http://www.ykhoanet.com/baigiang/trieuchunghocnoikhoa/chuong06.htm
NHỮNG RỐI LOẠN CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG THẬN – TIẾT
NIỆU
Để hiểu rõ chức năng của hệ thống thận – tiết niệu, cần phải nhắc lại một số
chức phận của thận.
I. NHIỆM VỤ CỦA THẬN
1. Nhiệm vụ thải tiết một số chất trong cơ thể.
1.1. Thải một số chất như:
Urê, creatinin, indol… một số thuốc sau khi vào cơ thể cũng được loại trừ qua
đường thận như sunfamit, penixilin, vitamin B1. khi nhiệm vụ này bị rối loạn, một
số chất đó sẽ bị ứ đọng lại trong máu nhất là urê mà trong lâm sàng thường biểu
hiện dưới hình thái “hội chứng urê máu cao”.
1.2. Thải nước tiết.
Thận tham gia trong quá trình chuyển hoá nước để giữ thăng bằng khối lượng
nước trong cơ thể ở một tỷ lệ nhất định(76% trọng lượng cơ thể). Bài tiết nước
giảm đi sẽ gây phù, một triệu chứng thường gặp của bệnh thận.
1.3. Bằng cách thải tiết các chất điện giải (Na, K, Cl, Ca, Mg…),
Thận tham gia vào quá trình chuyể hoá các chất đó, để giữ chúng ở một tỷ lệ
nhất định ở trong máu. Khi bài tiết các chất điện giải bị rối loạn như Na đào thải ít
đi và gây ứ đọng trong máu và gây phù, K đào thải tăng lên sẽ gây hội chứng
giảm K máu ảnh hưởng tới quá trình chuyển hoá của tế bào
1.4. Nhờ việc thải tiết các chất điện giải,
Thận tham gia vào vai trò điều hoà áp lực thẩm thấu thành mạch, áp lực thẩm
thấu tăng sẽ gây phù.
1.5. Thận còn đóng vai trò giữ thăng bằng axit kiềm trong máu.
Thực hiện các nhiệm vụ trên là nhờ hai quá trình: quá trình lọc của thận và quá
trình tái hấp thu của các ống thận. Quá trình lọc cầu thận là một quá trình có chọn
lọc, cũng như quá trình tái hấp thu của ống thận cũng là một quá trình có chọn
lọc, cho nên bình thường trong nước tiểu không có anbumin, đường… trái lại một
số chất khác lại có nhiều như urê, axit uric…
Khi cầu thận và ống thận bị tổn thương, các nhiệm vụ trên bị rối loạn.
– L
3
, đau một
bên hay cả hai bên. Khi làm việc nặng, mệt nhọc, thay đổi thời tiết thì đau
nhìêu hơn. Triệu chứng này chỉ có tính chất gợi ý mà thôi, không có giá trị đặc
hiệu. Có nhiều nguyên nhân khác cũng gây đau vùng thắt lưng. Triệu chứng đặc
hiệu có giá trị là cơn đau quặn thận.
6.2. Cơn đau quặn thận:
Có là cơn đau bụng cấp tính xảy ra rất đột ngột, sau một cử động mạnh, sau khi
làm việc, bị mệt hau khi đang uống thuốc lợi niệu, nước suối…
6.2.1. Triệu chứng:
- Giai đoạn trước cơn đau: thường xảy ra rất đột ngột, nhưng đôi khi có những
triệu chứng báo hiệu trước như đau ngang vùng thắt lưng, đái khó hoặc đái ra
máu.
- Giai đoạn cơn đau: đau rất giữ dội, đau quằn quại, hướng lan của cơn đau là
lan xuống dưới, xuống bìu hoặc bộ phận sinh dục ngoài. Các loại thuốc giảm
đau thông thường không có tác dụng.
Người bệnh lúc đó vã mồ hôi, mặt tái đi, lo lắng, sợ sệt, sốt, nôn mửa, có cảm
giác buồn đái (ténesme vésicale). Khi khám thấy mạch nhanh, ấn vùng thận phía
sau lưng rất đau, ấn các điểm dau niệu quản phía bụng rất đau.
Cơn đau có thể kéo dài từ 1-2 giờ đến một ngày.
- Giai đoạn sau cơn đau: người bệnh đi đái rất nhìêu hoặc đái khó, có thể kèm
theo đái máu hoặc đái mủ.
6.2.2. Thể lâm sàng:
Trên đây là cơn đau điển hình, nhưng cũng có trường hợp cơn đau quặn thận
mà đau nhẹ thoáng qua, hoặc ngược lại rất đau kéo dài từ 1 ngày đến 2,3 ngày.
6.2.3. Chẩn đoán:
Dựa vào mấy đặc tính sau:
- Cơn đau đột ngột, dữ dội, lan xuống bìu hoặc bộ phận sinh dục ngoài.
- Có đái ra máu, đại thể hoặc vi thể.
Khi chụp thận ngược dòng (UPR) nếu bơm nhanh, mạnh thì cũng gây nên cơn
đau quặn thận nhân tạo.
