Lịch sử văn minh Ấn Độ CHƯƠNG III pot - Pdf 17

Will Durant
Lịch sử văn minh Ấn Độ
Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
CHƯƠNG III -
TỪ ALEXANDRE TỚI AURENG-ZEB I. CHANDRAGUPTA

Vua Alexandre vô Ấn Độ - Nhà giải phóng:
Chandragupta – Dân chúng – Đại học Taxila – Cung điện
– Một ngày của một ông vua – Một Machiavel thời cổ -
Tổ chức hành chánh – Luật pháp – Y tế - Giao thông và
chuyên chở, đường sá – Cơ quan hành chánh ở các thành
thị

Năm 327 trước Công nguyên, Đại đế Hi Lạp Alexandre mới chiếm
xong Ba Tư, xua quân qua đèo Hindoukouch tiến vô Ấn Độ. Trong
một năm ông xông pha trong các tiểu quốc trù phú ở Tây Bắc,
trước kia thuộc đế quốc Ba Tư, tới đâu cũng bắt dân chúng cung
cấp lương thực cho đại quân của ông và đóng thuế cho ông. Đầu
năm -326, ông vượt sông Indus, vừa đánh vừa tiến từ từ xuống
phương Nam và phương Đông, qua các xứ Taxila và Rawalpindi.
Ông gặp và đánh tan đạo quân của vua Porus gồm 30.000 bộ binh,
4.000 kị binh, 300 chiến xa và 200 thớt voi, giết 12.000 quân của
Porus. Porus đã anh dũng chiến đấu tới cùng, cho nên khi ông ta
đầu hàng, Alexandre vừa phục sự can đảm, vừa khen vóc dáng to
lớn, tướng mạo đường đường lẫm liệt của ông, hỏi ông muốn được
đối xử ra sao. Vua Porus đáp: “Alexandre, ông nên đãi tôi vào
hàng quân vương”. Alexandre đáp: “Đành rồi, đó là chuyện của
tôi, nhưng ông cho tôi biết ông muốn gì hơn cả”. Porus bảo

Nicator, vua Syrie, tới kinh đô Pataliputra, ông ngạc nhiên thấy
một nền văn minh mà ông ta về khoe với các người Hi Lạp ngây
thơ rằng không kém nền văn minh Hi Lạp chút nào – ta nên nhớ
văn minh Hi Lạp thời đó toàn thịnh.

Mégasthènes đã lưu lại nhiều trang ca tụng đời sống ở Ấn đương
thời, có lẽ ông ta hơi tô điểm một chút. Trước hết ông lấy làm lạ
rằng Ấn không có chế độ nô lệ
[2], và dân chúng chia làm nhiều tập
cấp tuỳ theo nghề nghiệp, ông cho sự phân chia xã hội như vậy rất
tự nhiên, hợp lí, chấp nhận được. Vị sứ thần đó bảo dân chúng
sống sung sướng.

Vì cách thức họ bình dị mà đời sống của họ đạm bạc. Không khi
nào họ uống rượu, trừ trong các buổi lễ tế thần… Luật pháp và
cách lập khế ước của họ rất giản dị, chứng cớ là gần như không
bao giờ họ ra toà. Họ không kiện cáo nhau vì các tờ hợp đồng
hoặc vì cho vay mượn, họ không cần dùng con dấu hoặc người làm
chứng vì họ tin nhau… Họ trọng đạo đức và tính thành thực… Đa
số đất đai đều cày cấy, mỗi năm hai mùa… Vì vậy người ta bảo Ấn
Độ chưa hề biết nạn đói kém, chưa bao giờ thiếu thức ăn cho dân
chúng.

