Những gì mắt thường có thể thấy - Pdf 17

Những phát hiện về vạn vật và con người
Những gì mắt thường có thể thấy

Những khả năng của mắt thường để quan sát và tính toán các
thiên thể đã được đẩy tới hết giới hạn của chúng bởi một nhà thiên văn
không biết mệt mỏi người Đan Mạch tên là Tycho Brahe (1546-1601),
sinh ra ba năm sau khi Copernic qua đời.
Những khả năng của mắt thường để quan sát và tính toán các thiên thể
đã được đẩy tới hết giới hạn của chúng bởi một nhà thiên văn không biết mệt
mỏi người Đan Mạch tên là Tycho Brahe (1546-1601), sinh ra ba năm sau
khi Copernic qua đời. Cha ông là một nhà quý tộc giàu có Đan Mạch, luôn
khích lệ ông phát triển những đức tính cao quý của nhà quý tộc và những sở
thích xa hoa của giới quyền quý để có tiếng trong xã hội trí thức châu Âu
thời đó. Tại Đại học Lutheran ở Copenhagen, ông được học đầy đủ bảy môn
của các khoa học nhân văn thời bấy giờ, gồm tam khoa (ngữ pháp, tu từ và
logic) và tứ khoa (hình học, thiên văn, số học và âm nhạc). Tại đây, ông
ngốn ngấu những tác phẩm của Aristote và bắt đầu đi vào hệ thống các thiên
thể của Ptolêmê. Tất nhiên ông cũng học khoa chiêm tinh, là một môn học
kết hợp giữa thiên văn học và y học, rất hữu ích cho các nhà thiên văn trong
đời sống hàng ngày. Sau đó ông đến Leipzig để học luật nhằm hoàn tất nền
học vấn của mình.
Nhưng nền giáo dục sách vở đó đã không bóp nghẹt niềm đam mê
quan sát thiên văn mà ông đã có từ hồi còn rất nhỏ. Đương nhiên quan sát
thiên văn không phải là một môn trong chương trình đại hoc. Khi Tycho
chưa đầy 14 tuổi, ông rất kinh ngạc và thích thú vì được chứng kiến một vụ
nhật thực đã được tiên đoán trước và đã xảy ra vào đúng ngày dự báo. Ông
nghĩ "con người quả là thần thánh khi có thể biết rõ những chuyển động của
các ngôi sao nhờ đó có thể tiên đoán từ lâu vị trí và sự tương quan của
chúng".
Nhưng vì gia đình muốn ông theo học các môn học truyền thống hơn,
nên ông phải theo đuổi niềm đam mê của mình một cách bí mật. Tại Leipzig,

cố gắng này của Tycho vào năm 1564 là "sự phục hưng của thiên văn học".
Con người Tycho quả là một hiện tượng, ông không chỉ là mẫu mực
của nhà quan sát thiên văn học, mà còn là một trong những nhân vật kỳ lạ
nhất của thời đại. Ở tuổi 20, khi còn là sinh viên ở Đại học Rostock, trong
dịp dự một buổi khiêu vũ ở nhà một giáo sư, ông đã cãi lộn với một sinh
viên khác xem ai là nhà toán học giỏi hơn. Cuộc cãi luận được giải quyết
bằng một cuộc thách đấu "hoàn toàn trong bóng tối" vào lúc 7 giờ tối ngày
29 tháng 12, 1566, làm cho Tycho bị mất một miếng mũi. Ông đã sửa cái
mũi của mình bằng cách chế ra một miếng mũi rất khéo bằng vàng và bạc để
đắp vào chỗ bị sứt. Đây chỉ là một trong rất nhiều chuyện lạ thường trong
cuộc đời Tycho.
Những quan sát của Tycho đã đóng góp vào kho tàng sự kiện thiên
văn nhiều hơn bất cứ ai trước ông. Hầu hết những sự kiện này được ông sưu
tập trong thời gian 20 năm sống trên hòn đảo Hven rộng 2000 mẫu mà vua
Frederick II đã tặng ông để làm đài thiên văn của ông. Từ tài sản của riêng
mình, ông đã xây dựng một trung tâm khoa học lớn. Ông gọi trung tâm khoa
học này là Thiên Lâu (Uraniborg), nhưng đúng ra phải gọi là Thiên Đô, vì
nó là cả một Đô thị gồm những nhà nghiên cứu thiên văn đầy nhiệt huyết.
Tycho thực hiện những cuộc quan sát hết sức đều đặn, lặp đi lặp lại,
phối hợp chúng và luôn luôn tính đến phần sai sót do dụng cụ của ông. Kết
quả ông đã giảm mức độ sai sót xuống chỉ còn một phần của phút trong một
cung và đã có được sự chính xác cao nhất từ trước đến giờ.
Với sự giúp đỡ của rất nhiều sinh viên và đồng nghiệp của mình,
trong cuốn Progymnasmata (1602) ông đã liệt kê được vị trí của 777 định
tinh. Để giúp những người khác đánh giá mức chính xác của ông, ông đã
đưa vào trong sách này phần mô tả và những sơ đồ của các phương pháp
quan sát cũng như các dụng cụ của ông. Chẳng bao lâu công trình phong phú
của ông đã thay thế bảng liệt kê cổ điển của Ptolêmê. Cuối cùng ông đã thêm
vào 223 ngôi sao nữa, nâng tổng số lên đúng 1000.
Hệ thống các thiên thể của ông đã chứng minh rằng hệ thống địa tâm