Đôi khi do các phản xạ thần kinh. Ví dụ nguyên nhân ở bên này nhưng lại gây
đau ở bên kia.
6.2.9. Nguyên nhân:
- Sỏi thận niệu quản: là nguyên nhân thường gặp. Có thể làm tắc ở bể thận hoặc
niệu quản. Những sỏi nhỏ hay gây nên cơn đau thận hơn những sỏi to, vì sỏi nhỏ
dễ di chuyển hơn. Triệu chứng thông thường của sỏi thận là: cơn đau quặn thận
và đái ra máu. Chụp Xquang sẽ thấy hình sỏi.
- Lao thận: đôi khi cũng gây nên cơn đau thận, nhưng ít hơn. Triệu chứng chủ
yếu của lao thận là đái ra máu và viêm bàng quang. Thử nước tiểu có những
thay đổi bất thường, cấy nước tiểu có thể tìm thấy vi khuẩn lao. Chụp Xquang
thận tĩnh mạch, có những thay đổi điển hình.
- Ung thư thận: cũng có thể gây cơn đau quặn thận, nhưng ít hơn. Triệu chứng
chủ yếu của ung thư thận là đái ra máu. Khám thấy thận to, giãn tĩnh mạch bìu.
Chụp Xquang thận, thấy thận to và những thay đổi đặc hiệu ở đài thận.
III. KẾT LUẬN.
Những rối loạn chức năng của hệ thống thận tiết niệu có rất nhiều, cần phải hỏi
bệnh một cách tỷ mỉ mới phát hiện được, đặc biệt phải chú ý tới những rối loạn
của quá trình bài tiết và thải tiết, đến tính chất của nước tiểu (màu sắc, khối
lượng) và đến cơn đau quặn thận. Tổng hợp các triệu chứng đó lại sẽ giúp thầy
thuốc hướng được vào một số hội chứng và một số bệnh.
KHÁM LÂM SÀNG HỆ THỐNG THẬN – TIẾT NIỆU
Khám lâm sàng hệ thống thận tiết niệu gồm có: khám thận, niệu quản, bàng
quang, niệu đạo. Ở đàn ông có thêm tuyến tiền liệt nằm ở vùng cổ bàng quang.
Hệ thống thận tiết niệu không thể tách rời khỏi cơ thể, cho nên khi khám có hệ
thống với hệ thống thận tiết niệu phải thămkhám toàn thân.
I. KHÁM HỆ THỐNG THẬN TIẾT NIỆU.
1. Nhắc lại giải phẫu của hệ thống thận – tiết niệu.
Mỗi người có hai thận nằm hai bên cột sống, trong hố thận, bờ trong là bờ ngoài
nhỏ. Aán nhè nhẹ phía trên: khi khối u to, ở nông.
- Dùng hai tay, một tay luồn xuống phía dưới, vùng hố thắt lưng, một tay đặt trên
bụng phía đối diện, hai tay ép dần sát vào nhau (hình 1).
Trong khi sờ, chú ý cảm giác đau của người bệnh và phản ứng bụng.
- Tìm dấu hiệu chạm thắt lưng (contact lombaire): dùng một bàn tay đặt phía sau
vùng hố thắt lưng, còn bàn tay kia sờ nhẹ và ấn lên khối u. Nếu thận to, sẽ thấy
có cảm giác chắc chắc ở bàn tay. Dấu hiệu này rất quan trọng để chẩn đoán
thận to.
- Tìm dấu hiệu bập bềnh thận: người bệnh nằm ngửa, chân duỗi thẳng, một tay
đặt phía hố thắt lưng, một tay để trên bụng, vùng mạn sườn. Tay trên để yên,
tay dưới dùng ngón tay ấn và hất mạnh lên, rồi làm ngược lại, tay dưới để yên,
dùng đầu ngón tay trên đẩy xuống, làm khi người bệnh bắt đầu thở ra. Cần đẩy
nhanh và hơi mạnh nếu đẩy chậm sẽ không có kết quả. Khi có thận to, tay trên
có cảm giác như có một cục đá chạm vào rồi mất đi.
2.2.2. Tư thế người bệnh nằm nghiêng:
Người bệnh nằm nghiêng, một chân duỗi. Muốn khám thận bên nào thì nằm
nghiêng bên đối diện, thầy thuốc ngồi phía sau lưng. Ví dụ muốn khám thận bên
phải, người bệnh nằm nghiêng về bên trái, thầy thuốc ngồi sau lưng, dùng tay
trái đặt ở hố thắt lưng, tay phải đặt ở phía bụng. Ngón trỏ cách xương sườn thứ
10 khoảng 2 khoát ngón tay. Khi người bệnh hít vào sâu, thận được đẩy xuống,
ta sờ thấy thận.
Người bệnh có thể nằm nghiêng như trên nhưng nằm hơi cong để các cơ được
chùng hơn, kê một gối vào mạn sườn phía trên, thăm khám được dễ hơn.
Phương pháp này rất tốt trong trường hợp thận thay đổi chỗ hoặc khối u thận
quá to.