Thời Chandragupta, Bắc Ấn có khoảng hai ngàn thị trấn, và thị
trấn cổ nhất là Taxila, cách thị trấn Rawalpindi hiện nay khoảng ba
chục cây số về phía Bắc. Arrien bảo thị trấn đó “lớn và thịnh
vượng”, Strabon bảo nó rộng và có nhiều luật lệ rất tốt. Nó vừa là
một quân khu vừa là một đất văn vật vì nó có một địa vị rất quan
trọng về phương diện chiến lược, ở trên con đường chính đưa sang
Tây Á, mà lại có trường đại học lớn nhất đương thời Ấn Độ. Sinh

các nhà cố vấn trong một điện riêng, khoảng thứ tư, lo về vấn đề
tài chính và binh bị, khoảng thứ năm, đọc các sớ thỉnh cầu của dân
và xử án, khoảng thứ sáu dùng để tắm và ăn, khoảng thứ bảy thu
thuế và các cống phẩm, bổ dụng quan lại, khoảng thứ tám lại họp
nội các, nghe các lời báo cáo của bọn mật vụ và bọn triều thần
cũng do thám cho ông, khoảng thứ chín dùng để nghỉ ngơi, tụng
niệm, khoảng thứ mười và mười một dùng để giải quyết các vấn đề
võ bị, khoảng thứ mười hai cũng nghe báo cáo mật, khoảng thứ
mười ba để tắm và ăn bữa tối, ba khoảng cuối cùng, mười bốn,
mười lăm và mười sáu để ngủ. Sự thực không chắc đã đúng như
vậy, có lẽ đó chỉ là chương trình lí tưởng mà sử gia mong cho
Chandragupta theo được hoặc muốn cho dân chúng tưởng rằng
Chandragupta theo được. Các tin tức trong cung điện đưa ra ít khi
đúng sự thật lắm.

Sự thực mọi quyền hành do viên đại thần quỉ quyệt Kautilya nắm
hết. Kautilya vốn là một tu sĩ Bà La Môn, biết rõ giá trị của tôn
giáo về phương diện chính trị, nhưng trong cách hành động lại
không theo các qui tắc đạo đức, như các nhà độc tài hiện thời, ông
ta cho rằng phương tiện nào cũng tốt miễn là có lợi cho quốc gia.
Con người đó vô sở bất vi, tráo trở, nhưng rất trung tín với vua,
ông ta hầu hạ Chandragupta trong cảnh lưu đày, trong cơn thất bại,
trong thời mạo hiểm, bày mưu lập kế cho chủ để giết người, thắng
trận, và nhờ thủ đoạn khôn khéo, làm cho đế quốc của chủ hoá
mạnh nhất Ấn Độ thời đó, các thời trước cũng không bằng. Như
Machiavel ở Ý thời Trung cổ, tác giả cuốn Prince, Kautilya nghĩ
nên chép lại những thuật ông ta dùng trong chiến tranh và ngoại
giao, theo truyền thuyết ông ta là tác giả cuốn Arthshastra, cuốn
sách cổ nhất viết bằng tiếng Sancrit. Bảng liệt kê các cách ông đề
nghị để chiếm một đồn đủ cho ta thấy óc thực tế của ông “tế nhị”

định chu vi khai thác cho những người được phép, những người
này phải nộp một số thuế nhất định là bao nhiêu đó cho triều đình
và nộp cho ông ta một số tính theo lợi tức, về canh nông cũng gần
gần như vậy vì theo nguyên tắc, đất thuộc về quốc gia hết. Viên
tổng giám đốc du hí kiểm soát các sòng bạc, cung cấp các con thò
lò, các sòng phải nộp thuế mới được dùng các con thò lò đó, ngoài
ra còn nộp cho quốc khố 5% số lời. Viên tổng giám đốc mãi dâm
coi chừng các gái điếm, coi chừng sự chi tiêu của họ, bắt họ phải
nộp mỗi tháng hai ngày tiền họ kiếm được, ông ta còn nuôi hai ả
trong cung để họ “tiếp đãi” khách khứa của ông và cũng để làm
gián điệp cho ông nữa. Làm nghề nào cũng phải đóng thuế, ngoài
ra triều đình thỉnh thoảng quyên tiền của bọn phú gia nữa. Triều
đình định giá cả các món hàng, cứ đúng kì hạn kiểm soát xem
thước và cân có đúng cách thức không; lập các xưởng quốc gia để
chế tạo một số hoá phẩm nào đó; chính quyền còn bán rau và giữ
độc quyền về mỏ, muối, gỗ, tơ lụa, ngựa và voi.

