VIÊM GAN B TẠI VIỆT NAM - Pdf 17

VIÊM GAN B TẠI VIỆT NAM

Việt Nam nằm trong vùng dịch tể cao của siêu vi viêm gan B, ước
tính có khoảng 10 triệu người mang HBsAg nên viêm gan siêu vi B là vấn
đề quan trọng của sức khoẻ cộng đồng. Tỷ lệ mang HBsAg cao nhất là lứa
tuổi từ 41-50 chiếm 18,7% trong khi lứa tuổi có tỷ lệ thấp nhất từ 0-10 là
10,7 %. Nhưng tỷ lệ HBeAg(+) /HBsAg(+) của lứa tuổi 0-10 là 91 %. Theo
diễn biến tự nhiên, tỷ lệ mất HBsAg hàng năm là 1-2%, và chuyển đổi huyết
thanh HBeAg chung là 9,6%.
Về lây truyền dọc, nếu thai phụ có HBsAg(+), nguy cơ con bị nhiễm
là 40-50%, còn thai phụ có cả HBsAg(+) và HBeAg(+), nguy cơ con bị
nhiễm là 90%.
Về bệnh lý của gan liên quan với siêu vi viêm gan B, GS Phiệt cho
biết tỷ lệ viêm gan cấp ở bệnh viện có dấu ấn siêu vi viêm gan B là 40-50%,
bệnh xơ gan trên người mang HBsAg(+) là 30-40%. Ung thư gan chiếm
38/100.000 người dân, đứng thứ hai sau ung thư phổi, HBsAg(+) trong ung
thư gan là 80-90%. Ðiều trị viêm gan siêu vi B mạn tính hiện nay tại Việt
Nam còn khó khăn, do vậy vấn đề quan trọng là dự phòng bao gồm chủng
ngừa, giáo dục đại chúng phòng chống lây truyền và sàng lọc siêu vi viêm
gan B trong truyền máu và ghép cơ quan.
Về mặt điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính, GS BS. Hie-Won L.
Hann, Giám đốc Trung tâm Phòng chống bệnh gan bệnh viện Ðại học
Thomas Jefferson, Philadelphia, Hoa Kỳ trình bày.
Trong số các siêu vi viêm gan được biết trên người (siêu vi viêm gan
A, B, C, D và E), thì HBV và siêu vi viêm gan C (HCV) là những siêu vi
quan trọng nhất gây viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan. Trong khi
ung thư gan hiếm gặp tại Hoa Kỳ, thì có lẽ đây là loại ung thư phổ biến nhất
ở châu Á và Tây Phi. Nói chung, 80 đến 85% số trường hợp ung thư gan có
kết hợp căn nguyên với HBV và phần lớn số ung thư gan không có HBV đều
được quy cho HCV.
Số liệu gần đây về ung thư tại California, tiểu bang có dân số người