Trong các phương pháp sờ nắn trên, phương pháp thu bập bềnh thận là
phương pháp tốt nhất dẽ khám thận to vì nó đơn giản và chính xác, khi có dấu
hiệu bập bềnh, thường khối u đó là thận to. Tuy nhiên có trường hợp bập bềnh
thận không có hoặc không chắc chắn, phương pháp nằm nghiêng sẽ bổ sung
thêm.
4.3.4. Thông đái: lấy được nhiều nước tiểu, khối u xẹp ngay. Đó là phương pháp
chắc chắn nhất để phân biệt với các khối u khác.
Nếu nghi sỏi bàng quang, thông bàng quang bằng ống thông kim loại, có thể
thấy tiếng lạch cạch.
4.3.5. Thăm âm đạo trực tràng: cũng thấy u tròn, nhẵn căng. Khác hẳn một số
khối u tiểu khung. Nếu có sỏi to ở bàng quang hoặc sỏi nhỏ ở “ niệu đạo thành”
cũng có thể sờ thấy được.
Thăm trực tràng âm đạo còn giúp cho biết các lỗ rò trực tràng bàng quang âm
đạo.
4.4. Chẩn đoán phân biệt.
Các khối u tiền khung: có thai, u xơ tử cung, u nang buồng trứng,… bằng cách
thăm trực tràng, âm đạo và thông đái.
5. Khám niệu đạo.
Nâng quy đầu lên, lấy tay nặn từ phía trong ra, bình thường không thấ gì chảy ra
cả. Ở phụ nữ, vạch hai môi to và nhỏ, sẽ thấy lỗ niệu đạo nằm ở trên, dưới âm
vật. Ở cả đàn ông lẫn đàn bà, có thể thấy các tổn thương: viêm tấy đỏ lỗ niệu
đạo, loét miệng sào, hoặc có mủ chảy ra. Nếu có mủ, phải lấy mủ để soi và cấy
vi khuẩn.
6. Khám tiền liệt tuyến.
Phải thăm trực tràng mới thấy được. Nếu người bệnh nằm ngửa, ta quay đầu
ngón tay lên phía trên, khoảng 12 giờ nếu người bệnh nằm sấp, chổng mông
quay mặt trước ngón tay phía xuống dưới, khoảng 6 giờ, thì đầu ngón tay sẽ có
cảm giác chạm vào một khối u nhỏ hơi lồi lên trên mặt của trực tràng. Đó là tiền
liệt tuyến.
Bình thường tiền liệt tuyến là một khối u nhỏ, không sờ thấy hoặc chỉ hơi nổi lên,
có hai thuỳ, ở giữa có một rãnh. Vị trí nằm ở vùng cổ bàng quang ôm lấy niệu
đạo màng, ngang dưới khớp vệ. Ở người già tuyến này bị xơ nên có thể hơi
cứng và to hơn một chút so với người trẻ.
Tiền liệt tuyến có thể to lên trong trường hợp:
6.1. Ung thư tiền liệt tuyến: thăm trực tràng thất tiền liệt tuyến to, rất cứng có khi
2. Tim mạch
2.1. Tim: khi urê máu cao, có thễ gây tình trạng viêm cơ tim và màng ngoài tim;
nghe tim sẽ nghe thấy tiếng tim nhỏ, nhanh, có thể có tiếng cọ màng ngoài tim.
2.2. Huyết áp: như ta đã biết, bệnh thận và tăng huyết áp có liên quan khăng
khít với nhau. Trong viêm thận mạn cũng như viêm thận cấp, tăng huyết áp là
một triệu chứng thường có. Trong viêm thận mạn, tăng huyết áp là một trong 4
triệu chứng mà Widal đã nói tới từ lâu. Trong hẹp động mạch thận cũng gây nên
tăng huyết áp tiên phát.
Ngược lại từ lâu ngày cũng sẽ có biến chứng vào thận gây xơ tiểu động mạch
thận. Theo dõi huyết áp còn giúp cho ta tiên lượng tiến triển bệnh tốt hay xấu.
3. Thiếu máu.
Hiện nay người ta cho rằng thận sản xuất yếu tố sinh hồng cầu giúp cho tuỷ
xương hoạt động bình thường. Khi bị suy thận, yếu tố đó giảm bớt đi, đưa đến
thiếu máu. Thường thiếu máu nhẹ, hồng cầu 2.5 đến 3 triệu. Cho nên những
người viêm thận mạn thường có màu da tái tái. Đôi khi có thễ gây thiếu máu
nặng, hồng cầu dưới 2 triệu.
4. Soi đáy mắt.
Những người viêm thận tăng huyết áp, đáy mắt có thể bị tổn thương:
- Phù gai mắt.
- Võng mạc bị chảy máu thành từng chấm nhỏ, từng mảng. Hay gặp nhất là
chảy máu hình ngọn nến, đôi khi chảy máu thành mảng rộng. Nếu điểm vàng bị
chảy máu thì thị lực sẽ giảm.
- Chảy máu võng mạc: võng mạc như một đám mây trên nền đỏ tập trung vùng
gai mắt và điểm vàng.
Người ta cũng cần chú ý đến tình trạng toàn thân gày yếu, mệt mỏi, ăn, uống,
ngủ, tình trạng mạch, nhiệt