Lịch sử văn minh Ấn Độ CHƯƠNG V - Pdf 17

Will Durant
Lịch sử văn minh Ấn Độ
Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
CHƯƠNG V
THIÊN ĐƯỜNG CỦA THẦN LINH

Không có một xứ nào mà tôn giáo có thế lực và đóng một vai trò quan trọng
bằng ở Ấn Độ. Người Ấn sở dĩ dễ chấp nhận sự thống trị của ngoại nhân
một phần vì họ không cần biết những kẻ thống trị họ thuộc giống người nào;
họ cho tôn giáo mới là cốt yếu, chứ không phải chính trị; linh hồn mới là
chính, chứ không phải thể xác; các kiếp sau mới là vô tận chứ kiếp này chỉ là
phù du! Khi vua Akbar đã thành một vị thánh và gần như theo Ấn giáo, thì
mọi người đều thấy sức mạnh phi thường của tôn giáo, cả những người phản
đối nó nhất. Ngày nay, chính là một vị thánh
[1] chứ không phải một chính
khách, một nhà cầm quyền, đã thống nhất được Ấn Độ, mà sự thống nhất đó
là lần đầu tiên trong lịch sử họ.

I. THỜI ĐẠI CUỐI CÙNG CỦA ĐẠO PHẬT

Thời cực thịnh của đạo Phật – Tiểu thặng và đại thặng – Mahayana – Đạo
Phật, đạo khắc kỉ và đạo Ki Tô – Đạo Phật suy vi – Đạo Phật truyền qua:
Tích Lan, Miến Điện, Turkistan, Tây Tạng, Cao Miên, Trung Hoa và Nhật
Bản.

Vua Açoka mất được khoảng hai trăm năm thì đạo Phật đạt tới mức độ cực
thịnh ở Ấn Độ. Thời gian phát triển của đạo đó, từ triều đại Açoka tới triều
đại Harsha, cũng chính là hoàng kim thời đại của tôn giáo về nhiều phương
diện. Nhưng Phật giáo thời thịnh đó không còn là đạo của Phật Tổ nữa, mà
có thể nói là đạo của Subhadda
[2], người đệ tử đã phản kháng lại Ngài khi

trong nhiều kiếp nữa để giúp những những kẻ ở trên trần tìm được chính
đạo
[3]. Cũng như trong các giáo phái Ki Tô ở miền Địa Trung Hải, các vị
Bồ Tát đó được dân chúng thờ phụng tới nỗi át hẳn Phật Tổ trong sự lễ bái
cũng như trong nghệ thuật. Rồi người ta cũng thờ Phật tích, Phật cốt, cũng
dùng nước dương, đốt nhang, đèn, lần tràng hạt, dùng mọi thứ trang sức
thuộc về giáo hội, cũng dùng một tử ngữ
[4] trong các kinh kệ, rồi tăng ni
phải xuống tóc, phải ở độc thân, phải trường trai, phải tụng kinh sám hối,
cũng phong thánh những người tử vì đạo, cũng tạo ra tĩnh-tội-giới, cũng
tụng kinh siêu độ cho người chết, tóm lại là Phật giáo Đại Thặng có đủ
những hình thức lễ nghi của Ki Tô giáo thời Trung cổ, và hình như nhiều
hình thức lễ nghi của Ki Tô đã mượn của Phật giáo
[5]. Thành thử Đại Thặng
đối với Tiểu Thặng tức Phật giáo nguyên thuỷ cũng tựa như Công giáo đối
với đạo Khắc Kỉ và Ki Tô giáo nguyên thuỷ. Phật Tổ, cũng như Luther sau
này, đã tưởng lầm rằng nghi thức – một thứ bi kịch tôn giáo – có thể thay
bằng những lời thuyết pháp và dạy luân lí; vì vậy mà một thứ Phật giáo
nhiều thần thoại, phép màu, lễ bái, có vô số các vị thần thánh làm trung gian
giữa tín đồ và Đấng Tối Cao, đã thắng Phật giáo nguyên thuỷ, cũng như
Công giáo đa sắc thái, chú trọng tới bề ngoài đã thắng Ki Tô giáo giản dị,
nghiêm khắc thời nguyên thuỷ và thắng đạo Tin Lành thời cận đại.