Tại các làng, chính các hương trưởng hoặc các panchayat – hương
hội gồm năm hương chức – lo việc xử kiện, tại các thành phố, quận
hoặc tỉnh, có những toà án thuộc nhiều cấp; tại kinh đô, Nội các
lãnh nhiệm vụ của tối cao pháp viện, và nếu cần thì nhà vua sẽ xử
các vụ chống án cuối cùng. Hình phạt rất nghiêm khắc: chặt tay,
chặt chân, khổ hình và tử hình, thường thường là quyết định theo
luật báo thù hoặc luật bồi thường. Nhưng chính quyền không phải
chỉ lo trừng trị tội ác, mà còn săn sóc đến vệ sinh, y tế, mở nhiều
dưỡng đường, nhiều cơ quan từ thiện, gặp những năm đói kém thì
lấy thóc gạo, thức ăn trong kho ra phát chẩn, bắt buộc người giàu
bố thí cho kẻ nghèo, và những năm kinh tế khủng hoảng, tổ chức
các đại công tác cho dân thất nghiệp có công ăn việc làm.


định việc bán các sản phẩm tự nhiên, kiểm soát các đồ đo lường,
một ti nữa kiểm soát việc bán hoá phẩm, một ti nữa đánh thuế 10%
vào mọi việc giao dịch. Hawell bảo: “Tóm lại, ở thế kỉ thứ IV
trước Công nguyên, Pataliputra có vẻ là một đô thị tổ chức và cai
trị rất hoàn hảo theo những qui tắc tốt nhất của môn xã hội học”.
Còn Vincent Smith thì khen: “Sự tuyệt hảo của các biện pháp đó
đáng làm cho ta ngạc nhiên dù ta chỉ mới xét các đại cương mà
thôi, nếu đi sâu vô chi tiết thì ta càng thán phục rằng ba trăm năm
trước Công nguyên, làm sao Ấn Độ đã sáng lập và thực hành được
một nền hành chánh như vậy”.

Chính quyền đó chỉ có mỗi một nhược điểm là chuyên chế, do đó
luôn luôn phải dùng đến sức mạnh và mật vụ. Như mọi nhà cầm
quyền chuyên chế, ngai vàng của vua Chandragupta rất lung lay,
ông ta luôn luôn sợ một vụ nổi loạn, sợ bị ám sát. Đêm nào cũng
phải đổi phòng ngủ, không dám ngủ hoài một phòng, và lúc nào
cũng có vệ binh ở chung quanh. Theo truyền thuyết Ấn mà các sử
gia châu Âu cho là đúng, có lần một nạn đói kém kéo dài quá (lời
của Mégasthènes) làm cho nước điêu tàn, Chandragupta thất vọng
vì bất lực, không cứu nổi dân, thoái vị, sống cuộc đời khổ hạnh
như các tín đồ Jaïn trong mười hai năm nữa rồi tuyệt thực để chết.
Voltaire bảo: “Đành rằng xét cho cùng thì đời sống của một gã đưa
đò có phần sướng hơn đời sống của một vị đại-thống-lãnh, nhưng
tôi nghĩ cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, nên chẳng cần phải phí
công bàn”.

II. ÔNG VUA TRIẾT NHÂN

Açoka – Sắc chỉ tự do tín ngưỡng – Các nhà truyền giáo của
Açoka – Sự thất bại của ông – Sự thành công của ông

chết. Viên cai ngục bèn báo cho Açoka, Açoka tới tức thì, nhìn tận
mắt, thấy hiện tượng đó kì dị, tính quay ra thì viên cai ngục tâu
rằng theo lệnh của nhà vua, không một kẻ nào được ra khỏi ngục
mà sống, như vậy mới tính làm sao bây giờ? Açoka nhận lời đó là
đúng bèn bảo liệng chính viên cai ngục vào vạc dầu.