nam nước Đức. Cho tới năm 22 tuổi, Kepler luôn luôn được chuẩn bị để
trở thành một mục sư. Lòng đạo của ông và của gia đình đã luôn luôn
thôi thúc ông nhìn mọi biến cố trong cuộc đời đều là do sự an bài của
Thiên Chúa.
Johannes Kepler (1571-1630) sinh tại Wurttemberg, thuộc miền nam
nước Đức. Cho tới năm 22 tuổi, Kepler luôn luôn được chuẩn bị để trở thành
một mục sư. Lòng đạo của ông và của gia đình đã luôn luôn thôi thúc ông
nhìn mọi biến cố trong cuộc đời đều là do sự an bài của Thiên Chúa. Ông
luôn luôn cảm nếm được hương vị của đời sống thiên quốc và suốt đời ông
hăm hở đi tìm biết ý định của Thiên Chúa.
Giá như gia đình ông giàu có, ông đã có thể trở thành một mục sư,
chứ không phải một nhà thiên văn. Ông say mê thần học và chỉ vì hoàn cảnh
tài chính mà ông phải bỏ ơn gọi mục sư để kiếm sống bằng nghề giáo viên
toán học tại một làng nhỏ miền nam nước áo. Ông bổ sung thu nhập của
mình bằng việc xuất bản những lịch thiên văn dự báo những mùa, số mệnh
của những bậc quân vương, các cuộc nổi dậy của nông dân và những nguy
cơ xâm lăng của người Thổ. Nghề thiên văn luôn luôn là nguồn thu nhập
chính của ông khi mọi nguồn thu nhập khác không còn. Ông nói, làm nghề
bói toán ít ra cũng còn hơn là đi ăn mày.
Năm 1595, ông đã giải thích cho giáo sư Michael Maestlin của đại
học Tubingen, là người đã hướng dẫn ông đến với hệ thống thiên văn của
Copernic, “Tôi đã muốn trở thành một nhà thần học, vì từ lâu tâm hồn tôi
luôn bị giằng co. Nhưng bây giờ, tôi nhận ra là Chúa muốn tôi làm rạng
danh Người qua các cố gắng truy tìm thiên văn của tôi”. Cuốn sách đầu tiên
của ông nhan đề Vũ trụ Mầu Nhiệm (1596) là một sự diễn tả khéo léo tính
chất huyền bí toán học, là khởi điểm cho hoạt động suốt đời của ông. Ông kể
lại rằng, vì ông tin chắc có vẻ đẹp toán học trong những kích thước tương
đối giữa các hành tinh và quỹ đạo của chúng, nên ông lao mình vào cuộc tìm
kiếm.
Hầu như cả mùa hè đã trôi qua với sự tìm kiếm nặng nề nhưng không

Tôi không còn tiếc thời giờ đã mất nữa. Ngày đêm tôi không mỏi mệt trong
việc tính toán, để xem ý tưởng này có phù hợp với những quĩ đạo của
Copernic hay không, hay là niềm vui của tôi sẽ bay đi theo gió. Chỉ trong ít
ngày, mọi cái đã hoạt động tốt và tôi cứ ngồi nhìn từng thiên thể tiếp nối
nhau ăn khớp chính xác vào chỗ của nó trong số các hành tinh.
Trí tưởng tượng hình học của ông đã có tác dụng. Nếu chúng ta kể
đến chuyển động ly tâm của các của hành tinh và bỏ qua một vấn đề nho nhỏ
về sao Kim, thì mọi hành tinh đều ăn khớp với hệ thống của Kepler, với một
sai biệt chỉ chừng 5 phần trăm.
Bất luận chúng ta nghĩ thế nào về “phương pháp” của Kepler, sản
phẩm của ông quả là đầy ấn tượng. Đối với ông, hình như việc ông chuyển
từ lãnh vực thần học sang thiên văn là một hành động chính đáng. Kể cũng
lạ, cuốn sách này do một chàng thanh niên tên Kepler viết lúc 25 tuổi đúng
một nửa thế kỷ sau cuốn De Revolutionibus của Copernic lại là tác phẩm
đầu tiên sau chính bản thân Copernic công khai bảo vệ hệ thống mới.
Trong hệ thống của Copernic, mặt trời được đưa vào trung tâm thay
chỗ cho trái đất, nhưng mặt trời vẫn chỉ thực hiện chức năng quang học là
soi sáng cho toàn thể vũ trụ hành tinh, chứ không tạo ra chuyển động của các
hành tinh đó. Kepler đã tiến một bước khổng lồ khi ông coi mặt trời là một
trung tâm tạo lực. Ông nhận thấy rằng một hành tinh càng xa mặt trời, thì
chu kỳ xoay vòng của nó càng dài. Đối với sự kiện này, các nhà thiên văn
thời trung cổ chỉ cống hiến những giải thích thần bí hay duy linh. Ví dụ, các
triết gia khắc kỷ tin rằng mỗi hành tinh có hồn riêng của mình - là tinh thần
hay trí khôn - để hướng dẫn các chuyển động của nó trong bầu trời. Quan
niệm trổi vượt của thời trung cổ gắn mỗi hành tinh vào một quả cầu trong
suốt cũng tuyên bố rằng những quả cầu này được chuyển động bởi trí khôn
thiên giới.
Khi Kepler tìm cách cắt nghĩa sự giảm tốc của một hành tinh khi nó
chuyển động xa dần mặt trời, lúc đầu ông cũng nghĩ mỗi hành tinh có một
“hồn chuyển động” (anima motrix):


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status