế tâm 3g,
Trầm hương 12g, Ô dược 12g, Uất kim 12g, Kinh tam lăng 12g, Giới bạch
đầu 12g, Qua lâu bì 12g, Tử đan sâm 12g, Đào nhân 12g, Ngoạ lăng nung
34g.