Người ta còn bảo khi về tới cung điện, Açoka đổi tính hẳn đi, ra
lệnh phá khám đường và sửa lại hình luật cho nhân đạo hơn. Đúng
lúc đó ông ta hay tin quân đội mới đại thắng bộ lạc nổi loạn
Kalinga, giết được mấy ngàn quân phiến loạn và bắt được một số
lớn nữa làm tù binh. Açoka hối hận “vì cảnh cảnh chém giết tàn
nhẫn đó mà làm cho bao nhiêu tù binh phải xa người thân của họ”.
Ông bèn bảo thả hết các tù binh, trả đất lại cho bộ lạc Kalinga, lại
còn gởi họ một bức thư xin lỗi nữa. Thật là một hành động vô tiền
trong lịch sử, mà cũng gần như khoáng hậu nữa, vì đời sau rất ít
người bắt chước ông. Rồi ông ta xin qui y, bận áo vàng trong một
thời gian, không đi săn, không ăn mặn nữa, và theo con đường Bát
chánh. Ngày nay chúng ta khó mà biết được trong truyền thuyết đó
phần nào hoang đường, phần nào đúng sự thực, chúng ta cũng
không biết rõ được vì những lí do nào mà ông hành động như vậy.
Có lẽ ông thấy đạo Phật đã phát triển mạnh, và nghĩ rằng những lời
Phật dạy phải từ bi, yêu hoà bình có thể vừa ích lợi cho dân chúng
lại giúp ông giảm được số cảnh sát, mật vụ đi chăng? Dù sao thì
trong năm thứ mười một triều đại của ông, một loạt sắc lệnh được
ban bố mà ai cũng nhận là những sáng kiến kì dị nhất chưa chính
quyền nào nghĩ ra; ông lại đục khắc lên núi đá, lên cột các sắc lệnh
đó viết theo thổ ngữ từng miền để bất kì người Ấn nào biết chữ
cũng có thể đọc được. Người ta thấy nhiều sắc lệnh khắc trên núi
đá ở nhiều nơi tại Ấn Độ, ngày nay mười cây cột lớn còn đứng
vững và có thể định được vị trí của hai chục cây cột khác. Những

phái. Cái chủ yếu đó có thể tấn bộ theo nhiều hình thức, nhưng
điều căn bản là phải giữ gìn lời ăn tiếng nói; không nên vô cớ đề
cao giáo phái của mình, chê bai giáo phái của người. Muốn chê
bai thì phải có những lí do vững vàng vì tất cả các giáo phái khác
đều có một khía cạnh nào đó đáng cho ta kính trọng.

Nếu giữ được như vậy thì vừa làm cho giáo phái của mình phấn
khởi, vừa giúp được các giáo phái khác. Trái lại là làm hại giáo
phái của mình và các giáo phái khác… Sự hoà thuận là điều đáng
khen.

Cái “bản chất chủ yếu” đó đã được định nghĩa rõ hơn trong sắc
lệnh người ta gọi là Sắc lệnh trên cột thứ nhì. “Đạo sùng kính là
điều rất tốt, nhưng thế nào là sùng kính? Sùng kính là ít nghịch
đạo, làm nhiều điều thiện, từ bi, khoan dung, thành thực và trong
sạch”. Chẳng hạn Açoka ra lệnh cho các quan phải thương dân như
con, dịu dàng kiên nhẫn với họ, không có lí do chắc chắn thì không
được bắt giam, tra khảo họ; ông còn ra lệnh cứ đều đều đúng kì
hạn phải đọc những chỉ thị đó trước công chúng cho mọi người
biết.