Vì viêm gan B mạn tính và/hoặc xơ gan hiện diện cùng với hoặc xảy ra
trước ung thư gan trong đa số trường hợp, nên liệu pháp kháng siêu vi hữu
hiệu trong những giai đoạn này có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm phát triển
ung thư gan.
Liệu pháp kháng siêu vi có mục đích chặn đứng sự nhân đôi siêu vi.
Trị liệu thành công đối với nhiễm HBV được định nghĩa là mất HBeAg và
DNA HBV trong huyết thanh (cả hai đều chứng tỏ ức chế sự nhân đôi siêu
vi) đi kèm với bình thường hóa các enzym gan.
Interferon-alpha (IFN-a) đã được dùng trong thập niên vừa qua để
điều trị viêm gan B mạn tính. Kết cục thuận lợi đối với liệu pháp IFN-a khi
kèm theo các yếu tố như mắc bệnh ở tuổi trưởng thành, nồng độ ALT cao từ
đầu, DNA HBV thấp từ đầu, không có xơ gan, và giới nữ. Ða số bệnh nhân
viêm gan B mạn tính, đặc biệt là ở các vùng bệnh lưu hành, không có đủ các
yếu tố đó và kém đáp ứng với IFN-a. Thuốc này đắt tiền và thường kém
được dung nạp, và bị chống chỉ định trên bệnh nhân xơ gan tiến triển, những
người rất cần một điều trị hữu hiệu.
Một vài thuốc kháng siêu vi đầy hứa hẹn đối với HBV đã được phát
triển trong những năm gần đây. Trong số đó, lamivudin là thuốc kháng siêu
vi dùng đường uống có nhiều hứa hẹn nhất. Lamivudin là một chất đồng
đẵng nucleosid (đồng phân đối ảnh (-) của 2?3?-dideoxy-3?-thiacytidin) và
đã được dùng điều trị HBV từ tháng 12/1998 do GlaxoSmithKline nghiên
cứu và phát triển, được lưu hành trên thị trường dưới tên Epivir-HBV tại
Hoa Kỳ và Zeffix tại châu Á.
Lamivudin được triphosphat-hóa trong tế bào và thời gian bán hủy nội
bào của dạng triphosphat từ 17-19 giờ. Lamivudin triphosphat ức chế hoạt
động của DNA polymerase (enzym phiên mã ngược) lệ thuộc RNA của
HBV, làm chấm dứt chuỗi DNA mới tạo thành của HBV. Vì vậy, lamivudin
là chất ức chế mạnh sự nhân đôi HBV. Những thử nghiệm lâm sàng đa trung
tâm giai đoạn III mới đây ở châu Á và Hoa Kỳ cho thấy lamivudin có hiệu
quả cao trong viêm gan B mạn tính, được chứng minh bởi khả năng thải trừ

có xu hướng duy trì một phần đáp ứng vi-rút học và lâm sàng.
Với sự ra đời của lamivudin, cũng như các thuốc kháng siêu vi sắp tới,
việc trị liệu có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân viêm gan B mạn tính. Sự
khả dụng của nhiều phương án trị liệu làm tăng nhu cầu tìm hiểu của thầy
thuốc về cách sử dụng lamivudin và các thuốc kháng siêu vi hiện có được
dùng để điều trị
Các yếu tố nguy cơ ung thư gan trên bệnh nhân nhiễm HBV
Khi theo dõi người mang siêu vi có HBsAg(+) hoặc bệnh nhân, bác sĩ
lâm sàng cần xem xét những yếu tố nguy cơ kết hợp với sự phát triển ung
thư gan sau đây. Các yếu tố nguy cơ đó là xơ gan, nam giới, tuổi >40, gốc
châu Á (nhũng người có nhiều khả năng nhiễm bệnh chu sinh hoặc từ thời
thơ ấu), dự trữ sắt toàn thân cao (được thể hiện bằng nồng độ ferritin ?300
ng/ml kéo dài), viêm gan mạn và nghiện rượu.
Bệnh nhân có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ cần được theo dõi
thường xuyên hơn để phát hiện sớm ung thư gan bằng cách đo AFP mỗi 3-6
tháng và chẩn đoán hình ảnh ổ bụng hàng năm hoặc sớm hơn, tùy theo chi
phí cần dùng và chỉ định khẩn.
Cách dự phòng cơ bản những bệnh kết hợp với HBV, kể cả ung thư
gan, là tiêm chủng đại trà chống HBV. Bằng cách chủng ngừa tất cả những
người chưa nhiễm siêu vi bằng vắc-xin HBV, chúng ta có thể thanh toán
thành công đa số các trường hợp ung thư gan trên thế giới. Tuy vậy, đối với
những người đã nhiễm HBV, lamivudin và các thuốc kháng siêu vi khác là
những tiến bộ có ý nghĩa trong điều trị và có hy vọng ngăn ngừa được ung
thư gan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status