Chính vì dân chúng thích đa thần giáo, thích phép màu và huyền thoại mà
làm cho Phật giáo nguyên thuỷ suy tàn, rốt cuộc chính Đại Thặng cũng bị
linh lạc ngay trên đất Ấn Độ nữa. Vì nói theo cái giọng các sử gia làm khôn
hơn cổ nhân
[6] – Phật giáo mượn của Ấn giáo các huyền thoại và các lời
thần, lần lần lấp được cái hố giữa hai tôn giáo thời nguyên thuỷ và người ta
có thể biết trước được rằng tôn giáo nào đâm rễ sâu trong dân chúng nhất,

hoá thân của thần Vichnou – thành thử có vẻ khuyến khích người con hoang
[Phật tử] trở về mái nhà cũ [đạo Bà La Môn]; không những vậy còn chấp
nhận thuyết của Phật cho rằng mọi sinh vật đều thiêng liêng, do đó cấm sự
giết súc vật để tế thần; thế là sau năm trăm năm suy lần, đạo Phật biến mất ở
Ấn Độ một cách êm ái, ôn hoà
[7].

Nhưng đạo Phật đã lan tràn tới khắp các xứ khác ở Á châu. Giáo lí, nghệ
thuật, văn học của nó truyền qua đảo Tích Lan, bán đảo Mã Lai ở phía Nam,
qua Tây Tạng, Turkestan ở phía Bắc, qua Miến Điện, Thái Lan
[8], Cao
Miên, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản ở phía Đông, và nhờ đạo đó mà đem
văn minh vô các xứ đó – trừ Viễn Đông đã có một nền văn minh rồi – cũng
như ở thời Trung cổ, nhờ các tu sĩ La Mã và Byzantine mà văn minh vô
được Tây Âu và Nga. Có thể nói tại các xứ đó, văn minh đạt được cực điểm
chính là nhờ đạo Phật. Từ thời Açoka cho tới thế kỉ thứ IX, lúc mà đạo Phật
bắt đầu suy vi, thành phố Anuradhapura ở Tích Lan là một trong những
thành phố lớn nhất ở phương Đông, tại đó từ hai ngàn năm nay người ta vẫn
thờ cây bồ đề và ngôi đền ở trên cao nguyên Kandy
[9] là một thánh địa của
150 triệu người theo đạo Phật ở châu Á[10]. Có lẽ chỉ ở Miến Điện là các
nhà sư thường gần giữ được lí tưởng của Phật Tổ, mà đạo Phật còn được
thuần tuý hơn cả; nhờ các nhà sư đó mà 13 triệu dân Miến có một mức sống
tương đối cao hơn mức sống ở Ấn. Sven Hedin, Aurel Stein và Pelliot đã tìm
được ở Turkestan mấy trăm bản viết tay thời cổ về đạo Phật và nhiều di tích
khác của một nền văn hóa đã thịnh ở xứ đó từ thời đại Kanishka tới thế kỉ
XIII. Thế kỉ thứ VII, một chiến sĩ yêu văn minh, Srong–tsan Gampo, lập một
chính quyền vững vàng ở Tây Tạng, chiếm xứ Népal, và dựng ở Lhassa một
kinh đô, chẳng bao lâu rất thịnh vượng vì là một trung tâm tích trữ các hàng
hoá từ Ấn qua Trung Hoa và từ Trung Hoa qua Ấn. Sau khi mời các nhà sư

Veda bằng những thần mới. Một phần những tín ngưỡng đó đã có từ trước
thời Veda, và đã tồn tại được; một phần khác gồm những nghi thức và thần
linh, huyền thoại, dị đoan cũng do các tu sĩ Bà La Môn gom góp nhưng
không có trong các Thánh kinh và hầu hết là trái ngược với tinh thần trong
các kinh Veda; tất cả cái mớ hổ lốn đó được tinh thần tôn giáo Ấn Độ nhào
lộn lại chính trong thời đại mà uy tín của Phật giáo suy nhược. Các thần của
Ấn giáo có đặc điểm này là có quyền uy rất lớn, có khả năng tri và hành phi
thường, vì dáng vóc, cơ thể mạnh quá, “tràn” ra, mọc thêm ra. Chẳng hạn
thần Brahma thời đại này có tới bốn mặt, thần Kartikeya có sáu mặt, thần
Shiva có ba mắt, thần Indra có ngàn mắt và hầu hết các vị thần đó đều có
bốn cánh tay. Thần Brahma là chúa tể của các vị thần đó nhưng ngài ngự trị
một cách lơ là, hơi khuất mặt, tránh sự thờ phục của dân chúng, cũng tựa
thái độ của các ông vua lập hiến ở châu Âu hiện nay. Thần Vichnou và thần
Shiva hợp với ngài thành một bộ ba – chứ không phải là tam vị nhất thể.
Vichnou là một vị thần nhân ái, một ông thiện, luôn sẵn sàng giáng trần để
cứu nhân độ thế. Krishna thường là hoá thân của ông, sinh trong khám, làm
những việc oanh liệt phi thường không thua các nhân vật tiểu thuyết để cứu
người điếc, người mù, an ủi người cùi, bênh vực kẻ nghèo và cải tử hoàn
sinh những người chết. Ông có một đệ tử thân tín, Arjuna, và gặp mặt
Arjuna, ông luôn luôn biến hình đổi dạng. Có người bảo ông bị tên mà chết,
có người lại bảo ông bị đóng đinh lên thân cây. Chết rồi, ông xuống địa ngục
rồi lên thiên đường, rồi tới ngày tận thế ông sẽ trở xuống để xử kẻ sống và
người chết.