Những sắc lệnh có tính cách khuyên răn đó có ảnh hưởng gì tới
thái độ và ngôn hành của đại chúng không? Có lẽ nhờ những sắc
lệnh đó mà giới luật ahimsa (không làm tổn thương sinh vật) được
truyền bá rộng trong giới thượng lưu, họ ít ăn thịt, ít uống rượu
hơn. Dĩ nhiên, Açoka, như mọi nhà cải cách chân chính, rất tin
rằng những lời răn của mình khắc trên đá tất hiệu nghiệm; trong
Sắc lệnh số IV khắc trên tảng đá, ông cho biết rằng ông đã gặt
được những kết quả kì diệu và đoạn trần thuật dưới đây cho ta hiểu
thêm giáo lí của ông:


Tật lớn nhất của ông là sự tự cao tự đại, một nhà cải cách khó mà
khiêm tốn được. Tật đó hiện rõ trong các sắc lệnh của ông và ông
đáng là người anh tinh thần của Marc Aurèle
[7]. Ông không biết
rằng các tu sĩ Bà La Môn ghét ông và tìm mọi cách để hạ ông,
cũng như các tu sĩ Thèbes (Ai Cập) đã hạ Ikhnaton ngàn năm
trước. Không riêng các tu sĩ Bà La Môn bất bình, vì cấm giết sinh
vật để cúng tế thì họ đâu còn được hưởng phần thịt nữa, mà các thợ
săn, các người đánh cá cũng oán hận vì phải bỏ nghề nếu không thì
có thể bị trừng trị nặng, ngay đến nông dân cũng bực tức vì luật
“cấm đốt cỏ khô vì các sinh vật có thể có trong cỏ”. Thế là một
nửa dân chúng chỉ mong cho Açoka chết phức đi.

Huyền Trang bảo rằng theo truyền thuyết Phật giáo, về già, Açoka
bị cháu nội và quần thần truất ngôi. Họ rút lần các quyền hành của
ông, và ông đành phải thôi, không tặng được gì cho Tăng hội nữa.
Ngay cả về phần ăn người ta cũng rút xuống hoài, tới một ngày nọ
chỉ cung cấp cho ông mỗi bữa nửa trái analaka. Nhà vua rầu rĩ
nhìn phần ăn của mình rồi sai đem tặng cho các đạo huynh, có cái
gì ông cũng đã tặng hết cho họ rồi. Nhưng sự thực chúng ta không
biết chút gì về những năm cuối trong đời ông, cũng chẳng biết ông
mất năm nào nữa. Chỉ một thế hệ là đế quốc của ông đủ tan rã như
đế quốc của Ikhnaton (vua Ai Cập) thời trước. Đế quốc Magadha
sở dĩ duy trì được là do truyền thống hơn là do sức mạnh, cho nên
lần lần các tiểu quốc không chịu phục tòng “Vua của các vì vua” ở
Pataliputra nữa. Dòng dõi Açoka vẫn còn làm vua Magadha cho
tới thế kỉ thứ VII sau công nguyên nhưng triều đại Maurya do
Chandragupta khai sáng đã tắt từ khi Brihadratha bị ám sát. Quốc
gia mà mạnh là nhờ tư cách, tinh thần của con người chứ không

nguyên do gì khác, nhưng nếu người đàn ông nào tặng họ một con
voi thì khi họ nhận voi, họ chịu thất tiết với người đó để đáp lại.
Đàn ông Ấn không cho cách thức mãi dâm đó là xấu, còn đàn bà
Ấn thì lấy vậy làm vinh hạnh vì sắc đẹp của mình đáng giá một
con voi: Theo Arrien trong cuốn Indica.
[5] Béloutchistan: còn gọi là Baloutchistan, gồm một phần miền
đông của Iran, một phần là miền Tây của Pakistan và một phần là
miền Nam của Afghanistan ngày nay (xem bản đồ ở trên).
(Goldfish).
[6] Theo Wikipedia thì “Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ
rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử
(ở Hưng Yên ngày nay) học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Luy Lâu
(thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành
trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang
Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của
Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189”. (Goldfish).
[7] Hoàng đế và triết gia La Mã (121-181).


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status