Người Ấn cho rằng đời sống cũng như vũ trụ, qua ba giai đoạn liên tiếp:
sinh, trưởng rồi diệt. Vì vậy có ba thứ thần: thần Brahma, đức Sáng tạo; thần
Vichnou, đức Bảo tồn; và thần Shiva, đức Huỷ diệt: đó là Tri-murti
[13], tức
“ba hình thức” mà tất cả các người Ấn, trừ những tín đồ Jaïn [và Hồi giáo, dĩ
nhiên] đều theo

mà thần Brahma – đức Sáng tạo vũ trụ – đã sinh ra. Thần Shiva làm mưa
làm gió trong một vũ trụ luôn luôn tự sinh thành, rồi huỷ diệt để lại tự sinh
thành nữa.

Nữ thần Kali
(

Tử là trừng phạt Sinh, thì Sinh lại là thắng được Tử; cho nên chính vị thần
tượng trưng cho sự huỷ diệt, đối với người Ấn, cũng đồng thời tượng trưng
cái dòng cuồn cuộn sinh sinh bất tuyệt nó làm cho giống nòi được trường tồn
mặc dầu cá nhân phải thoát xác. Trong vài miền ở Ấn, đặc biệt là miền
Bengale, cái năng lực Sinh hoá, Sáng tạo đó (Shakti) của thần Shiva – tức
của thiên nhiên – được tượng trưng bằng nữ thần Kali (hoặc Parvati, Uma,
Durga) vợ của Shiva. Cho tới thế kỉ trước, sự thờ phụng này gồm nhiều nghi
thức đổ máu, có khi còn giết người để tế nữa, nhưng ngày nay nữ thần chỉ
đòi được tế bằng dê cái thôi. Dân chúng tạc hình nữ thần đó, mặt mày đen
thui, miệng hoác, lưỡi lè ra; nữ thần trang sức bằng những con rắn, và thần
múa trên một thây ma, bông tay là xác đàn ông, chuổi hột gồm toàn những
sọ người, mặt và ngực bôi đầy máu. Thần có bốn tay, một tay cầm thanh
gươm, một tay cầm một đầu người mới chặt, còn hai tay kia đưa ra như để
ban phúc và che chở. Vì Kali-Parvati không phải chỉ là thần Chết, huỷ diệt,
mà còn là thần Sanh đẻ nữa, vừa hiền hậu, vừa tàn ác, giết chóc đấy nhưng
cũng có thể mỉm cười. Có lẽ hồi xưa, hồi còn ở Sumérie, chưa được đem vô
Ấn Độ, nữ thần chưa ghê gớm như vậy, mà chỉ là một nữ thần phù hộ cho
các bà mẹ. Người Ấn cho nữ thần và chồng của bà những nét rùng rợn có lẽ
là để cho tín đồ phải sợ và có lẽ cũng để cho họ phải rộng rãi cúng tiền và
tặng vật cho các thầy tu

dép; khi nó chết người ta làm lễ táng nó một cách long trọng theo nghi thức
tôn giáo. Có lẽ xưa kia một nhà cầm quyền nào đó đã tạo ra sự cấm kị đó để
cho dân Ấn, mỗi ngày mỗi tăng, có đủ bò kéo cày; ngày nay ở Ấn cứ bốn
người dân thì có một con bò cái. Người Ấn cho rằng yêu bò cái, không ăn
thịt nó, là điều rất hữu lí, cũng như yêu chó mèo, không ăn thịt chó mèo vậy;
nhưng có điều này chua chát, mỉa mai là các tu sĩ Bà La Môn cấm giết bò
cái, cấm làm đau đớn con giun, cái kiến, mà đồng thời lại khuyên người ta
thiêu sống các quả phụ. Sự thực trong lịch sử, dân tộc nào cũng đã thờ loài
vật, và nếu đã phải phong thần cho một loài vật nào thì theo tôi, con bò cái
hiền lành đáng được thờ như bất kì con vật nào khác. Với lại chúng ta có
quyền gì để chê bai người Ấn đã thờ biết bao loài vật như vậy? Chúng ta
chẳng có con rắn trong vườn Thượng Uyển Eden, con bò vàng trong kinh
Cựu Ước, con cá thần trong các hầm mộ và con Cừu con rất dễ thương của
Chúa đấy ư?

Sở dĩ có phiếm thần giáo là vì con người chất phác không thể suy nghĩ bằng
những từ ngữ trừu tượng, mà dễ hiểu những cái gì cụ thể, dễ tuân theo ý
muốn của một quyền uy nào đó hơn là những mệnh lệnh của luật pháp.
Người Ấn lờ mờ nhận thấy rằng ngũ quan của chúng ta chỉ thấy được cái bề
ngoài; sau cái bề ngoài của mọi biến cố, có vô số sinh vật siêu tự nhiên mà
chúng ta chỉ cảm thấy được thôi chứ không trông thấy, như Kant đã nói. Lại
thêm các tu sĩ Bà La Môn đã khoan hoà, chấp nhận mọi thứ thần linh của
mỗi miền, của mỗi bộ lạc, mời lên ngồi chung cái điện như chư thần đông
nghẹt của họ, thành thử một vị thần đã có trước rồi, lại được hoá thân thành
mấy vị thần khác nữa mà cũng được đồng thời thờ với nhau
[19]. Tín ngưỡng
nào cũng được trọng hết, miễn là tín đồ phải cúng tiền cho hàng tư tế [tức
như bọn thầy cúng]. Rốt cuộc, vị thần nào cũng là một thuộc tính, một tượng
trưng hoặc một hậu thân của một vị thần khác, và người Ấn nào biết suy tư
sẽ thấy cả triệu vị thần của họ hỗn hợp với nhau thành một vị thần duy nhất,

Niết Bàn mà thành Phật.
[4] Tử ngữ (sách in sai thành từ ngữ): tác giả ám chỉ tiếng sanscrit.
(Goldfish).
[5] Fergusson bảo: “Tín đồ Phật giáo đã đi trước Giáo hội La Mã… cả năm
thế kỉ trong việc sáng lập và thi hành các cuộc lễ và các nghi thức chung cho
cả hai tôn giáo”. Còn Edmunds thì vạch các chi tiết để làm nổi bật lên những
điểm giống nhau các Thánh kinh Ki Tô giáo và Phật giáo. Tuy nhiên sự hiểu
biết của chúng ta về nguyên thuỷ của các tục lệ và tín ngưỡng đó còn mơ hồ
quá, nên chưa thể kết luận dứt khoát rằng Ki Tô giáo có chịu ảnh hưởng của
Phật giáo không.
[6] Bản tiếng Pháp là: la sagesse a posteriori mà tôi có thể dịch là cái khôn
hậu luận, nghĩa là thấy cổ nhân lầm lẫn rồi, sử gia mới rút ra một kết luận
như tỏ rằng mình khôn hơn cổ nhân. (ND).
[7] Hiện nay ở Ấn chỉ còn khoảng ba triệu người theo đạo Phật, tức chưa
đầy một phần trăm dân chúng.
[8] Thái Lan: nguyên văn tiếng Anh là Siam. Trong cuốn Nguồn gốc văn
minh, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch là Xiêm và ghi thêm trong phần chú thích:
“Tên bây giờ là Thái Lan. Cuốn này viết từ trước thế chiến thứ nhì”.
(Goldfish).
[9] Kandy là kinh đô của Tích Lan, ở trên một cao nguyên. (ND).
[10] Chính ở đền Kandy này, người ta còn giữ cái “răng của mắt” (!) Phật
Tổ dài năm phân, trực kính hai phân rưỡi. Răng đựng trong cái hộp trang sức
bằng nhiều bảo vật, cất kỉ một nơi không cho công chúng thấy; người ta đặt
chiếc hộp trong một cái kiệu khiêng đi trong một cuộc rước long trọng thu
hút không biết bao nhiêu tín đồ hành hương từ khắp nơi ở Á châu tới cung
chiêm. Trên tường của ngôi đền, có những bích hoạ vẽ Phật tử từ bi đang
giết các kẻ phạm tội ở Địa ngục. “Đời sống” của bậc vĩ nhân nào sau khi
chết, cũng bị hậu thế làm sai hẳn đi, mất chân tướng đi một cách nhơ nhớp.
[“Răng của mắt” Phật: nguyên văn tiếng Anh là “eye-tooth of Buddha”, tức
răng nanh của Phật. Theo Tỳ Kheo Indacanda (Trương Đình Dũng) thì đó là



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status